Muốn bán được bảo hiểm để có hoa hồng cao, người bán bảo hiểm không ngần ngại sử dụng đủ mọi cách để đưa ra nhiều lợi điểm chào mời khách hàng. (Ảnh minh họa: Gerd Altmann/Pixabay)
Trên toàn nước Mỹ hiện nay có rất nhiều hãng bảo hiểm tung ra hàng loạt các quảng cáo cổ động mua bảo hiểm nhân thọ nhằm sử dụng như một sách lược để bảo vệ tài sản, đặt ra mục tiêu mời giới thương gia dùng
"quỹ truy nhập" (account receiveable) vay thế chấp để trả tiền bảo hiểm.
Thông thường, những nhân viên đại diện bán bảo hiểm không phải là luật sư và cũng không có học luật nên họ không có mấy kiến thức về
"luật vay và cho vay" (debtor-creditor law) hoặc có kinh nghiệm thâu thập qua những vụ án liên quan về bảo vệ tài sản đã từng xét xử ở tòa án. Được các công ty bảo hiểm dạy cho những bài
"quảng cáo được thổi phồng" và cho
"tưởng thưởng hậu hĩ tiền hoa hồng" mỗi khi bán được một hợp đồng nên các nhân viên này hăng hái tung ra một sản phẩm bảo hiểm nóng hổi là mời các thương gia mua hợp đồng bảo hiểm nhân thọ có
"trị giá hiện kim" (cash value) khá lớn bằng cách cho thế chấp quỹ truy nhập để vay tiền trả bảo hiểm (premium financing).
Muốn bán được bảo hiểm này và được nhận hoa hồng cao, người bán bảo hiểm không ngần ngại qua đủ mọi cách đưa ra nhiều lợi điểm trong sách lược mượn quỹ truy nhập mà phần lớn khi cho áp dụng trong thực tế lại không đem lại kết quả tốt như đã hứa hẹn. Hầu hết các nhân viên đại diện cũng như ngay chính cả công ty bảo hiểm cũng không thấu đáo tường tận nguyên tắc hoán chuyển tài sản ra sao để hợp pháp hóa trong phạm vi luật bảo vệ tài sản. Chính vì vậy người bán bảo hiểm được công ty của họ huấn luyện rồi lần lượt truyền thụ cho khách hàng những hiểu biết hoàn toàn sai lạc theo căn bản luật bảo vệ tài sản khiến cho sau này sẽ đem lại rất nhiều rắc rối cho thân chủ mua bảo hiểm. Như vậy, nguyên tắc áp dụng
"kế hoạch mượn phân xuất quỹ thu nhập" (Account Receivable Factoring Programs, gọi tắt là
ARFCs) vay tiền trả bảo hiểm để mua bảo hiểm nhân thọ làm mục đích bảo vệ tài sản ra sao?
Từ lâu phương pháp mượn quỹ truy nhập đơn giản đã được nhiều thương gia lão luyện áp dụng trong việc sinh lợi thêm cho hoạt động nghiệp vụ của họ. Quỹ truy nhập là một quỹ kế toán tổng kết tiền hàng hóa hay dịch vụ đã bán ra cho khách hàng và có gửi hóa đơn (bill) nhưng chưa nhận được tiền khách hàng trả thực sự, thí dụ công ty điện thoại gửi bill cho thân chủ có ghi ngày đáo hạn (due date) hoặc một công ty buôn đã giao hàng kèm theo hóa đơn nhưng đang chờ khách hàng gửi trả tiền. Dĩ nhiên trên mặt sổ sách quỹ truy nhập có trị giá kết toán số tiền tổng cộng thâu vào như các tài sản khác của công ty nhưng thực tế quỹ này không có tiền mặt để cho sử dụng. Nói một cách khác thì
"trị giá vốn liếng" (equity) của quỹ truy nhập này chỉ là dạng
"tiền chết" hoặc
"tiền vô dụng" vì chỉ có
"tiếng" (số tiền nằm trên sổ sách) nhưng chưa có
"miếng" (tiền thật sự trong tay) nên rõ ràng
"tiền" của quỹ này không thể sử dụng để sản xuất hay sinh ra lợi lộc được.
Do đó ,một số thương gia có óc thông minh nghĩ ra cách để thương lượng với ngân hàng xin cấp một
"ngân khoản tín dụng" (line of credit) tương tự như
thẻ tín dụng có bảo đảm (secured credit) nhưng trương mục này đem trị giá của quỹ truy nhập để làm tiền cho thế chấp. Khi đã được ngân hàng chấp thuận cho mở trương mục với một ngân khoản nào đó, lúc nào công ty cần tiền để chi tiêu hoặc điều hành nghiệp vụ thì luôn luôn có thể rút ra
"tiền thật" lúc nào cũng được miễn là đừng vượt quá mức giới hạn cho phép.
Dĩ nhiên ngân hàng rất thích cho vay kiểu này vì họ được hưởng tiền lãi đồng thời cũng không sợ nguy cơ mất mát vì đã nắm giữ được quỹ thế chấp làm bảo đảm, nếu cần sẽ cho thu hồi lại được mà không gặp khó khăn nào.
Tương tự như nguyên tắc áp dụng phương pháp đơn giản dùng quỹ truy nhập đem thế chấp để vay tiền như trên phương pháp mượn phân xuất quỹ thu nhập ARFC cũng cho áp dụng cùng một cách thức căn bản đó. Nhưng thay vì đi vay thì công ty đem bán quỹ truy nhập với một trị giá thấp hơn để lấy ngân khoản đem sử dụng được. Thí dụ một công ty chịu bán quỹ truy nhập với 80% trị giá kế toán đổi lấy hiện kim cho nên phần sai biệt 20% được gọi là tiền
"cho hạ giá (discount).
Bây giờ, hãy bàn đến vấn đề bảo hiểm nhân thọ, mặc dù không có dính dáng gì đến quỹ truy nhập, nhưng có nhiều hãng bảo hiểm từ lâu thường quảng cáo cho vay tiền để mua những loại hợp đồng bảo hiểm lớn. Nhiều người muốn mua hợp đồng có
"trị giá hiện kim" (cash value) cao đến hàng chục triệu trở lên thì tiền đóng bảo hiểm hàng tháng tùy theo tuổi tác nhưng cũng không phải là số tiền nhỏ. Thay vì trả bảo hiểm với tiền
"sống" thì hãng bảo hiểm sẽ cho vay trả góp gọi là "
tiền tài trợ bảo hiểm" (premium financing) với điều kiện lấy tài sản có giá trị làm thế chấp dù đó là
"tài sản chết". Dĩ nhiên công ty bảo hiểm sẽ không bao giờ sợ bị lỗ vì món nợ được bảo đảm do chính trị giá của hợp đồng hoặc trị giá vật được thế chấp. Kế hoạch "tiền tài trợ bảo hiểm" này được coi như một phương tiện bảo vệ tài sản vì quả thật có tác dụng cản trở chủ nợ không thâu tóm được khi bị thua kiện bởi vì tài sản có giá trị đã được dùng để thế chấp cho nợ bảo hiểm nên không thể bị tòa án xiết được, còn hợp đồng bảo hiểm chỉ trả tiền ra khi người chủ hợp đồng qua đời là điều mà không có chủ nợ nào chờ đợi được.
Mặt khác, các kế hoạch
ARFP khi sử dụng quỹ thu nhập làm thế chấp cho
"tiền tài trợ bảo hiểm" thay vì dùng các tài sản khác vì quỹ này là mục tiêu rất tốt mà chủ nợ dễ đi xiết nhất. Bán phân xuất quỹ truy nhập cho các hãng tài trợ do công ty bảo hiểm làm chủ là một lối áp dụng
"tài sản chết" để mua bảo hiểm nhân thọ vừa sinh lời mà vừa được miễn thuế. Như vậy dùng ARFP làm một phương tiện bảo vệ tài sản
"cải biến" có nghĩa là đem một tài sản dễ bị chủ nợ thâu tóm (tiền chưa thu vào) biến hoá ra một tài sản khác mà chủ nợ không đụng đến được (tiền bảo hiểm nhân thọ).
Tuy
trị giá hiện kim (cash value) của hợp đồng bảo hiểm nhân thọ được luật lệ tiểu bang California bảo vệ, nhưng tại nhiều tiểu bang khác thì sẽ không có hiệu lực. Điều đáng trách là nhiều nhân viên bán bảo hiểm không nói ra sự thật với khách hàng về điểm này khiến cho sau đó thân chủ có thể bị rắc rối vì lý do chuyển đổi tài sản bất hợp pháp. Hơn nữa ngay chính những đại diện bảo hiểm cũng không biết rằng, ở ngay chính tiểu bang có luật bảo vệ chủ nợ vẫn có quyền khiếu nại nếu trưng ra được bằng cớ việc chuyển quỹ truy nhập thành bảo hiểm là một hình thức cản trở, trì hoãn hay gian dối lừa gạt.
Tại những tiểu bang nơi
ARFP được đắc dụng vì thường được phối hợp với chương trình hưu trí như
ERISA nhưng những kế hoạch tổng hợp thường thuộc loại kế hoạch cao cấp đòi hỏi cấu trúc chuyên môn rất tinh vi ngoài khả năng của nhân viên vận động bán kế hoạch
ARFP.
Một giới hạn ẩn không thấy ra được là
ARFP chỉ bảo đảm trị giá quỹ truy nhập hiện hữu nhưng không bảo vệ trị giá tương lai sau ngày được cho áp dụng. Hơn nữa còn yếu tố quỹ truy nhập dùng mua bảo hiểm là tiền chưa đóng thuế và tiền hiện kim của bảo hiểm nhân thọ được rút ra là tiền sau thuế (post-tax) nên có thể bị IRS liệt kê vào tội lạm dụng thuế. Vì lý do đó trước khi dùng ARFP nên tham khảo với luật sư chuyên môn về thuế cho nắm chắc chắn phần hợp lệ, hợp pháp.
Qua những phân tích nói trên, chúng ta nhận xét rằng, kế hoạch ARFP nếu cho áp dụng riêng rẽ sẽ không đạt được kết quả như mong muốn. Ngược lại sẽ đắc dụng nếu dùng ARFP như một chương trình tăng cường trong một kế hoạch tổng hợp bảo vệ tài sản toàn bộ có mục tiêu bao gồm hoàn toàn mọi khía cạnh thương mại, thừa kế, thuế má và bảo vệ tài sản.
Lưu ý:
Cũng như thường lệ người viết xin xác nhận nội dung của những loạt bài tìm hiểu luật pháp này chỉ có mục đích sử dụng với tính cách thông tin (information) giúp quý độc giả một vài kiến thức tổng quát căn bản về luật pháp Hoa Kỳ mà thôi và không thể coi như sự liên hệ của luật sư với thân chủ (attorney-client relationship). Do đó nếu có vấn đề gì có liên quan đến luật, quý độc giả vẫn cần phải thảo luận với một luật sư chuyên môn về trường hợp của quý vị.