*Những đứa trẻ bên xác mẹ
*Cô bé mồ côi và người lính VNCH
Ngọc Lan/Người Việt
WESTMINSTER, California (NV) - Cuối Tháng Ba vừa qua, câu chuyện cảm động về cuộc gặp gỡ lần đầu tiên sau hơn 40 năm giữa cựu Trung Tá Hải Quân Hoa Kỳ Kimberly Mitchell và cựu Thiếu Úy Thủy Quân Lục Chiến VNCH Trần Khắc Báo, người mà theo câu chuyện đã cứu và đặt cho cô cái tên Việt Nam là Trần Thị Ngọc Bích từ năm 1972, gây nên sự xúc động sâu sắc trong lòng mọi người, cả đồng hương Việt Nam lẫn người bản xứ.
Tuy nhiên, cuộc sống vẫn tiếp tục vòng quay không ngừng nghỉ của nó. Những xôn xao về sự hội ngộ kỳ diệu ấy cũng dần lắng xuống.
Cho đến một ngày Tháng Năm, cú điện thoại của một độc giả từ Arizona gọi đến báo tin “Có người ở Wisconsin nói rằng họ có thể biết về gốc gác người thân của cô Trần Thị Ngọc Bích” khiến phóng viên báo Người Việt muốn quay ngược hành trình tìm hiểu thêm về số phận những đứa trẻ mồ côi trong chiến tranh.
Có bao nhiêu đứa bé chưa tròn tuổi phải bò quanh xác mẹ tìm bầu sữa ngọt trên Đại Lộ Kinh Hoàng năm xưa nói riêng, và trong hơn 20 năm nội chiến tại Việt Nam nói chung? Có bao nhiêu đứa bé gặp may mắn như cô bé mồ côi Ngọc Bích-Kimberky? Và còn bao nhiêu đứa bé ngày xưa, nay bước vào tuổi trung niên, đang tự hỏi cha mình là ai, mẹ mình là ai, mình đã bước vào cuộc đời này như thế nào?
Trong quá trình thực hiện phóng sự này, phóng viên báo Người Việt cũng có dịp tìm hiểu lại một cách cặn kẽ hơn, tường tận hơn, câu chuyện của cô bé mồ côi vài tháng tuổi được người lính VNCH cứu sống trong Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 tại Quảng Trị, qua việc tiếp xúc, phỏng vấn tất cả những người có liên quan, từ nữ tu Mary Trần Thị Hưởng ở cô nhi viện Thánh Tâm-Đà Nẵng, đến cựu Thiếu Úy TQLC Trần Khắc Báo ở Albuquerque, New Mexico, và cựu Trung Tá Hải Quân Kimberly Mitchell hiện ở Washington DC.
Đây là điều mà chưa có bất kỳ báo đài Việt Ngữ cũng như truyền thông dòng chính nào thực hiện.
Và quan trọng hơn nữa, cũng chính từ những cuộc nói chuyện này, lại hé mở thêm nhiều điều rất đáng suy nghĩ về những cuộc trùng phùng sau chiến tranh.
* Những đứa trẻ bên xác mẹ
“Tôi thấy em cục cựa trong tấm áo của mẹ”
Theo thông tin của độc giả Nguyễn Thị Hữu Trường từ Arizona gọi đến, phóng viên liên lạc với bà Hồng ở tiểu bang Wisconsin, “người có thể biết về gốc gác người thân của cô trung tá Trần Thị Ngọc Bích.”
“Tình cờ tôi nghe người bạn ở cùng khu nhà kể về cuộc gặp gỡ giữa ông Báo và cô Trần Thị Ngọc Bích. Tôi thấy sao giống như câu chuyện xảy ra trong gia đình bà con tôi ở Quảng Trị quá!” Bà Hồng cho biết.
Từ số điện thoại bà Hồng cung cấp, phóng viên có cuộc nói chuyện với ông Đoàn Minh Hóa, hiện đang sống tại Bà Rịa-Vũng Tàu, chứng nhân của một thảm kịch gia đình xảy ra ngay trên Đại Lộ Kinh Hoàng. Năm đó, ông Hóa được 12 tuổi.
 |
| Anh em ông Đoàn Minh Hóa (giữa), Đoàn Minh Long (trái) và Đoàn Thị Tuyền - những người cho rằng có đặt đứa em vài tháng tuổi nằm bên xác mẹ trong ngày 1 Tháng Năm, 1972 tại Đại Lộ Kinh Hoàng, Quảng Trị. (Hình: Gia đình cung cấp) |
Bằng giọng nói của người “miền ngoài” đậm chất địa phương và rất khó nghe đối với người Nam, người đàn ông có tên Đoàn Minh Hóa, kể: “Sáng ngày 17 Tháng Ba, 1972 Âm Lịch (tức ngày 30 Tháng Tư, 1972-NV) mẹ tôi và chúng tôi từ dưới quê làng Đầu Kênh, xã Triệu Long, quận Triệu Phong, chạy lên thị xã Quảng Trị và ngủ lại ở trường Nguyễn Hoàng một đêm.
Sáng hôm sau, 18 Tháng Ba, 1972 (tức ngày 1 tháng 5, 1972-NV), từ trường Nguyễn Hoàng, mẹ dẫn mấy anh em tôi chạy tiếp khoảng vài cây số thì gặp đoàn xe GMC. Mấy người lính biểu lên xe mà chạy. Gia đình tôi leo lên xe để được đưa đi.”
Theo lời ông Hóa, mẹ ông, tên là Nguyễn Thị Quyên, ngồi trên xe, tay bồng người em gái út của ông, tên Đoàn Thị Tuyến, “sinh vào khoảng cuối Tháng Mười Âm Lịch năm 1971 (tức khoảng Tháng Mười Hai, 1971-NV).”
“Khi đoàn xe chạy qua khỏi Cầu Dài, còn gọi là Cầu 4 Thước, thì bị trận pháo chận đầu, đoàn xe không thể di chuyển tiếp. Tất cả mọi người, kể cả dân chạy nạn lẫn tài xế hay lính trên xe, đều nhảy xuống chạy tán loạn.” Ông Hóa nhớ lại.
Theo trí nhớ của cậu bé 12 tuổi vào thời điểm đó, thì “chị họ của tôi nhảy xuống trước, mẹ đưa em út tôi cho chị bồng để mẹ leo xuống. Chị bế em qua lề đường. Mẹ cùng mấy anh em tôi xuống xe, cũng qua lề đường nơi chị họ đang đứng.”
Tuy nhiên, khi mẹ ông Hóa “quay sang kêu mệ Trung cùng xóm là 'Mệ ơi! Xuống chạy, xuống chạy!'" thì một quả pháo rơi thẳng xuống ngay gần mẹ ông.
“Mẹ tôi trúng mảnh pháo rớt xuống chết ngay lập tức. Đứa em trai tôi tên Đoàn Minh Giản, 6 tuổi, bị mảnh pháo trúng ngay trán cũng gục xuống bên mẹ. Một đứa em gái tên Đoàn Thị Đơn, 8 tuổi, thì bị một mảnh pháo đâm vào vai bị thương.”
Câu chuyện của ông Hóa vẫn tiếp tục sau nhiều lần bị ngắt quãng để giải thích kỹ hơn những điều phóng viên nghe không rõ do giọng nói của người Quảng Trị.
“Đứa em trên tay chị họ bị ngất đi do tiếng nổ quá lớn nhưng tôi thấy nó không có bị chảy máu gì hết. Mệ Trung ngỡ em tôi đã chết nên kêu chị họ ‘để nó xuống nằm gần bên mẹ nó đi mà chạy.’ Chị họ khi đó cũng hoảng loạn. Chị đặt em tôi nằm cạnh xác mẹ và choàng cái áo len của mẹ lên cho nó, rồi chị chạy, bỏ lại anh em tôi. Chúng tôi lạc nhau từ đó.”
Tiếng người đàn ông gốc Quảng Trị vẫn đều đều.
“Lúc đó pháo nổ tới dồn dập. Tôi cũng hoảng loạn khi thấy mẹ chết, em thì bị thương, mọi người đều bỏ chạy, không ai biết ai. Theo tiếng la của mệ Trung ‘chạy đi chạy đi,’ tôi vừa chạy vừa khóc trong khi trên lưng tôi cõng đứa em gái tên Đoàn Thị Tuyền, 3 tuổi, một tay tôi dắt đứa em trai tên Đoàn Minh Long, 10 tuổi, tay còn lại dắt đứa em gái đang bị thương ở vai trái là Đoàn Thị Đơn, 8 tuổi.
“Chạy được một đoạn, tôi ngoái lưng nhìn xác mẹ tôi và thấy em tôi cựa quậy đạp cái áo len. Lúc đó pháo nổ đến liên tục, trời đất tối đen, bà mệ trong xóm lại kéo anh em tôi chạy. Tôi chỉ mới 12 tuổi khi đó, cũng hoảng loạn không biết gì hết.”
Trong dòng hồi ức của ông Đoàn Minh Hóa, thì “sau khi chạy qua khỏi vùng Đại Lộ Kinh Hoàng, mọi người được đưa xuống đò qua cầu Mỹ Chánh, rồi có các xe GMC chở vào Huế. Chúng tôi cũng lạc luôn mệ Trung. Những ngày sau đó, tôi phải lang thang xin cơm cho ba đứa em tôi ăn. Vài ngày sau khi vào vùng an toàn, ba tôi theo đơn vị, tìm thấy anh em tôi. Lúc đó, ông mới biết là mẹ và em tôi mất, chúng tôi chỉ biết ôm chặt lấy bố và khóc òa.”
Ba của ông Hóa, tên Đoàn Minh Quý, trung sĩ thuộc tiểu đoàn 105, địa phương quân, tiểu khu Quảng Trị, đang ở trong đơn vị tại đồn Cửa Việt khi thảm kịch trên xảy ra.
Ông Hóa nói chắc nịch, “Bởi vì sự kiện đó quá khủng khiếp nên đến giờ nó vẫn in sâu trong đầu tôi không quên chút nào hết.”
Nhớ lại câu chuyện cũ, người đàn ông đang sống cùng vợ con tại nông trường Xà Ban, huyện Châu Đức, Vũng Tàu, cho rằng, “Nếu có phép lạ nào, có người nào trên Đại Lộ Kinh Hoàng đó mà mang em tôi chạy thì chắc em tôi giờ này vẫn còn sống, nhưng không biết sống chỗ nào.”
“
Em họ tôi cũng mất tích trên Đại Lộ Kinh Hoàng”
Một gia đình khác ở Quảng Trị, sau khi đọc được câu chuyện của ông Trần Khắc Báo và cô Kimberly Mitchell từ các trang mạng trong và ngoài nước, đã tìm cách liên lạc với cựu trung tá hải quân này bởi vì họ cho rằng “cô Kimberly có thể là con cháu trong gia đình chúng tôi.”
Người đàn ông có tên Phan Hữu Thức, sinh năm 1979, hiện là thầy giáo tại một trường trung học ở Triệu Sơn, Quảng Trị, kể với phóng viên qua điện thoại câu chuyện mất mát của gia đình anh cũng vào Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.
Cũng bằng giọng nói của người Quảng Trị, ông Thức bắt đầu câu chuyện, “Vào năm 1972, ngày 16 Tháng Ba Âm Lịch, tôi chỉ biết ngày âm lịch còn ngày dương lịch là ngày mấy thì không nhớ, trong một chuyến xe chạy giặc từ thị xã Quảng Trị vào Thừa Thiên Huế, có người mẹ tên là Trần Thị Lâm bồng theo đứa con gái khoảng 4 tháng tuổi, tên là Lê Thị Liên.”
Ông Thức gọi ông Lê Quang Chi, chồng của bà Lâm, bằng cậu ruột.
 |
| Ông Lê Quang Chung, người cho biết mình có đứa cháu nội vài tháng tuổi cũng mất tích trên Đại Lộ Kinh Hoàng vào Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 ở Quảng Trị. (Hình: Gia đình cung cấp) |
Theo lời ông Thức kể, khi đến đoạn Cầu Dài ở Hải Lăng thì “chiếc xe bị một loạt trái pháo bắn trúng.”
Lúc đó, mẹ chồng, em chồng của bà Lâm “đi cùng trên xe đều hoảng và chạy tán loạn. Sau đó thì nghe tin báo rằng bà Lâm bị trúng đạn chết, còn đứa con gái tên Liên không biết sống chết thế nào.”
Năm 1975, ông Lê Quang Chi, chồng bà Lâm cũng qua đời.
“Theo niềm tin vào tâm linh thì người ta bảo rằng trong gia đình này có một đứa con còn sống nhưng hiện nay không biết ở đâu. Muốn biết cũng không biết đâu mà tìm, vì khi thất lạc trên đoạn đường di tản đó em bé mới 4 tháng tuổi.” Ông Thức giải thích.
Cũng trong tâm tư của những người mang hoài nỗi băn khoăn về việc mất người thân, ông Phan Hữu Thức vẫn hy vọng có một phép lạ nào đó để ông biết về tin tức của người chị cô cậu của mình.
Còn bao nhiêu gia đình nữa cũng ở vào hoàn cảnh như gia đình ông Đoàn Minh Hóa, gia đình ông Phan Hữu Thức, vẫn cứ day dứt một câu hỏi liệu em gái mình, chị họ mình có còn sống sót trong thảm cảnh chiến tranh đó không? Nếu còn, hiện giờ họ lưu lạc nơi nào?
Gần bốn thập niên chiến tranh qua đi, những nỗi đau mất mát vì cuộc chiến dường như vẫn còn âm ỉ đâu đó trong tiềm thức nhiều người, chỉ chờ có dịp nó lại bùng lên.
Dẫu vậy, bên cạnh những đau thương thời loạn, cũng có những điều đẹp đẽ, nhân bản nhất được viết lên từ trong khói lửa.
Câu chuyện nhận lấy và đặt tên cho một đứa bé mồ côi ngay trong thời điểm dầu sôi lửa bỏng giữa chiều Hè Đỏ Lửa 1972 của cựu Thiếu Úy Thủy Quân Lục Chiến VNCH Trần Khắc Báo, hay câu chuyện về sự thành đạt của đứa bé Việt Nam mồ côi Kimberly Mitchell, chính là một trong những câu chuyện cổ tích lãng mạn đó.
*Đứa trẻ mồ côi bên xác mẹ và người lính VNCH
Hành trình về quê hương sau 15 năm suy nghĩ
Kimberly Mitchell là tên mà vợ chồng ông James L. Mitchell, một trung sĩ kỹ thuật viên Không Quân Hoa Kỳ, đặt cho đứa con gái nuôi xin từ cô nhi viện Thánh Tâm-Đà Nẵng vào năm 1972 và mang về Mỹ chăm sóc từ thời gian ấy.
Ông Mitchell qua đời năm 1991 do bị sét đánh trúng khi đang làm việc tại nông trại của mình ở miền Bắc tiểu bang Wisconsin, nơi Kimberly lớn lên.
Năm 1996, sau khi tốt nghiệp cử nhân hải dương học, Kimberly bắt đầu nghĩ đến một chuyến trở về Việt Nam, nơi cha nuôi cô từng nói rằng đó là “cội nguồn” của cô.
 |
| Cựu Trung Tá Hải Quân Kimberly Mitchell bên những hình ảnh ngày xưa và tên cô được chụp lại từ quyển sổ danh bạ ở cô nhi viện Thánh Tâm-Đà Nẵng trong lần về thăm Việt Nam hồi Tháng Tám, 2011. (Hình: Chụp lại từ webside RFA) |