Kỳ trước: Hơn 3 năm và sau 6 lần thay thế Tiểu đoàn trưởng, đơn vị vẫn chưa thoát khỏi cái cốt của một đơn vị Dân sự Chiến Đấu. Chính vị Tiểu Đoàn Trưởng Vương Mộng Long đã thay da đổi thịt nó trở thành một Tiểu đoàn lừng lẫy nhất của QLVNCH.
Vương Mộng Long huấn luyện đơn vị
Chính vì có những buổi thực tập dã ngoại thường xuyên này mà những đơn vị dưới quyền tôi hiếm có cảnh “nằm úp mặt xuống đất, chổng mông lên trời, siết ngón tay trỏ, đạn vút lên mây” khi trực diện với địch quân.
Người ta nói “văn ôn võ luyện” cũng đúng!
Công tác chấn chỉnh và cải tổ đơn vị của tôi chưa hoàn tất thì Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản đã ra tay trước.
Giữa tháng Tư năm 1974,một trận đánh đẫm máu và ác liệt đã xảy ra ở Căn cứ Hỏa Lực 711 khiến đài BBC mô tả trong một bài tường thuật: “Ðây là trận đánh mà tổn thất của đôi bên được coi là cao nhất kể từ sau Hiệp Ðịnh Paris”
Thế rồi chiến tranh tiếp tục leo thang, Hiệp định Paris không còn hiệu lực, Việt Cộng công khai tấn công lấn chiếm, mở rộng vùng kiểm soát. Tháng 5 năm 1974 chúng ngang nhiên đánh chiếm Dak Pek và Mang Buk giữa ban ngày, mặc dù hai địa danh này hiện diện rành rành trên bản đồ đình chiến là của Việt-Nam Cộng-Hòa, vậy mà Ủy-Hội Quốc-Tế cũng chỉ trơ mắt ngó mà thôi. Hiển nhiên mục tiêu sắp tới của Cộng Quân chắc chắn sẽ là Pleime!
o O o
Từ ngày tiếp nhận Căn cứ Pleime, tôi đã bỏ ra rất nhiều công sức để tổ chức nội vi căn cứ này thành một cứ điểm phòng thủ vững chắc.
Trên mặt đất của trại Pleime đúng là một “Trận Ðồ” chằng chịt hàng rào kẽm gai và giao thông hào. Hai cái cổng Bắc và Nam lại là nơi rào kỹ nhất. Từ dốc vườn rau, vào tới trung tâm hành quân xa không tới hai trăm thước, vậy mà muốn đi qua đoạn đường này cũng mất cả chục phút loanh quanh trong hàng rào gai dích dắc.
Trại Pleime có 6 cạnh, 6 góc, mỗi góc có một pháo đài kiên cố xây bằng xi măng cốt sắt. Tôi đặt tên cho các pháo đài theo thứ tự 1 tới 6, theo chiều quay của kim đồng hồ. Hướng Ðông là các pháo đài 1, 2, 3, hướng Tây là các pháo đài 4, 5, 6.
Sau khi tôi dựng thêm hai lô cốt phụ nơi cổng Bắc và cổng Nam thì vòng đai trong của trại này có 8 pháo đài kiên cố.
Bình thường các quân nhân trong đồn chỉ cần nói họ đang ở gần pháo đài số mấy, người nghe sẽ biết vị trí hiện tại của anh ta ngay.
Các đại đội cũng được phân chia khu vực trách nhiệm cố định, họ sẽ quen với cảnh vật hàng ngày trước mắt họ, nếu có gì khác lạ, họ sẽ nhận ra ngay.
Tôi tiên đoán mặt Tây sẽ là hướng tấn công chính của địch, do đó tôi cho dựng một cái hầm chỉ huy ngay giữa sân cờ. Từ đây, tôi có thể theo giao thông hào mà di chuyển tới các Pháo đài 1 (Ðông Bắc), Pháo đài 6 (Tây Bắc), Pháo đài 5 (Tây), và Pháo đài 4 (Tây Nam). Ông tiểu đoàn phó giữ Pháo đài số 2, còn Pháo đài số 3 nằm ngay sát trung đội pháo binh nên Trung úy Nguyễn Như, Trung đội trưởng pháo binh biên phòng, sẽ kiêm nhiệm chỉ huy cứ điểm này. Trong hầm chỉ huy dã chiến có ban Truyền Tin của Trung úy Nguyễn Công Minh và Binh nhì Y Don Nier, người mang máy nội bộ của tiểu đoàn trưởng.
Tôi và Thiếu úy Trần Văn Phước, sĩ quan Ban 2 ở chung một hầm, cách hầm chỉ huy vài mét về hướng hàng rào.
Vây quanh căn hầm của tôi là ba cụm tam tam của ba toán viễn thám, mỗi toán trang bị hai thùng lựu đạn M26 và một đại liên M60.
Những ngày tình hình căng thẳng nhứt thì mặt đất chứa đầy mìn Claymore phòng khi bị địch tràn ngập.
Suốt thời gian xảy ra chiến dịch Pleime 1974, tôi đã phải đích thân chỉ huy, điều khiển các điểm tác chiến, từng lô cốt, từng pháo đài, từng khẩu đội, vì nếu xảy ra một hoạt động không ăn khớp có thể sẽ đưa tới thảm họa.
Chỉ cần mở được một cửa khẩu, Ðặc-Công Việt-Cộng có thể đánh thẳng vào trung thâm. Nếu Việt-Cộng vào được trung thâm, triển khai được giai đoạn “Hoa nở trong lòng địch” là ta mất đồn! (Trung thâm: Danh từ của Ðặc-Công Việt-Cộng dùng để chỉ nơi đặt chỉ huy sở hay vị trí đầu não của ta)- (Hoa nở trong lòng địch: Từ trong đánh ra theo nhiều hướng. Ðây là giai đoạn cuối cùng trong một trận đánh Ðặc-Công của Việt-Cộng)
Tôi làm việc bằng điện thoại, khẩu lệnh, thủ lệnh và máy truyền tin nội bộ. Vì thế mà nhiều khi, liên đoàn muốn ra lệnh cho tôi, họ phải gọi qua trung tâm hành quân của trại, từ đây sĩ quan Ban 3 của tôi sẽ chuyển lại cho tôi.
Trung tâm hành quân tiểu đoàn vì có cái anten cao do Mỹ để lại nên trở thành nơi độc nhứt có thể liên lạc vô tuyến với Căn cứ 711 và đài tiếp vận Hàm Rồng.
Trung tâm hành quân là một lô cốt kiên cố, xây bằng xi măng, cốt sắt, thêm hai tầng nóc lợp bằng bao cát và vỉ sắt tổ ong chống đạn nổ chậm. Ngồi trong hầm, đôi khi không nghe được tiếng đạn cối nổ ở ngoài sân cờ.
Sát cạnh trung tâm hành quân là một hầm lộ thiên hình tròn xây bằng bao cát, trong vòng tròn là mũi tên lửa chỉ điểm mục tiêu.
Mũi tên lửa này được đốt bằng dầu Diesel thắp sáng suốt đêm, nó có thể quay 360 độ một cách dễ dàng, đầu nhọn của nó luôn luôn quay về hướng địch.
Nếu không có nhu cầu tác xạ, thì trước khi rời vùng, để giải tỏa bom đạn, máy bay Hỏa Long hay Gunship cứ việc phóng hỏa tiễn hay bắn phá cách xa Pleime 3 cây số theo hướng mũi tên.
Tiểu đội Lao Công Chiến Trường đã hoàn thành những công trình này dưới sự chỉ huy của Thiếu úy Huỳnh Kim Hoàng đại đội trưởng đại đội chỉ huy.
Tiểu đoàn 82 có một tiểu đội Lao Công Chiến Trường. Họ là những cựu quân nhân can tội khác nhau nên bị đày ra tiền tuyến làm những công việc hiểm nguy và cực nhọc.
Tôi đặc biệt lưu ý tới những người này, bố trí cho họ vào từng vị trí thích hợp với khả năng của mỗi người. Dưới bàn tay tôi, những tội nhân đó đã trở về với vị trí chuyên môn của họ, họ trở thành xạ thủ đại liên, xạ thủ cối 81 ly, trinh sát viên, tiểu đội trưởng, toán trưởng toán thám sát, hoặc chuyên viên sửa chữa vũ khí.
Ðể tất cả binh sĩ chú tâm vào công tác tổ chức phòng thủ, tôi ra lệnh cho tất cả thân nhân gia đình binh sĩ phải rời Pleime theo chuyến tiếp tế thường kỳ ngay sau ngày phát lương cuối tháng 6 năm 1974. Ở Pleiku tôi vừa tiếp nhận doanh trại của Ðại đội 2 Quân Y Biệt Ðộng Quân, doanh trại này rất đầy đủ tiện nghi, nên những anh em có gia đình không phải lo lắng chuyện nơi ăn chốn ở của vợ con họ.
Tôi là dân Tình Báo Tác Chiến, nên ngày nào tôi cũng duyệt các bản tin A2 mà Ban Truyền Tin của đơn vị trình lên.
Tôi lấy làm lạ là ngày nào cũng vậy, cứ mình vừa gửi công điện báo cáo vị trí đêm của các cánh quân về Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2 thì chỉ hai giờ sau bản tin A2 đã thông báo rằng Việt-Cộng vừa gửi cho nhau toàn bộ vị trí đóng quân của quân bạn, chính xác tới độ y như nguyên văn!
Tôi nghĩ rằng ở bộ chỉ huy có nội tuyến, hoặc là đặc lệnh truyền tin của bộ chỉ huy đã bị tiết lộ nên mới có tình trạng này.
Ðể phòng thân, tôi nghĩ ra một bản mã riêng, rồi photocopy ra 2 bản, ban truyền tin của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân giữ một bản, bản kia tôi đem về trao tận tay cho Ðại tá Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2.
Mỗi đêm tiểu đoàn tôi gửi về Pleiku bản tin đóng quân dưới bộ mã mới. Vì thế, từ ấy, chỉ có một mình tiểu đoàn tôi là không bị địch phát giác vị trí đêm và các vị trí dã ngoại.
Gần nửa thế kỷ sau ngày đó, chú Hoạ Mi 82 tức Trung úy Nguyễn Công Minh, trưởng ban truyền tin của đơn vị tôi vẫn chưa quên chuyện cái đặc lệnh truyền tin ngoại lệ này.
Và 40 năm sau chiến tranh, nhân một lần trò chuyện bằng điện thoại, cựu Chuẩn tướng Phạm Duy Tất đã hỏi tôi,
– Ngày đó Long có nghi thằng đại đội trưởng đại đội truyền tin của mình là Việt-Cộng không?
Tôi nói,
– Ðúng là chuyện trời sập! Thuở ấy ai mà dám nghi cho nó! Nó là dân gốc Lực Lượng Ðặc Biệt! Nó lại là đồ đệ ruột của Trường An! Trường An tin tưởng nó còn hơn ai hết. Sau này có lệnh của trung ương bắt các sĩ quan không tác chiến phải ra đơn vị hành quân, ít ra là sáu tháng, Trường An đưa nó đi tiểu đoàn nào vậy?
“Trường An” là biệt danh của Ðại tá (sau là Chuẩn tướng) Phạm Duy Tất. Ông Tất cười hì hì,
– Thì anh ta vẫn còn ở bộ chỉ huy chứ có đi đâu đâu! Ngày Pleiku di tản không rõ anh ta núp chỗ nào? Mãi về sau mới nghe đồn rằng anh ta là nội tuyến!
Tôi chợt nhớ ra, có một hôm anh đại úy này gặp tôi trong sân bộ chỉ huy, anh ta năn nỉ tôi ghi tên cho anh ta giữ chức đại đội trưởng một đại đội của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, nhưng chỉ trên giấy tờ thôi, còn bản thân thì anh ta vẫn làm việc ở Pleiku. Chỉ khi nào có thanh tra của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân Trung Ương hay Bộ Tổng Tham Mưu thì anh ta sẽ có mặt ở đơn vị.
Tôi không đồng ý giúp anh ta diễn cái trò ma mãnh này nhằm hợp thức hóa tình trạng chỉ huy tác chiến của anh ta; tôi khuyên anh ta hãy đi tìm người khác mà nhờ vả.
Thật là hú hồn! Nếu ngày đó anh ta không đòi hỏi được ở Pleiku mà vui vẻ tình nguyện vào chỉ huy đại đội thì có khi tôi đã mất đồn vào tay anh ta rồi!
Ai mà ngờ? Cả năm trước ngày Pleiku di tản, người cung cấp những đặc lệnh truyền tin và mật mã hàng tháng của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2 cho địch lại là ông đại úy đại đội trưởng Ðại đội Truyền Tin Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2!
Vào những năm sau Hòa Ðàm Paris, Việt-Cộng đã đẩy mạnh công tác xâm nhập từ chiến lược tới chiến thuật.
Ở cấp trung ương, đã có những gián điệp cấp cao của địch nằm trong Tổng Thống Phủ, trong Bộ Tổng Tham Mưu.
Vì thế ở Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2 Pleiku có một tên nội tuyến cấp đại úy thì cũng không phải là chuyện lạ.
Thời gian này Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân nằm dưới quyền giám sát hành quân của Sư Ðoàn 22 Bộ Binh.
Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Sư Ðoàn 22 đồn trú trong Căn Cứ Bình Tây 3 ở Hàm Rồng. Căn cứ Bình Tây 3 vốn dĩ là Camp Enari cũ, nơi từng là bản doanh của Sư Ðoàn 4 Hoa Kỳ.
Hầu như cứ cách hai, hoặc ba ngày, Chuẩn tướng Phan Ðình Niệm, Tư Lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh lại ghé Pleime thăm đơn vị tôi. Ông tướng này đã chịu khó bỏ ra hàng giờ để tỉ mỉ quan sát công việc thiết trí công sự phòng thủ, và điều quân trinh sát của tôi trong thời gian chuẩn bị cho một trận chiến chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai. Ông lấy làm lạ là tại sao giao thông hào của tôi lại đào sâu gần hai thước, cao quá một đầu, một với của người thường? Tại sao dưới giao thông hào tôi lại cho moi rất nhiều hàm ếch? Tại sao mặt đất lại rào thép gai chằng chịt khiến cho việc di chuyển từ lô cốt này, tới lô cốt kia cứ phải đi dích dắc tới chóng mặt?
Tôi đã phải từ tốn giải thích với ông Tướng rằng:
“Thưa Chuẩn tướng, sở dĩ giao thông hào phải đào sâu là để sự di chuyển được an toàn khi giao tranh. Hào sâu thì người ngồi trong hào khi bị pháo kích nghe tiếng nổ của đạn sẽ thấy nhỏ hơn, sẽ bớt sợ hãi hơn. Hàm ếch giúp cho lính an toàn vì có che chở. Nếu rủi có quả đạn delay (nổ chậm) rơi trúng hầm thì chỉ chết một người, không chết chùm như trường hợp tác chiến lộ thiên. Còn hệ thống kẽm gai chằng chịt là để chống Ðặc Công, lệnh của tôi là ban đêm nếu có tiếng súng nổ thì ai ở yên vị trí đó, người nào đi trên mặt đất sẽ bị bắn chết. Thói thường thì Ðặc Công sau khi xâm nhập sẽ chạy vòng vòng khắp nơi, ném bộc phá vào các lô cốt và nhà cửa. Gặp thứ hàng rào chóng mặt của tôi thì Ðặc Công chỉ có nước khóc ròng, làm sao mà chạy vòng vòng để ném bộc phá được nữa!”
Tướng Tư Lệnh nghe xong thì thấm ý, gật gù.
Thời gian này Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân được tăng cường thêm một tiểu đoàn của Trung Ðoàn 42 Bộ Binh để đảm trách nhiệm vụ phòng thủ vùng. Tiểu đoàn bộ binh này do Ðại úy Nguyễn Hữu Chấn chỉ huy, Ðại úy Chấn xuất thân khóa 21 Võ Bị, là khóa đàn em của tôi.
Tôi và Chấn cùng xuất thân từ Ðại Ðội B Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ-Bị Quốc-Gia Việt-Nam. Tôi là một trong những đàn anh Khóa 20 đã huấn luyện chú Chấn, vì thế anh em tôi rất thân thiết, thương yêu nhau.
Tôi giao cho chú Chấn giữ an ninh vùng Bắc Pleime, còn tôi chịu trách nhiệm vùng Tây và Nam của căn cứ này.
Người chỉ huy trực tiếp của tôi và chú Chấn là Ðại tá Nguyễn Hữu Thông, Trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 42 Bộ Binh, Ðại tá Thông xuất thân từ Khóa 16 Võ Bị.
Mỗi lần vào thăm Pleime bằng đường bộ, niên trưởng Thông đều than phiền,
– Chu choa! Ði qua cái hàng rào “Bát Quái Trận Ðồ” của Long anh cứ chóng mặt muốn té!
Thấy thế tôi không khỏi bật cười,
– Ngày nào tôi cũng đi ra, đi vào cái trận đồ này mà vẫn còn bị chóng mặt, huống hồ gì niên trưởng là người lâu lâu mới tới thăm Pleime một lần.
o O o
Tri kỷ tri bỉ
(biết ta, biết địch)
Thế rồi, vào một ngày cuối tháng 6 năm 1974, toàn bộ Trung Ðoàn 42 Bộ Binh đột nhiên rút khỏi vùng Bắc Pleime, thay thế là Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân và Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân trú đóng tại Căn cứ Hỏa lực 711.
Thời gian này nếu tính cả hai khẩu 155 ly đặt trong chi khu Phú Nhơn, thì khả năng yểm trợ của Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân chỉ mạnh bằng một nửa, so với hỏa lực cơ hữu của một trung đoàn bộ binh.
Ðây cũng là thời gian tôi bận rộn suốt ngày. Cả tháng trời tôi không dám bỏ đồn về Pleiku thăm hậu cứ lần nào.
Về phần an ninh khu vực trách nhiệm, lúc nào tôi cũng phải cảnh giác đề phòng một cuộc tấn công với quy mô lớn của đối phương có thể xảy ra bất thình lình.
Ðối diện với Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi là cả một sư đoàn bộ binh, một sư đoàn vận tải, một trung đoàn pháo, và một tiểu đoàn xe tank của địch.
Lực lượng hùng hậu và đáng sợ này của Cộng Quân ngang nhiên trú đóng trong vùng núi Chư Prong và thung lũng Ia Drang, chỉ cách Pleime hơn mười cây số đường chim bay.
Tôi ước tính, chỉ cần chưa tới hai giờ đồng hồ vận chuyển bộ, Cộng Quân đã có thể cắt đứt Tỉnh lộ 6C và bắt đầu vây hãm Pleime rồi.
Nếu so sánh tương quan lực lượng khi phải giao tranh thì Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân sẽ phải đương cự với một địch thủ có quân số đông hơn mình cả chục lần về nhân lực, chưa kể tới cơ giới và pháo binh.
Nhiều đêm, với điếu thuốc Lucky trên môi, một mình ngồi hàng giờ trên nóc lô cốt, tôi tự hỏi:
“Nếu địch tấn công Pleime thì mình sẽ đối phó cách nào đây?”
Sau nhiều đêm vắt óc suy nghĩ và cân nhắc, tôi mới tìm ra giải đáp:
“Muốn sống còn, tôi phải tránh bị đánh úp bất ngờ, phải biết khi nào địch bắt đầu triển khai chiến dịch để xin thượng cấp dự trù quân tăng viện. Phải cố gắng giữ đồn và trì hoãn chiến để chờ viện binh”.
Kỳ trước: Các trung đoàn của Sư Đoàn 320A Việt cộng đang dồn toàn lực để san bằng căn cứ Pleime. Các đợt tiền pháo hậu xung tới tấp của địch không làm hao mòn ý chí chiến đấu của người lính TĐ 82 BĐQ, những tay súng đã chấp nhận cái chết.
Trung Đoàn 45 của Sư Đoàn 23 Bộ binh VNCH đang trên đường cứu viện.
Ðể đánh lừa địch, tôi cho đặt một quả mìn chống chiến xa dưới một cục đá mỏng, trên cục đá là một lưỡi xẻng rỉ sét. Máy rà mìn sẽ reo lên khi rà sát mặt đất có lưỡi xẻng và quả mìn. Ðịch thấy cái lưỡi xẻng nhưng không ngờ dưới đó có một cục đá đè trên quả mìn! Chúng sẽ ơ hờ bỏ qua, rồi tiếp tục đi tới, lại thấy một mảnh kim loại đè trên cục đá, chúng không nghĩ dưới cục đá còn có quả mìn…
Tôi leo lên chòi canh, mắt tôi nhìn không chớp: Một cột khói đen kịt cuồn cuộn dâng lên, cùng lúc những tiếng “Bùng! Bùng! Lách! Cách!…” do đạn cháy nổ trong chiếc xe tank mới cán mìn!
Tôi đứng lặng người lo lắng:
“Vậy là K16 Tank tham chiến! Chắc phen này mình tiêu tùng rồi!”
K16 Tank là tiểu đoàn xe tank T54 trực thuộc Trung Ðoàn E 40 Pháo của Mặt Trận B3.
Trung Ðoàn E 40 Pháo là đơn vị yểm trợ hỏa lực trực tiếp của địch trong các chiến dịch lớn trên toàn lãnh thổ Vùng 2. Thời gian này Trung Ðoàn E 40 Pháo đang trú quân trong thung lũng Ia Drang. Nếu Tiểu Ðoàn K16 Tank này nhập trận thì chúng tôi nguy to.
Tôi có hai Box 1×1 kilomet dự trù sẵn sàng cho pháo binh chiến lược 175 ly đánh bất cứ lúc nào. Hỏa tập thứ nhất nằm cách chân tiền đồn Bắc, hai cây số, phủ trùm cả cái cống mà chiếc tank địch bị vướng mìn hồi chiều. Hỏa tập thứ nhì nằm trên con đường xe be hướng Tây. Nay là lúc tôi dùng tới hai hỏa tập dự trù này.
Lần đầu được nghe đại bác 175 ly yểm trợ, tôi có cảm tưởng như thời kỳ tháng 8 năm 1972, đứng trong giao thông hào ở trại Ðức Cơ chứng kiến pháo đài bay B 52 của Mỹ đánh những Box 1×3 kilomet cách rào trại chỉ hơn ba cây số.
Hai bên cổng Bắc đã có mười mấy cây M72 hờm sẵn; nòng súng đã được kéo thành ống phóng, bấm nút là đạn bay đi.
Khẩu 105 ly cổng Bắc không dùng để bắn những mũi tên sắt nữa, mà thay vào là những viên đạn chống tank với đầu nổ sơn đen.
Tôi có một khẩu súng SKZ 57 ly chống chiến xa, nhưng từ ngày đầu chiến dịch, khẩu súng này đã gãy nòng vì bị pháo kích.
Khuya 29 tháng 8 tôi ra mật lệnh cho một toán viễn thám sẵn sàng ở cổng Nam Pleime. Nếu chiến xa Việt-Cộng đè sập hết hàng rào, vào càn quét trên căn cứ thì toán sẽ mở toang cổng sau, quân ta sẽ vừa đánh vừa lui ra hướng sân bay.
Riêng tôi, chú Minh và chú Phước sẽ cố thủ trong lô cốt chứa thương binh.
Minh và Phước đã hứa sẽ cùng tôi chết bên nhau trên đất Pleime, sẽ không chạy, sẽ không đầu hàng.
Tôi lo lắng từng giờ, chờ những chiếc tank T54 xuất hiện nơi cổng Bắc.
Ðịa thế của Trại Pleime đóng một vai trò rất quan trọng trong công việc phòng thủ.
Doanh trại của đơn vị trú phòng nằm gọn lỏn trong vị thế lõm của cái lòng chảo giữa ngọn đồi có cao độ 403 mét. Các pháo đài chỉ cao hơn mặt đất chừng hai gang tay, thấp hơn chiều cao của cỏ tranh, do đó Việt-Cộng không phân biệt được đâu là pháo đài, đâu là tường đất để dùng đại bác mà trực xạ.
Hai mặt Nam và Ðông của Trại Pleime chưa hứng chịu lần tấn công nào, có lẽ do địa thế không thuận lợi. Mặt Ðông thì đất dốc đứng, không thể xung phong nhanh được, còn mặt Nam lại quá trống trải, bộ binh và tank rất dễ bị bắn hạ trước khi áp sát hàng rào phòng thủ.
Nếu tank địch mà tiến vào từ hướng Nam thì họ sẽ chết chắc! Sân bay Pleime chứa hàng trăm quả mìn, bộ binh dò đường vừa ló dạng đã chết bởi đạn Beehive của Trung úy Như. Tôi còn cầu trời xui khiến cho chúng đưa tank vào hướng Nam để tôi tiễn đưa chúng về trình diện Diêm Vương.
Ðêm xuống, trong máy truyền tin của tôi có tiếng người Miền Bắc chỉ vỏn vẹn một câu chứa đầy sự đe dọa:
“Thằng cứng đầu! Tao sẽ san bằng cái đồn của mày!”
Tôi đã nhận ra giọng nói quen của người phía bên kia, nên từ tốn trả lời,
– Tôi nghĩ rằng, người cầm quân tất nhiên phải cân nhắc thiệt, hơn. Chắc anh đã biết, muốn giết bốn trăm người dưới quyền tôi thì ít ra anh cũng phải chết một hai nghìn người! Lùa hai nghìn người vào chỗ chết để đánh đổi một cái đồn bé tí teo có phải là hành động khôn ngoan không? Chúng ta có ân oán với nhau, nhưng không thể vì thế mà coi rẻ hàng nghìn sinh mạng của những người dưới quyền mình.
Chờ khoảng năm phút sau không thấy người kia nói gì thêm, tôi bèn cúp máy.
Bốn tháng trước tôi và người này đã chửi nhau một lần vào ngày 14 tháng Tư năm 1974. Ngày đó ở Căn cứ 711, Trung Ðoàn 64/320A của ông ta bị tôi đánh tan hoang, còn tôi cũng bị cháy 12 chiếc chiến xa. Tới tối thì ông ta vào máy kêu gọi tôi đầu hàng.
Tôi lớn tiếng réo tổ tiên, ông nội, bà ngoại ông ta ra mà chửi.
Rồi tôi thách thức ông ta có giỏi thì cứ xông lên, lên bao nhiêu người tôi sẽ giết chết bấy nhiêu!
Thế là ông ta dốc toàn lực thành phần còn lại của sư đoàn dưới tay ông để đánh tôi. Ðêm 14 rạng 15 tháng 4 ông ta nướng hết Tiểu Ðoàn D20 Trinh sát; sáng hôm sau ông ta điều động toàn bộ Trung Ðoàn 48/320A vào trận.
Tới khi Trung Ðoàn 48/320A dùng tới thủ pháo chứa hơi độc hóa học thì tôi bị thua. Căn cứ 711 bị tràn ngập.
Quân của ông ta đã ôm vật tôi xuống đất định bắt sống thì bị Thiếu úy Trần Văn Phước bắn loạn cào cào, mấy tên bu quanh tôi đều trúng đạn.
Sau đó Trung úy Nguyễn Công Minh kịp thời tiếp cứu, rồi ba thầy trò tôi chạy bán mạng, thoát chết.
Sau trận đó Ðại tá Tất khuyên tôi nếu phải đánh nhau với ông ta lần nữa thì chịu khó nói năng dịu dàng hơn, đừng chọc giận ông ta nữa, ông ta mạnh hơn mình nhiều, tránh voi chẳng xấu mặt nào!
Ông ta là Ðại tá Kim Tuấn, Tư Lệnh Sư Ðoàn 320A Cộng Sản.
Mấy năm sau, khi đang bị giam giữ trong trại tù cải tạo Nam-Hà A ở ngoài Bắc, tôi nghe tin Thiếu tướng Kim Tuấn Tư lệnh Quân Ðoàn 3 của Cộng-Sản đã tử trận trên chiến trường Campuchia.
Chạm trán lần này tôi đã có kinh nghiệm, nên theo cách Ðại tá Tất mách nước, tôi dùng giọng điệu ôn hòa để đáp lại lời hăm dọa của ông ta.
Không biết qua lần đối thoại vừa qua, thái độ của tôi có ảnh hưởng gì tới quyết định rút quân của Ðại tá Kim Tuấn hay không?
Cũng có thể vì quả mìn chống chiến xa của tôi đã làm sập cái cống bắc ngang con suối khiến cho chiếc T54 mở đường cắm đầu xuống nước, nên những chiếc tank khác không tiến được.
Mặt khác, không loại trừ lý do mà Ðại tá Kim Tuấn ngừng tiến công Pleime chỉ vì ông ta e sợ bị sập bẫy của Tướng Nguyễn Văn Toàn. Ông Toàn đang có trong tay một thiết đoàn kỵ binh và một trung đoàn bộ chiến chưa sứt mẻ, dư sức chặn đường lui, và tiêu diệt gọn cái Tiểu Ðoàn K16 Tank của Bắc quân nếu họ bị lún càng vào một trận đánh xáp lá cà với những người tử thủ Pleime.
M48 Marines Vietnam
Hai ngày kế tiếp chúng tôi không thấy pháo cối, và không còn đợt xung phong nào nữa.
Ðêm 31 tháng 8 tôi cho hai toán trinh sát đi vòng quanh rào trại do thám tình hình, một toán xuất phát từ cổng Nam kiểm soát hướng Tây rồi về cổng Bắc. Một toán đi từ cổng Bắc vòng về hướng Ðông rồi vào cổng Nam.
Hai toán thám thính vòng đai về báo cáo rằng địch đã rút đi rồi!
Toán trinh sát hướng Ðông báo cáo rằng nơi bờ đất dốc đứng cách hàng rào ngoài chừng hai trăm thước là hàng trăm hầm hàm ếch của địch. Có lẽ đây là nơi trú ẩn của Trung Ðoàn 48/320A?
Trong thời gian một tháng qua, tôi chỉ dùng pháo 106 ly và 81 ly đánh sát hàng rào hướng Tây, chưa từng có viên đạn cối hạng nặng nào rơi sát rào Ðông. Ðạn cối 60 ly của tôi không có đầu nổ xuyên phá (delay) nên những lần đánh cận phòng hướng Ðông của tôi chẳng khác gì bắn “gãi ngứa” cho địch quân trên mục tiêu này.
Tối 1 tháng 9 tôi ra lệnh cho Chuẩn úy Bảo và Thượng sĩ Sơn dẫn đầu một trung đội của Ðại đội 1/82 leo lên Chư Gô tái chiếm cao điểm 509. Trung đội này tới mục tiêu thì địch đã rút đi rồi.
Cùng giờ, một trung đội của Ðại Ðội 4/82 do Chuẩn úy Nguyễn Hữu Phước và Thượng sĩ Phong cũng lên đường nhắm hướng Chư Hô. Trên Chư Hô, đơn vị phòng không của địch đã di chuyển, còn lại cỡ một tiểu đội đoạn hậu.
Gần 10 giờ đêm trung đội của Chuẩn úy Phước chạm trán với tiểu đội Việt-Cộng này. Hai bên bắn nhau chừng mười phút thì địch bỏ chạy xuống núi. Lá quốc kỳ Việt-Nam Cộng-Hòa được kéo lên ngọn cột cao giữa đỉnh Chư Hô vào đúng KHÔNG (0) giờ ngày 2 tháng 9 năm 1974.
Từ đỉnh núi Chuẩn úy Nguyễn Hữu Phước gọi cho tôi rồi báo cáo,
– Trình Thái Sơn, vùng hướng Tây dưới chân núi Chư Hô, xe của địch đang chạy thành đoàn, đèn chiếu sáng choang.
Thì ra, cơ giới địch đang rút đi!
Mấy ngày sau tôi đem theo Ðại đội 4/82 và một toán cận vệ vào thám sát khu vực mà chú Phước nói có đèn xe của Việt-Cộng thì phát giác ra nơi ấy là một vị trí đóng quân của cơ giới địch. Tiếc rằng thời gian qua, quân ta quá chú ý tới mặt trận hướng Bắc nên không có cuộc không tập nào trên mục tiêu lộ thiên này.
Vùng này nằm cách Pleime gần 5 cây số về hướng Tây Nam. Chắc chắn trận địa này đã được thiết trí sau ngày tiền đồn Chư Hô của ta rút chạy.
Thoạt nhìn ta có cảm tưởng như đang đứng trước vị trí trú quân dã ngoại của một đơn vị của Hoa-Kỳ thời 1968-1970.
Trên diện tích cỡ một sân bóng tròn, xe ủi đất đã tạo thành những ụ đất dành cho loại súng có bánh xe, có lẽ là phòng không 37 ly hoặc 100 ly. Những chùm đạn 37 ly và 100 ly mà Việt-Cộng bắn lên trời để thị uy trong thời gian vừa qua có thể đã xuất phát từ đây.
Mặt đất in đầy vết xích dấu chữ “V” chứng tỏ rằng bãi đậu xe này đã là nơi tập trung của một đơn vị chiến xa Việt-Cộng.
Nhìn dấu tích địch còn để lại, tôi nghĩ người chỉ huy Bắc Quân đã lên phương án sử dụng Tiểu Ðoàn K16 Tank T54 vào một trận đánh một mất, một còn với chúng tôi.
Nhưng có lẽ họ đã ước tính được sự tổn hại to lớn nếu thi hành phương án này, nên đã rút lui.
Chắc chắn họ đã thấy, với một mặt trận có chiều ngang chưa đầy hai trăm mét, làm sao đủ rộng để cho một tiểu đoàn cơ giới T54 tận dụng hỏa lực, hàng ngang tiến lên?
Ðó là chưa kể đến những trái mìn chống chiến xa nằm lền khên trong rừng trên cái dốc cổng Bắc, và dày đặc trên sân bay cổng Nam.
Tôi đã chuẩn bị sẵn, mỗi người thủ một trái lựu đạn M26 là phương tiện cuối cùng để tự đưa mình sang thế giới bên kia.
Tôi tin chắc rằng nếu phải chết, anh lính mù trong bệnh xá cũng rủ được vài cán binh Bắc Việt chết theo chứ đừng nói chi tới những chiến binh còn lành lặn.
Chỉ vì, “Một thằng liều mạng bằng mười thằng sợ chết!” nếu phải đánh nhau trận cuối, chúng tôi bị bắt buộc trở thành “những thằng liều mạng” chúng tôi bị đưa vào thế cùng chết với quân thù, thì dù cho đánh nhau với hai chục chiếc T54 của Mặt trận B3 hay hai trăm chiếc T54 chúng tôi cũng coi như pha!
Người chỉ huy Bắc Quân đã không đánh trận cuối cùng thì coi như chiến dịch Pleime 1974 chấm dứt.
Trong chiến dịch này, ban tham mưu của Sư Ðoàn 320A Bắc-Việt đã đánh giá sai khả năng chiến đấu của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân. Chắc họ tưởng đánh Pleime cũng dễ như chiếm Lệ Minh, nên cứ tiền pháo hậu xung, rồi lừng lững vác cờ tiến vào đồn? Không ngờ họ đã đối diện một cổng đồn đóng kín và những hàng kẽm gai dày đặc, để rồi vừa hô được hai tiếng “Xung phong!” tiền quân của họ đã chết như rạ vì những quả đạn Beehive.
Ðánh nhau kỳ này các đơn vị tiến công của địch đã bị dụ vào một cái bẫy, họ cứ tưởng lầm Pleime chỉ có 6 lớp hàng rào, như trên cái sơ đồ phòng thủ mà họ tịch thu được 4 tháng về trước, cứ cho Bangalore đánh thủng kẽm gai mở đường rồi chạy ào lên là có thể chiếm lĩnh mục tiêu, nhưng thực tế Pleime đã có tới 12 lớp rào, giữa hai hệ thống hàng rào lại là một vạt đất rộng hai chục thước đầy mìn bẫy!
Trận Pleime năm 1974 là một cuộc đấu trí và đọ sức trường kỳ không cân sức.
Nhưng với tinh thần chiến đấu quyết tử vì dân, vì nước của toàn thể chiến sĩ trong đơn vị, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã chiến thắng.
Khoảng 9 giờ sáng ngày 2 tháng 9 có một ông tiểu đoàn trưởng của Trung Ðoàn 45 Bộ Binh vào tần số chúc mừng tôi đã bình yên. Tiểu đoàn của ông ta và một chi đoàn của Thiết Ðoàn 8 Kỵ Binh đã tiến tới cách Pleime một cây số nhưng không chạm địch.
Ông ta dẫn theo một tiểu đội theo Tỉnh lộ 6C đi bộ vào thăm tôi.
Sau khi cho tháo gỡ ngòi nổ những quả mìn trên đường, tôi ra cổng Bắc bắt tay cám ơn người bạn đã vào cứu mình.
Ông này là một Ðại úy người Bắc, vì thời gian qua lâu quá rồi, nên tôi chỉ nhớ mang máng tên ông ta là Hiền hay Hiển gì đó. Tôi không biết sau này qua bao biến cố, ông bạn ấy có còn sống hay không?
Trưa 2 tháng 9 năm 1974 chiếc trực thăng đầu tiên đáp xuống Pleime mang theo Trung tá Hoàng Kim Thanh Liên Ðoàn Phó Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân, anh Thanh không quên đem theo một két bia cổ cao và một cây nước đá để tưởng thưởng cho tôi.
Sau đó là một hợp đoàn của Phi Ðoàn 229 mang thực phẩm tiếp tế và vài chục tân binh bổ sung. Hợp đoàn trực thăng này cũng chuyển đi hết số thương binh còn tồn đọng.
Ngày 3 tháng 9 hai vị Ðại tá Biệt Ðộng Quân xuống thăm chúng tôi cùng một phái đoàn chuyên viên tiếp liệu tới kiểm tra thiệt hại vật chất của đơn vị tham chiến.
Tôi chưa cho gỡ những lớp rào dích dắc, nên đoàn người dài ngoằng phải nối đuôi rồng rắn theo nhau từ sân bay vào trại. Ðại tá Từ Vấn đi trước, Ðại tá Phạm Duy Tất đi kế, tôi là người thứ ba.
Không có phóng viên nhật báo nào được tháp tùng phái đoàn của Ðại tá Tất, nhưng có những bức ảnh ghi cảnh hoang tàn đổ nát của Pleime 1974 đã xuất hiện trên báo Sài-Gòn. Một nhân vật nào đó trong toán chuyên viên thanh tra tiếp liệu đã lén chụp và trao cho báo chí những bức hình này.
Ðứng bên khẩu súng đại bác đã xẹp bánh ở cổng Bắc, Ðại tá Vấn cho tôi hay ý định của ông,
– Kỳ này ưu tiên cho thằng Tám Mốt (Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân) đi hấp ở Dục Mỹ. Còn Tám Hai (Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân) có Thiếu tá Long là chuyên viên huấn luyện tại chỗ thì không cần phải gửi đi Dục Mỹ nữa!
Tôi không có ý kiến gì khi nghe ông liên đoàn trưởng quyết định đưa một đơn vị đánh nhau chưa đầy một ngày đi tái huấn luyện, thay vì cho đơn vị đánh nhau 33 đêm ngày đi Dục Mỹ bồi dưỡng ít lâu.
Kỳ trước: Cuối cùng thì đơn vị tiếp viện đã tới, ông Tiểu đoàn trưởng của Trung Đoàn 45 BB đã vào đến cổng trại để bắt tay với Thiếu Tá Vương Mộng Long, trong khi đó toàn bộ các đơn vị bộ binh, xe tăng, phòng không của địch đã rút sạch sau hơn một tháng ê càng mà không gặm nổi trại Pleime.
Nói đúng hơn, họ không thắng nổi ý chí của những người lính VNCH bằng lòng chiến đấu cho đến chết.
Tôi làm như quay mặt nhìn hướng khác khi thấy ông Ðại tá Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2 cầm cái can chỉ huy gõ nhè nhẹ vài cái lên nón sắt của Ðại tá Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân, ra dấu cho ông Ðại tá Liên Ðoàn Trưởng đừng phát ngôn lung tung nữa.
Ngày 14 tháng 9 một đoàn xe chuyển vận Tiểu Ðoàn 90 của Liên Ðoàn 25 Biệt Ðộng Quân vào trại thay thế cho chúng tôi để trấn giữ trại Pleime.
Toàn bộ quân nhân còn sống sót của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân thở dài nhẹ nhõm. Ðoàn xe lăn bánh vượt con dốc vườn rau của trại, để lại sau lưng chúng tôi cái địa ngục trần gian của hơn một tháng trời, ngày đêm đội mưa, đội pháo, ghìm súng chống quân thù.
Theo như ghi chép trên Nhật Ký Hành Quân của Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân thì trong thời gian bao vây Pleime, Cộng Quân đã triển khai 20 đợt tấn công biển người nhắm vào hệ thống phòng ngự của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân.
Nhưng theo tổng kết của Trung úy Trần Dân Chủ sĩ quan Ban 3 của đơn vị tôi thì địch đã mở ra gần 30 đợt xung phong trong thời gian vây hãm này.
Chúng tôi vẫy tay giã từ nơi đây mà không biết đó cũng là lần ra đi vĩnh biệt.
Có một xe GMC được trưng dụng chở chiến lợi phẩm. Ðáng lý ra còn nhiều súng ống của địch nằm trong hàng rào, nhưng tôi không cho người bò vào bãi mìn để lấy thêm, vì đã có hai Biệt Ðộng Quân chết oan khi vướng mìn và lựu đạn trong lúc chui vào rào thu nhặt chiến lợi phẩm.
Chúng tôi được lệnh trú quân trong một khu rừng thưa cách ngã ba Quốc lộ 14 nửa cây số để tắm giặt, thay quân phục, chờ hôm sau sẽ về Pleiku làm lễ khao quân.
Sáng 15 tháng 9 khi tôi kéo quân lội bộ ra tới Quốc lộ 14 thì đã có gần hai chục chiếc GMC mười bánh đậu nối đuôi nhau chờ sẵn.
Sau khi trình diện, ông Ðại úy chỉ huy đoàn quân xa, siết chặt tay tôi,
– Kỳ này các ông mà không giữ được Pleime thì chắc Pleiku bị di tản rồi!
Nghe vậy, tôi vội ngắt lời ông ta,
– Có gì đâu! Nhiệm vụ của Biệt Ðộng Quân mà!
Ông Ðại úy cười hóm hỉnh,
– Tôi ở Pleiku từ thời Trung tướng Vĩnh Lộc, tôi biết Thiếu tá từ khi ông còn là một thiếu úy, mỗi khi hành quân về ông đều ghé Quán Kim Liên!
Nghe vậy tôi cười lớn,
– Mình là dân Pleiku, phải bảo vệ Pleiku cũng là lẽ đương nhiên thôi!
Chiếc xe Jeep của tôi vừa leo dốc qua cầu Hội Thương Hội Phú thì đã thấy dân chúng hai bên đường vẫy tay reo hò, “Hoan hô! Hoan hô! Hoan hô!…”
Dân chúng đứng chật ních hai bên đường từ dốc Diệp Kính tới Hội Quán Phượng Hoàng cao tay phất những lá cờ nho nhỏ bằng giấy nền vàng ba sọc đỏ. Trong khi đó thì những cái loa trên một chiếc xe của Ty Thông Tin Pleiku chạy vòng vòng phát đi những điệu hát quân hành, “Kìa đoàn quân chiến thắng trở về dưới nắng hồng….”
Quân nhân của tiểu đoàn tôi phải xuống xe nơi đầu dốc Diệp Kính, Hoàng Diệu rồi đi bộ hàng một tiến về sân vận động.
Ði đầu đoàn quân, ngợp trong rừng cờ và biển ngữ, tôi tưởng mình bị hoa mắt trông lầm khi thấy trên hai cái băng vải trắng treo trên hàng rào nhà thờ và căng ngang đường phố trước tư dinh của Tướng Tư Lệnh Quân Ðoàn II có hàng chữ viết bằng sơn đỏ:
“Toàn dân Pleiku ghi ơn Thiếu tá Vương Mộng Long và các chiến sĩ của Tiểu đoàn 82 Biệt động quân”
Nơi sân vận động Pleiku này, tôi đã từng có vài lần đứng chung hàng ngũ những quân nhân được tiếp đón sau hành quân để nhận huy chương. Tôi chưa thấy có lần nào người chỉ huy đơn vị được nêu đích danh tên họ để “Ghi ơn”.
Ðây cũng là lần đầu tiên trong lịch sử thành phố, một đơn vị nhỏ, cấp tiểu đoàn vinh dự được dân chúng đón tiếp trọng thể như thế. Ngày hôm đó toàn dân thành phố đã đình công, bãi thị. Các trường học thì đóng cửa để ăn mừng chiến thắng.
Dọc đường, người dân tươi cười hớn hở ào ra dúi cho các anh lính chiến những bao thuốc lá. Thuốc lá mà đồng bào đem ra cho các anh lính có khi hút cả tháng sau mà chưa hết! Ngực ông lính nào cũng căng phồng vì áo lót chứa toàn là thuốc lá!
Trong số đàn bà con nít đứng chờ đoàn chiến binh đang từ dưới dốc Diệp Kính đi lên có nhiều người là vợ con lính của tiểu đoàn. Tôi không nỡ ngăn cản những bé con đang hớn hở, tíu tít vui mừng chạy ra giữa đường níu chân bố chúng nó:
“Ba ơi! Ba ơi! Ba về rồi! Con nhớ Ba lắm! Ba ơi!”
Cũng có những đôi mắt đỏ hoe, những giòng lệ tuôn, cùng tiếng khóc nấc trong đám đông, khi ai đó vừa hay tin chồng con của họ sẽ không về.
Vào tới sân vận động tôi thấy ở đây quả là một rừng người.
Trên sân, sau hàng quân của tôi là đội ngũ thầy giáo và học trò, kế đó là đội ngũ dân chúng. Hội đoàn dân chính do ông Ngô Xuân Thu và bà Hồ Thị Thơm đại diện.
Tôi đứng một mình trước đoàn quân đội ngũ chỉnh tề.
Anh em còn lại của đơn vị đứng xếp hàng thành một khối 20 hàng dọc và khoảng trên 20 hàng ngang.
Trên khán đài là hai vị đại tá, Ðại tá Nguyễn Ðức Dung Tỉnh Trưởng Pleiku, ngồi bên là Ðại tá Phạm Duy Tất Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2, cùng nhiều thân hào nhân sĩ của Pleiku.
Dàn nhạc của Quân Ðoàn II bắt đầu bản nhạc “Bài ca chiến thắng” cùng lúc các nữ sinh đại diện các trường trung học tiến lên, trên tay mỗi cô là một vòng hoa tươi nhiều màu sặc sỡ.
Kể cả tôi, có 21 người đại diện đơn vị được choàng hoa.
Cô nữ sinh dẫn đầu đoàn người đẹp đi qua trước mặt tôi sẽ là người choàng hoa cho anh lính thứ 21. Người đi sau cùng mới là người sẽ đứng lại trước mặt tôi.
Trong số nữ sinh đi trong đoàn người ủy lạo đơn vị tôi hôm đó có một người tôi quen, cô ấy là người yêu của cố Thiếu úy Biệt Ðộng Quân Ðinh Quang Biện.Thiếu úy Biện là người anh lớn nhứt của vợ tôi. Anh Biện đã tử nạn năm 1971.
Ði ngang qua mặt tôi, cô ấy nói,
– Cám ơn Tiểu Ðoàn 82! Cám ơn anh Long! Chị Long và mấy cháu có khỏe không?
Tôi mỉm cười,
– Cám ơn chị, gia đình tôi vẫn bình an.
Thế rồi mấy phút kế đó, sau lưng tôi, cô nữ sinh này đã bật khóc giữa hàng quân, ngay khi vừa choàng xong vòng hoa cho một sĩ quan. Có lẽ người con gái Pleiku ấy vừa nhớ đến hình bóng một người lính Biệt Ðộng Quân đã đi qua đời mình.
Tình đầu không thể ví như một giọt sương đọng trên cánh hoa sớm mai, nắng lên thì hạt sương bay. Tình đầu là những gì chứa đầy chua xót, đắng cay, ngọt ngào, nếu đã đánh mất nó rồi, thì sẽ không bao giờ tìm lại được. Nó cứ mãi sống trong tim người. Vì thế mà một thi sĩ thời tiền chiến đã viết:
“Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy. Nghìn năm hồ dễ mấy ai quên?” (Thơ Thế Lữ)
Hôm đó người lính nào đứng trong hàng ngũ Tiểu Ðoàn 82 cũng được các em học sinh và đồng bào trao cho một gói quà, kể cả các anh vừa mới được bổ sung quân số mười ngày trước đây.
Cái hình Thiếu tá Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân được cô hoa khôi trung học choàng vòng hoa chiến thắng đã chiếm hết một trang đầu của Nhật Báo Tiền Tuyến phát hành vài ngày sau đó.
Ðại tá Nguyễn Ðức Dung Tỉnh Trưởng Pleiku mở đầu buổi lễ bằng một bài diễn văn dài. Ông Tỉnh Trưởng không tiếc lời ca tụng chiến công mà chúng tôi vừa lập được.
Kế tiếp là một bài phát biểu dài thật là hùng hồn và sống động của ông Ngô Xuân Thu, Dân Biểu đơn vị Pleiku.
Ông Ngô Xuân Thu cho chúng tôi những lời khen khiến chúng tôi cảm thấy mình đang bay lên tới tận mây xanh.
Cứ sau vài câu ca tụng “những chàng trai Việt kiêu hùng” ông dân biểu lại lớn tiếng hô to “Hoan hô!” thấy thế dân chúng trong sân cũng lớn tiếng “Hoan hô!” theo.
Ngay sau khi Dân Biểu Ngô Xuân Thu dứt lời thì cả sân vận động bỗng trở thành một cái chợ với những tiếng gọi nhau “Ơi ới!” của các bà, các cô tranh nhau đem quà phân phát cho chiến sĩ. Phái đoàn ủy lạo của bà Hồ Thị Thơm và các bà trong đội ngũ phụ nữ đã chuẩn bị sẵn 500 ổ bánh mì thịt và hai con heo sống thật bự dành cho những đứa con vừa trở về từ chiến trường.
Con rể của bà Thơm cũng là một Trung sĩ Biệt Ðộng Quân, nhưng anh Trung sĩ Ðốc làm việc ở văn phòng, nên không có mặt trong hàng quân đang đứng trên sân.
Cuối cùng tôi bị gọi tên lên bục phát biểu cảm tưởng.
Vì không được thông báo trước chuyện này, nên đứng trước máy vi âm tôi không có tờ giấy đánh máy sẵn như ông Ngô Xuân Thu, tôi cứ nghĩ gì thì nói vậy.
Khi tôi dứt câu,
“Thưa đồng bào Pleiku! Chúng tôi là những đứa con của đồng bào! Chúng tôi sẵn sàng hy sinh thân xác mình để canh từng thước đất, giữ từng đoạn giao thông hào chống quân xâm lăng, cũng chỉ vì sự an nguy của đồng bào! Hôm nay những đứa con của đồng bào đã bình an trở về rồi! Ðồng bào có thể yên tâm, không còn lo sợ nữa!”
thì trong đám dân chúng đứng bên trái khán đài có nhiều tiếng khóc sụt sùi.
Mấy chục năm sau, tôi không quên hình ảnh những cụ già vừa lau nước mắt vừa nghẹn ngào,
– Các con vất vả quá! Thương các con quá, các con ơi!
Những phóng viên nhà báo Việt-Nam và ngoại quốc tranh nhau chụp hình quay phim.
Có một phóng viên người Mỹ hỏi tôi,
– Xin anh cho biết vì sao trong tình trạng thiếu thốn và tuyệt vọng như thế mà các anh vẫn kiên trì chiến đấu rồi chiến thắng?
Tôi cười, đáp gọn,
– Chúng tôi chiến đấu tới cùng là vì an nguy của đất nước Việt-Nam!
Người quay phim của Tiểu Ðoàn 20 Chiến Tranh Chính Trị cũng phỏng vấn tôi một câu tương tự,
– Ðộng cơ nào thúc đẩy Thiếu tá đã liều mình tử thủ Pleime?
Tôi cũng cười,
– Vì đồng bào Pleiku, và vì đồng bào cả nước!
Các ký giả săn tin còn tìm thêm được vài Biệt Ðộng Quân khác để phỏng vấn, trong số những người hùng được lên màn ảnh truyền hình kỳ này có Trung úy Nguyễn Công Minh, Thiếu úy Phạm Văn Thủy, Chuẩn úy Nguyễn Hữu Phước và Trung sĩ viễn thám Nguyễn Chi.
Chiều 15 tháng 9 trên 400 quân nhân của tiểu đoàn được chia thành từng tốp từ 5 tới 8 người để dự tiệc do các cửa tiệm tư nhân, hay hội đoàn tiếp đón.
Tôi cùng Thiếu úy Trần Văn Phước và toán Viễn Thám của Mom Sol được “Nghiệp Ðoàn Tài Xế xe Lamb” và “Hội xưởng cưa” tiếp đãi. Bữa tiệc này có Ðại tá Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 tham dự.
Sau này những cửa tiệm như Giò Chả Bắc Hương, Hủ Tiếu Hiệp Thành, Cà Phê Kim Liên, Nước Mắm Nguyễn Quý, Phở Kim Phượng, Cơm Ba Cò, Quán Kim, Quán Nhớ… vân vân, nếu thấy anh lính Biệt Ðộng Quân nào mang trên vai cái huy hiệu đầu cọp có số “82” thì không tính tiền, hoặc tính theo giá rẻ.
Trong nhiều ngày sau đó, hình ảnh buổi lễ khao quân ngày 15 tháng 9 năm 1974 trên sân vận động Pleiku đã trở thành một trong những sự kiện nổi bật trên màn ảnh truyền hình quốc gia.
Thời gian nghỉ dưỡng quân ở Pleiku tôi có dịp gặp và nói lời cám ơn tới những đồng ngũ đã có mặt trong các đoàn quân vào tiếp viện cho tôi, đặc biệt là các bạn ở Trung Ðoàn 41 Sư Ðoàn 22 Bộ Binh và các bạn ở Trung Ðoàn 53, Trung Ðoàn 45 của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh. Tôi nói với họ rằng, nhờ có những đóng góp máu xương của họ mà chúng tôi mới tạo được chiến thắng vẻ vang này.
Anh em trong đơn vị tôi có ba ngày nghỉ tự do, nhưng chỉ được đi loanh quanh trong phố Pleiku thôi, không ai được phép đi sang thành phố khác.
Là con chim đầu đàn, tôi phải nêu gương, giữ gìn quân kỷ. Dù nhớ vợ con vô cùng, tôi cũng không dám bỏ đơn vị để “dù” về Ban Mê Thuột thăm nhà.
Chiến thắng Pleime năm 1974 của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã chứng tỏ cho thế giới biết rằng dù phải chiến đấu trong hoàn cảnh khó khăn, Quân-Ðội Việt-Nam Cộng-Hòa vẫn có thể chu toàn nhiệm vụ bảo quốc an dân.
Với thượng cấp chúng tôi đã hoàn thành sứ mạng được giao phó.
Với đồng bào Pleiku, chúng tôi đã xứng đáng là những người con tin yêu của thành phố.
Với cá nhân tôi thì trận đánh 33 ngày đêm này chính là cơ hội để tôi thi thố hết khả năng của một người cầm quân.
Những chiến binh “Tử thủ” Pleime năm 1974 đã vì đất nước mà quên cả mạng sống của chính mình, nên nhiều chục năm sau họ vẫn cảm thấy tự hào:
“Tôi rất hãnh diện đã là một người lính của Tiểu Đoàn 82 Biệt Động Quân”
Theo thời gian, những người từng hiện diện trong chiến dịch Pleime 1974 đã và sẽ theo chân nhau thành người thiên cổ. Nhưng trong quân sử, chiến thắng Pleime năm 1974 của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng sẽ mãi mãi được lưu truyền như một huyền thoại của chiến tranh Việt-Nam trong thế kỷ thứ 20.
43 ngày sình lầy phê lắm bạn . Tôi BCD phải qua khóa học này về trinh sát và mưu sinh chúc vui cùng bạn là huynh đệ:h afppy:
Rời Pleime cuối 1973, tôi đc gởi đi học khóa Sĩ Quan, 1974 về Pleiku làm trong Trung Tâm Điều Hợp nên thỉnh thoảng cũng có việc ghé qua B15. Rất vui đc biết huynh trưởng. :handshak e:
The Following User Says Thank You to tampleime For This Useful Post:
Diễn Đàn Người Việt Hải Ngoại. Tự do ngôn luận, an toàn và uy tín. Vì một tương lai tươi đẹp cho các thế hệ Việt Nam hãy ghé thăm chúng tôi, hãy tâm sự với chúng tôi mỗi ngày, mỗi giờ và mỗi giây phút có thể. VietBF.Com Xin cám ơn các bạn, chúc tất cả các bạn vui vẻ và gặp nhiều may mắn.
Welcome to Vietnamese American Community, Vietnamese European, Canadian, Australian Forum, Vietnamese Overseas Forum. Freedom of speech, safety and prestige. For a beautiful future for Vietnamese generations, please visit us, talk to us every day, every hour and every moment possible. VietBF.Com Thank you all and good luck.