"Bác sĩ Y khoa"theo quan niệm của nhiều người từ xa xưa cho đến nay, là một trong những nghề cao quý trong xã hội, đặc biệt đối với xã hội Việt Nam. Thời xưa, người thầy thuốc có vai trò như một ông thánh (!), phán ra câu nào là mọi người phải nghe theo vì kiến thức học sâu hiểu rộng về sức khoẻ và bệnh tật của con người.

Chẳng những thế mà thời phong kiến ở nước ta họ được gọi là
Quan Đại Phu, thời Pháp thuộc thì phổ biến dưới tên gọi
Quan Đốc (
đốc-tờ: docteur), được trọng vọng không kém gì những ông thầy dạy học, vì chính họ cũng là một ông thầy: thầy thuốc. Điều này thể hiện sự tôn trọng của xã hội đối với nghề bác sĩ.
Sự tôn trọng này có căn cơ rõ rệt, vì trước khi thực hành công việc có liên quan trực tiếp đến sức khoẻ và sinh mạng của con người, họ đã phải trải qua 6 năm học dài đăng đẳng (các ngành khác chỉ có 4 năm). Nếu tính ra tất cả thời gian đi thực tập, trực gác ở bệnh viện và học chuyên khoa thì có lẽ sẽ gần gấp đôi các ngành nghề khác. Còn so với thời gian học y khoa ở Mỹ hay Úc, chúng ta…chỉ bằng có một nửa.
Trong thời gian đi học, sinh viên y khoa phải thường xuyên tiếp xúc với môi trường độc hại của ngành y như các bệnh lý, hoá chất, các nguồn lây bệnh khác…, tập làm quen với mùi máu, mủ, phân, nước tiểu, nước ối,…tập nghe (và chịu đựng) tiếng rên la, tiếp xúc với người bệnh với những đau đớn, căng thẳng, mất mát và cả sự chết chóc. Họ phải học cách tự kiềm chế cảm xúc của mình trước những ca bệnh khó hoặc tuyệt vọng để tập trung tìm cách cứu chữa. Mỗi toa thuốc đều phải tính toán rất cẩn thận, mỗi đường rạch dao, mũi kim đều không thể là sự ngẫu hứng tình cờ. Họ phải tỉnh táo, thậm chí lạnh lùng để giải bài toán bệnh tật trong thời gian ngắn nhất với hiệu quả cao nhất. Thậm chí ở Mỹ, nghề bác sĩ còn được xếp vào nghề nguy hiểm, bên cạnh nghề cứu hoả và cảnh sát, vì khả năng lây nhiễm hay các nguy cơ về sinh học khác. Ngoài ra, họ còn phải tự điều chỉnh hành vi, thái độ, cách ứng xử cho phù hợp với từng đối tượng người bệnh khác nhau.
Ít có ngành nào mang đậm tính cách Nghề-Nghiệp như ngành y. Vẫn biết bác sĩ là một nghề cũng như bao ngành nghề khác để kiếm sống đàng hoàng và lương thiện. Nhưng trong ngành y, nó còn là cái Nghiệp, đúng hơn là thiên chức, vì có liên quan trực tiếp đến sức khoẻ và sinh mạng con người. Người thầy thuốc đồng hành với con người từ khi mới tượng hình trong bụng mẹ, 9 tháng sau tận tay trao hài nhi vừa chào đời cho sản phụ, rồi lại tiếp tục chăm sóc sức khoẻ suốt đời cho đến khi ngậm ngùi bất lực ghi vào bệnh án tử vong. Chỉ có họ mới là người được bệnh nhân tin cậy thổ lộ tất cả những đau đớn về thể chất và tinh thần, những nỗi băn khoăn, lo lắng, sợ hãi, cả những điều mà bệnh nhân không thể nói ra với gia đình.
Bỡi vì, trước khi ra trường, họ đã thề trước ông tổ của nghề nghiệp là không bao giờ tiết lộ bí mật của bệnh nhân. Họ chịu trách nhiệm lớn nhất về phần xác và một phần tâm hồn của người bệnh. Họ không chỉ là chuyên viên tư vấn về y học, mà còn là một chuyên viên tham vấn về sức khoẻ. Như vậy, những yếu tố góp phần hình thành vị thế và hình ảnh của người bác sĩ trong xã hội là (1) quá trình đào tạo, (2) tiềm năng và nỗ lực của bản thân và (3) sự phản hồi từ xã hội và người bệnh. Điều này đã làm cho y khoa trở thành một nghề tuy đẹp đẽ, nhưng khó nhọc vô cùng.
Trong thời gian gần đây,
y đức trở thành một đề tài
"hot", được bàn đến nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng, chủ yếu là về việc suy thoái và làm cách nào để
"vực dậy, lấy lại niềm tin cho người bệnh". Nếu chỉ hiểu đơn giản
y đức là đạo đức của ngành y thì bất cứ ngành nghề nào cũng cần phải có đạo đức, và sự xuống cấp về đạo đức là vấn nạn của toàn xã hội, nhưng vì ngành y có liên quan trực tiếp đến sức khoẻ và sinh mạng con người nên được đem ra mỗ xẻ nhiều nhất.
Thật ra,
y đức cũng chỉ là những quy ước về đạo đức hành nghề y bao gồm những chuẩn mực và nguyên tắc về sự giao tiếp giữa người thầy thuốc và bệnh nhân, đó là một phần của hệ thống đạo lý trong xã hội.
Y đức có thể thay đổi đôi chút tuỳ thuộc vào văn hoá địa phương và thời gian, nhưng bản chất và nguyên lý không hề thay đổi, đó là
(1) trước hết không làm hại bệnh nhân
(2) luôn làm điều có lợi nhất cho bệnh nhân
(3) tôn trọng quyền tự chủ và nhân phẩm
(4) công minh, không phân biệt đối xử
(5) giữ bí mật nghề nghiệp.
Những yếu tố tạo ra hình ảnh và vị trí của người bác sĩ như đã nói trên thật ra cũng là những yếu tố chính hình thành ra
"y đức". Nhưng trên hết, cốt lõi của vấn đề vẫn là con người. Và con người y khoa phải bao gồm cả 2 khía cạnh: chuyên môn và phẩm chất. Nếu có một nền tảng đạo đức tốt đẹp, nếu được huấn luyện tốt và cập nhật kiến thức thường xuyên,
"y đức" sẽ được người bác sĩ thực thi nghiêm túc mà không cần phải học thuộc lòng hay đánh máy lồng khung kiếng treo trịnh trọng ở khắp nơi trong bệnh viện.
Nhưng đã là con người thì không thể không có sai sót trong đời. Và sai sót trong y khoa là điều không thể tránh khỏi cho dù là kỹ thuật điều trị mới nhất cũng có những tỷ lệ tai biến khó lường ra hết được. Nhưng khi xảy ra sai sót, nên xem xét lại hệ thống và quy trình quản lý ra sao hơn là chỉ đỗ lỗi cho cá nhân. Và như vậy,
"y đức" còn liên quan đến môi trường mà người bác sĩ đang tương tác: cấp quản lý và người bệnh.
Y khoa vốn là một nghề đặc biệt vì bên cạnh kỹ thuật, nó còn mang đậm tính nhân văn. Xin được mượn ý của Bs. Đỗ Hồng Ngọc để kết thúc bài viết này. Ông cho rằng xã hội gọi người bác sĩ qua 3 chữ
"người thầy thuốc", tức là nghề này phải gồm cả 3 yếu tố:
"NGƯỜI" > nhân đạo, "THẦY" > nhân đức và
"THUỐC" > nhân thuật. Ba yếu tố trên đây chính là
"y đức" vậy.
Bs. Phan Minh Trí