"Hội đồng Hòa bình" của Trump đang làm công việc mà NATO và Liên Hợp Quốc không thể làm được.
Trong gần một thế kỷ, Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và Liên Hợp Quốc được thành lập như một phần của thỏa thuận toàn cầu sau Thế chiến II, do Hoa Kỳ dẫn đầu, nhằm duy trì hòa bình.
Nền hòa bình này được những người thiết kế ra nó hình dung sẽ tồn tại mãi mãi – một nền hòa bình được hỗ trợ bởi chủ nghĩa đa phương và được bảo trợ bởi (cái gọi là) “luật pháp quốc tế”.
Đây là cái gọi là “trật tự thế giới dựa trên luật lệ” khét tiếng, được cho là đã vượt qua hoặc lấn át lịch sử loài người, và những xung đột không thể tránh khỏi khi đối phó với con người do bản chất sa ngã của chúng ta.
Ảo tưởng đó cho rằng không chỉ lịch sử đã được biến đổi thành một trật tự thế giới duy nhất, với hòa bình được đảm bảo vô thời hạn, mà bản chất con người cũng bằng cách nào đó đã thay đổi theo.
Hàm ý nham hiểm là linh hồn của mỗi người rốt cuộc không bị vấy bẩn bởi tội lỗi nguyên thủy, một quan điểm thế giới về cơ bản là vô thần, phủ nhận bài học cốt lõi của Sách Sáng Thế.
Than ôi, nhiều thập kỷ kể từ Thế chiến II đã cho thấy rõ ràng rằng trật tự dựa trên luật lệ, và các thể chế hỗ trợ nó như NATO và Liên Hợp Quốc, luôn là một điều phi lý.
Mặc dù chiến tranh đã được tuyên bố kết thúc, nhưng các cuộc chiến tranh khác vẫn tiếp diễn: Triều Tiên, Việt Nam, Iraq, Afghanistan, Ukraine, Gaza. Với mỗi cuộc chiến, người ta càng khó tin rằng lịch sử đã kết thúc.
Niềm tin vào các thể chế duy trì niềm tin này – đáng kể nhất là NATO và Liên Hợp Quốc – đã hoàn toàn tan biến. Nhiệm kỳ tổng thống của Donald Trump đánh dấu cú đánh cuối cùng giáng vào ảo tưởng này.
Tổng thống đã vạch trần bộ mặt thật của vị hoàng đế trần truồng. Thay vào đó, Tổng thống đã đề xuất một thể chế mới, một thể chế không bị tha hóa bởi những giả định phi lý đã từng là nền tảng của các thể chế tiền nhiệm.
Viện Hòa bình khác với hai tổ chức kia vì nó không tin rằng chiến tranh có thể bị xóa bỏ.
Nó nhìn nhận bản chất con người một cách thực tế, không hề viển vông, hiểu rằng dù hòa bình luôn là mục tiêu, nhưng không thể xóa bỏ hoàn toàn xung đột. Không chỉ bất khả thi, mà trong một số trường hợp, điều đó còn không mong muốn.
Quan hệ toàn cầu và thậm chí cả quan hệ nội bộ – trong chính trị, kinh doanh và trong các tương tác thường nhật giữa con người – đều được củng cố bởi những động lực quyền lực ngầm không bao giờ biến mất.
Các cường quốc mạnh hơn thường có nhiều lợi thế hơn trong đàm phán, và do đó, thường giành chiến thắng.
Câu chuyện về David chống lại Goliath, một ngoại lệ đáng chú ý, càng củng cố thêm quy luật này. Và đó là một quy luật sẽ không biến mất trong thời gian ngắn sắp tới.
Thay vì trốn tránh sự thật, Tổng thống và chính quyền của ông đã chấp nhận nó một cách tỉnh táo và đúng mực. Việc nhận ra rằng quan hệ quốc tế sẽ không tự động hòa bình nếu không có một trọng tài hoặc cơ quan hành pháp đứng ra bảo đảm sự ổn định đó, xét về một khía cạnh nào đó, là một sự giải thoát.
Điều này mang lại lợi thế cho người ta so với những người, như các chính quyền tiền nhiệm gần đây, những người theo đuổi những giáo điều kỳ quặc của chủ nghĩa toàn cầu.
Dù sự thật có khắc nghiệt đến đâu, sự tỉnh táo và thực tế vẫn luôn tốt hơn là hy vọng hão huyền. Quan điểm cho rằng chiến tranh đã chấm dứt hoàn toàn sau khi Đức Quốc xã bị đánh bại đặt ra một câu hỏi sâu sắc hơn: tại sao?
Điều gì đã thực sự thay đổi trong tám mươi năm qua? Bản chất con người có thực sự thay đổi không? Hay giới tinh hoa chính trị, đang say sưa với chiến thắng, đã bắt đầu nhầm lẫn khi chấp nhận một điều kiện tạm thời – dù trật tự hậu chiến kéo dài bao lâu – và bắt đầu nghĩ rằng điều kiện đó sẽ áp dụng cho tất cả mọi người mãi mãi về sau?
Dù sao đi nữa, nếu vẫn còn ai tin vào sự ngu ngốc đó, thì Tổng thống Trump, Marco Rubio và những người khác trong chính quyền của ông đã khéo léo đưa những người theo chủ nghĩa giáo điều toàn cầu trở lại từ bờ vực thẳm.
Những phát biểu của Tổng thống tại hội nghị Davos năm nay là tín hiệu cuối cùng cho thấy nước Mỹ đang mạnh mẽ đánh thức các đối tác châu Âu khỏi ảo tưởng của họ.
Những phát biểu tiếp theo của Marco Rubio một tháng sau đó tại Munich càng nhấn mạnh điểm này: trật tự thời hậu chiến được coi là tàn tích của thế kỷ XX. Thế kỷ XXI mang đến những thách thức mới. Đã đến lúc phải nắm bắt tình hình.
Với sự trỗi dậy nhanh chóng của các đối thủ như Trung Quốc và Nga (điều trớ trêu là sẽ không thể xảy ra, hoặc ít nhất là sẽ trở nên phức tạp hơn rất nhiều, nếu không có sự kiêu ngạo tai hại của tầng lớp tinh hoa tin vào luận điểm về sự kết thúc của lịch sử – và thông qua những luận điểm đó, đã tạo ra các chính sách như việc cho phép Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới), Mỹ phải thích ứng với một trật tự thế giới đang phát triển, một trật tự dựa trên chủ nghĩa thực dụng chứ không phải chủ nghĩa toàn cầu, nếu muốn duy trì lợi thế cạnh tranh của mình.
Và trong bối cảnh thế giới hiện đại cạnh tranh khốc liệt như vậy, việc Mỹ chỉ đơn thuần là "một đối thủ cạnh tranh khác" có thể là chưa đủ. Do đó, càng sớm chấp nhận thực trạng thế giới đã thay đổi thì càng tốt.
Có thể thế giới đã ở trong trạng thái này từ khá lâu rồi, nhưng giới tinh hoa toàn cầu chỉ mới bắt đầu thức tỉnh.
Chính sách hòa giải của Richard Nixon với Liên Xô và Trung Quốc vào đầu những năm 1970, gần nửa thế kỷ trước, lẽ ra đã báo trước những gì sẽ xảy ra trong những thập kỷ tiếp theo của quan hệ địa chính trị với giới cầm quyền phương Tây.
Tuy nhiên, lịch sử của ba mươi năm qua, với hết cuộc phiêu lưu thất bại này đến cuộc phiêu lưu thất bại khác ở Trung Đông, và gần đây hơn là ở Đông Âu, lẽ ra đã phải thức tỉnh mọi người.
Thật đáng kinh ngạc là không ai thực sự nhận ra tình hình này cho đến khi Donald Trump xuất hiện trên chính trường cách đây một thập kỷ và bắt đầu nghiêm túc xem xét tính hiệu quả của các thể chế này.
Điều đáng sốc hơn nữa là phải mất thêm cả một thập kỷ nữa thì các chính sách có ý nghĩa mới được thực hiện để bắt đầu khắc phục thiệt hại.
Nhưng chúng ta đã đến được đây. Và may mắn thay, cuối cùng cũng có một số tiến triển. Song song với các thỏa thuận hòa bình ở Gaza và Ukraine phải là sự đảm bảo cho một trọng tài mạnh mẽ hơn trong quan hệ quốc tế.
Tổng thống đã nói rõ điều mà những người quan sát trực giác đã biết từ lâu: hòa bình thực sự không thể có được nếu không có một nước Mỹ mạnh mẽ sẵn sàng đưa ra các điều khoản của thỏa thuận.
Nếu không có một nước Mỹ hùng mạnh đứng ra điều phối mọi việc, phần còn lại của thế giới sẽ khó có thể chứng minh được lời nói của mình. Như Tổng thống đã nói một cách ngắn gọn: “Thế giới sẽ tự hủy diệt chính mình”.
Cuộc thử nghiệm ở Greenland là một ví dụ hoàn hảo về sự bất lực hoàn toàn của NATO: nếu muốn, Hoa Kỳ hoàn toàn có thể chiếm được "mảnh băng" đó, như Tổng thống đã nói một cách hài hước.
Những lời tuyên bố hùng hồn về hành động quân sự từ một số thành viên NATO chỉ mang tính biểu tượng. Trong đàm phán, những hành động như vậy sẽ chẳng đi đến đâu nếu không được hỗ trợ bởi sức mạnh thực sự. Và vì thế, màn kịch thất bại.
Ukraine là một ví dụ điển hình khác: câu nói "tấn công một người là tấn công tất cả" hoàn toàn vô nghĩa khi "tất cả" đều thiếu phương tiện quân sự, tài chính và chính trị để chống lại kẻ xâm lược. Do đó, cuộc chiến tranh Ukraine trong nửa thập kỷ qua là một ví dụ điển hình.
Đó không phải là điều đáng tuyệt vọng, mà là điều cần nhận ra như một thực tế của cuộc sống. Hơn thế nữa, đó là một thực tế của bản chất con người. Chiến tranh là điều không thể tránh khỏi. Hiểu rõ những thực tế đó và đối mặt trực diện với sự thật là cách nhanh nhất để đạt được giải pháp hòa bình.
Đó chính là cốt lõi của "Viện Hòa bình" mới của Tổng thống, một tổ chức bác bỏ mọi giả định sai lầm đã khiến NATO và Liên Hợp Quốc trở thành thất bại hoàn toàn.
Nhận ra những thất bại này sẽ giúp ích rất nhiều trong việc khám phá sự thật. Và với sự thật đó, sẽ có cơ hội thiết lập một nền hòa bình bền vững, điều chỉ có thể đạt được thông qua việc nhận thức được những động lực quyền lực chi phối con người trong thế giới thực, chứ không phải một thế giới hư cấu.