
Tham nhũng. Ảnh mang tính minh họa.
Từ khóa “tham nhũng” đang là 1 từ kép làm nên sóng gió trên chính trường VN những tuần qua.
Sóng gió không những trên báo chí với hàng trăm bài viết có chứa từ kép này.
Thậm chí, có cả trang blog cho mục đích chống tham nhũng: “Vì sự nghiệp tiêu diệt bè lũ tham nhũng, lũng đoạn kinh tế-chính trị đất nước“/QLB/.
Sóng gió còn mang tính bạo lực của những vụ bắt bớ liên miên, như bắt Bầu Kiên, bắt nguyên TGĐ Lý Xuân Hải, CEO Ngân hàng Á châu. , bắt và dẫn độ về VN Dương Chí Dũng,…
BCT ĐCS VN đã cho lưu hành nội bộ 1 tài liệu gồm 330 trang với nội dung về tình trạng tham nhũng trong ĐCS VN và chủ yếu về các nghi ngờ tham nhũng, những yếu kém điều hành của Thủ tướng Nguyên Tấn Dũng.
Từ tháng 2/2012 đến hôm nay, 3,6 triệu đảng viên ĐCS VN sống trong không khí của phong trào Chỉnh đảng chống tham nhũng.
Một cặp lãnh tụ cao nhất VN: CT nước Trương Tấn Sang và TBT Nguyễn Phú Trọng đang bốc-sơ hội đồng 1 Thủ tướng “tham nhũng” và quyền hành gần như vô hạn: Nguyễn Tấn Dũng.
Từ khóa “tham nhũng” trở nên từ của miệng của người dân VN.
Tham nhũng trong quan niệm của “phó thường dân”, nôm na là những hành động thu lợi có tính vật chất cho cá nhân, từ các chức vụ nhà nước, một cách phi pháp.
Bài viết này nhằm tìm hiểu một số khía cạnh có tính bản chất của tham nhũng và muốn trả lời câu hỏi : Cuộc chỉnh đảng, mà ĐCS VN phát động hôm nay, có hạn chế được tham nhũng không? Có chữa được tận gốc căn bệnh kinh niên của chế độ ĐCS trị tại VN hay không?
1. Định nghĩa kinh điển về tham nhũng.
1.1 Tham nhũng là gì?
Theo Boris Begovic Phó Chủ tịch, Trung tâm Nghiên cứu Tự do-Dân chủ (CLDS):
“Lý thuyết kinh tế đã nêu hai quan điểm cơ bản về tham nhũng. Quan điểm thứ nhất coi tham nhũng là yếu tố ngoại sinh, quan điểm thứ hai cho rằng tham nhũng là nhân tố nội sinh trong chính trị. Nếu áp dụng một trong hai quan điểm trên, chúng ta có thể chia tham nhũng thành ba loại cơ bản: tham nhũng để đẩy nhanh tiến độ, tham nhũng hành chính và “bẻ cong pháp luật”. Mặc dù trong hầu hết mọi trường hợp, tham nhũng có thể là do tình trạng vơ vét bổng lộc gây ra, song những cá nhân ích kỷ tìm cách tối đa hóa lợi ích của riêng họ cũng như các bộ luật phức tạp, mập mờ và thiếu tính khả thi cũng là nguyên nhân dẫn tới tình trạng đó.”/ xem
http://vietnamese.vietnam.usembassy....cipe0305.html/
Còn Vito Tanzi đã đưa ra 1 câu trả lời súc tích : “Tham nhũng là hành động cố tình không tuân thủ các nguyên tắc công minh nhằm trục lợi cho cá nhân hoặc cho những kẻ có liên quan tới hành động đó”.
“Có ba nội dung chính trong định nghĩa này. Nội dung thứ nhất đề cập tới nguyên tắc công minh bởi lẽ nó đòi hỏi quan hệ cá nhân hoặc các mối quan hệ khác không được xen vào các quyết định kinh tế có liên quan đến nhiều bên. Việc đối xử bình đẳng với tất cả các chủ thể kinh tế là một yêu cầu cần thiết đối với một nền kinh tế thị trường hoạt động có hiệu quả. Thái độ thiên vị đối với một số chủ thể kinh tế cụ thể nào đó chắc chắn sẽ vi phạm nguyên tắc công minh và mở đường cho tham nhũng. Không có thiên vị thì sẽ không có tham nhũng”./ xem “Tham nhũng”, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế học, Tập 108, trang 599-617 Tanzi, V(1993)/
Trên đây là những định nghĩa và phân tích kinh điển, có tính lý thuyết.
* * *
Trong ngôn ngữ Việt Nam, “tham nhũng” là từ kép, ghép lại từ 2 từ đầu trong 2 cặp từ “tham lam” và “nhũng nhiễu”.
1.2 Tham lam.
Loài người được tiến hóa từ 1 loài vượn người. Như vậy, nguồn gốc thú vật tại con người là đậm nét và sâu sắc.
Quan sát các loài động vật, ta thấy từ loài ăn cỏ cho tới loài ăn thịt sống, đối với chúng, bao giờ chúng cũng chỉ kiếm đủ thức ăn, mà thước đo cho sự “đủ” ấy chính là dung tích của chiếc dạ dầy mà chúng sở hữu.
Cảnh 1 đàn sư tử nằm dài ngáp lười biếng trên thảo nguyên, mà không xa lắm, là đàn ngựa vằn đang bình yên gặm cỏ, là 1 cảnh phim thường thấy trên kênh truyền hình nổi tiếng National Geographic.
Đây là 1 điểm khác cơ bản giữa đàn sư tử và đàn người nguyên thủy lấy săn bắn làm nghề sinh sống.
Bộ tộc săn bắn sẽ tìm mọi cách để săn bắn hết sạch đàn ngựa vằn trên, mặc dù các bao tử của cả bộ tộc ấy có thể trong 1 ngày không tiêu hóa hết số kg thịt mà 1 con ngựa vằn cung cấp.
Trong quá trình tiến hóa để hoàn thiện thành loài Người hôm nay, con vượn người đã đánh đổi việc di chuyển bằng 4 chân: nhanh hơn, lấy việc di chuyển bằng 2 chân : chậm hơn.
Như vậy tiến hóa về mặt cơ bắp, và khả năng hoạt động săn mồi của cơ bắp yếu đi. Nhưng tổng thể, đổi lại là có lợi hơn cho sự sinh tồn, và tiến hóa của loài người.
Chuyên môn hóa cho đôi chân dùng để di chuyển, giải phóng được đôi tay để thực hiện các động tác khác ngoài động tác di chuyển.
Hơn nữa, do tư thế đứng thẳng, loài vượn người đã có khả năng quan sát tốt hơn so với một số loài động vật khác di chuyển bằng 4 chân.
Cùng với nhiều tình cờ ngẫu nhiên mà thiên nhiên đã ban thưởng, có 1 loài vượn đã tiến hóa thành loài người.
Loài người không có đặc tính nhanh nhất, mạnh nhất, khỏe nhất …trong các loài thú, nhưng nó có đặc tính biết lo xa, biết tích lũy kinh nghiệm, với não bộ đặc biệt phát triển về vùng tư duy trừu tượng……
Thế là, những bộ tộc nông nghiệp đã biết dự trữ thóc lúa phòng khi đói kém, còn các bộ tộc săn bắt, biết săn bắn nhiều con mồi hơn, để dành cho những ngày săn bắn không hiệu quả.
Sự dự trữ vượt quá nhu cầu mà thiên nhiên đã định lượng cho tất cả các loài: cái bao tử của từng cá thể, là những biểu hiện đầu tiên có tính người: tính tham lam mà chỉ loài người mới có.
Nhìn con sư tử lười biếng nằm ườn cách không xa đàn ngựa vằn, ta còn rút ra 1 kết luận khác: Định luật tiết kiệm năng lượng tối đa đã tác động lên con sư tử này.
Nếu cái bao tử đã ních đầy thức ăn và không thể ních hơn được nữa, thì tốt nhất là tiết kiệm năng lượng sinh ra từ khối lượng thức ăn ấy một cách hiệu quả nhất, mà không nên phí phạm chỗ năng lượng quí báu đó, nên con sư tử lúc này nghỉ ngơi, lười biếng.
Đây là 1 biểu hiện của qui luật sinh tồn tác động lên con sư tử làm cho nó lười biếng vô thức, do thiên nhiên áp đặt. Cá thể nào biết tiết kiệm tối đa số năng lượng ấy, thì cá thể đó có khả năng kiếm được thức ăn trong những ngày sau cao hơn những cá thể đã phung phí số năng lượng quí giá này.
Còn đàn ngựa vằn như cũng hiểu rõ qui luật này, nên đã thong thả ăn cỏ, cũng tiết kiệm tối đa năng lượng mà mình có, mà không lo lắng gì đến đàn sư tử và quên đi, 1 chốc lát, cuộc chạy bán chết lấy sống vừa rồi của cả đàn.
Như vậy qui luật sinh tồn, qui luật lớn nhất chi phối tất cả các loài sinh vật trên quả đất này, có ít nhất 2 đòi hỏi rõ ràng:
1- tìm ra ” thức ăn” để tồn tại và
2- tiết kiệm tối đa năng lượng do thức ăn ấy cung cấp.
Dự trữ thức ăn vượt quá nhu cầu tự nhiên( dung lượng của cái bao tử) trong hàng triệu năm của quá trình tiến hóa đã là 1 đặc tính ghi trong gen của loài người.
Một cá thể thuộc loài người, trong sinh hoạt sinh tồn, bao giờ cũng nằm trong 1 cộng đồng nhỏ của mình / tính bầy đàn của con người/.
Tính bầy đàn giúp cho loài ngưòi tồn tại, do khả năng tìm thức ăn cao hơn.
Xã hội do tính bầy, đàn sinh ra, có qui luật tồn tại riêng của nó.
Cộng đồng này gọi là xã hội nguyên thủy loài người và dần phát triển trở thành xã hội văn minh hôm nay của mỗi dân tộc, hay đa dân tộc rồi trở thành các quốc gia của thế giới hiện đại.
Khi sự dự chữ thức ăn của 1 cá thể trong xã hội loài người vượt qua 1 chuẩn, ngầm được cộng đồng có liên hệ với cá thể ấy chấp nhận, ta gọi cá thể ấy là tham lam.
1.3 Nhũng nhiễu.
Quan sát 1 trẻ nhỏ, ta thấy hiện tượng sau: Nếu luôn được chiều chuộng, đứa trẻ tỏ ra nhõng nhẽo, đòi hỏi được cư sử theo ý của mình. Quan sát này không hạn chế vào 1 cá biệt: Bất cứ 1 đứa trẻ nhỏ nào, nếu được nuông chiều đều nhõng nhẽo. Như vậy, nhõng nhẽo là hiện tượng có tính bản chất, trong gen di truyền. Nhõng nhẽo xuất hiện khi hoàn cảnh nuông chiều cho phép.
Khi trưởng thành, đã học hỏi nhiều qui định phức tạp trong xã hội loài người, gen “nhõng nhẽo” được gọi là “nhũng nhiễu” để phân biệt tính trưởng thành của “nhõng nhẽo”.
Cũng như “nhõng nhẽo”, “nhũng nhiễu” chỉ xuất hiện khi hoàn cảnh cho phép, nên gen này cũng được gọi là gen chìm.
Hoàn cảnh cho phép được nói đến, chính là những cương vị tương đối quan trọng trong thang bậc nhà nước.
Theo định nghĩa chung, ai tham lam và nhũng nhiễu nhân dân được gọi là kẻ tham nhũng.
Tham nhũng là 1 căn bệnh có tính bản năng, được ghi lại trong gen, di truyền từ đời này sang đời khác của con người.
Tham nhũng xuất phát từ bản năng tồn tại, dự trữ thức ăn và qui luật tiết kiệm năng lượng tối đa.
Ai cũng có gen này trong bộ gen 23 nhiễm sắc thể của mình.
Thường thì nó biểu hiện ở dạng lặn.
Khi điều kiện cho phép: có chức, có quyền, thì nó hiện ra và trở thành gen trội.
Tuy thuộc tính của tham nhũng là bản năng, nhưng khi con vượn người trở thành con người, nó không thể mang tất cả những đặc trưng mang tính dã thú làm thành đặc trưng cho tính con người được.
Xã hội loài người có 1 đòi hỏi khắt khe là để tiến hóa, nhiều khi những bản năng xúc vật của những cá thể trong xã hội, phải được văn minh hóa bằng những qui định, ràng buộc thuận với qui luật sinh tồn, nhưng văn minh hơn, đảm bảo tính bền vững của xã hội loài người, như 1 lợi ích chung nhất. Nếu qui định, đi ngược hoàn toàn với qui luật sinh tồn, qui luật tiến hóa của loài người, thì qui định này bao giờ cũng thất bại.
Điều kiện tiên quyết để 1 điều luật, 1 qui định được mọi thành viên xã hội tôn trọng, thực thi là điều luật, qui định này phải thuận với qui luật sinh tồn của thiên nhiên, tạo hóa.
Thí dụ cho sự thất bại của qui định trái hoàn toàn với qui luật tiến hóa của con người là việc chống CN cá nhân của lý thuyết Mac Lênin.
Thí dụ cho nguyên tắc văn minh của xã hội văn minh áp đặt lên luật di truyền của tạo hóa là qui định 1 vợ, 1 chồng.
1.4 Ta lấy thí dụ về qui luật di truyền.
Theo qui luật di truyền, thì con đực, có nhiệm vụ được tạo hóa giao cho, là phải di truyền lại bộ gen của mình một cách tối đa, gây giống tối đa.
Nghĩa là, đối với loài người, đàn ông phải thụ tinh trên số lượng đàn bà nhiều nhất, có thể được, để duy trì bộ gen của mình.
Sự ghen tuông nẩy sinh, giữa các đàn ông của 1 cộng đồng loài người, một bộ tộc, đã gây ra những chém giết có thể gây tuyệt chủng chính bộ tộc đó.
Như vậy, sự bền vững của 1 xã hội loài người, trường hợp này là 1 bộ tộc, lại bị chính 1 qui luật có tính cơ bản nhất của thiên nhiên: qui luật di truyền, gây cản trở.
Các xã hội loài người văn minh đã tìm ra 1 dung hòa tuyệt vời : Luật 1 vợ, 1 chồng.
Luật này vẫn đảm bảo qui luật duy truyền mà tự nhiên đòi hỏi, lại văn minh hóa qui luật này.
Luật này đã giải quyết mâu thuẫn nẩy sinh giữa các cá thể có xung khắc.
Khi các qui tắc chung của Xã hội được tôn trọng, mọi người cùng chung sức xây dựng xã hội của mình.
Qua thí dụ trên, ta thấy: 1 xã hội, 1 nhà nước,… những sản phẩm nhân tạo do 1 cộng đồng, 1 bộ tôc con người tạo ra…, có thể có những đòi hỏi không hoàn toàn khớp với những ngộ nhận ban đầu của con người về những qui luật của tạo hóa.
1.5 . Chống chủ nghĩa cá nhân là trái ngược với qui luật tiến hóa của tạo hóa.
CN Mác Lênin cho rằng giai cấp vô sản sẽ là giai cấp đoạt quyền lãnh đạo của giai cấp tư sản qua cách mạng XHCN toàn cầu, và xây dựng 1 xã hội cộng sản văn minh, trong đó không có khái niệm tài sản tư nhân, tất cả đều công hữu.
Tự chung lại, CN Mác Lênin lý luận như sau : Khi đã đoạt được quyền lãnh đạo, giai cấp vô sản sẽ quốc hữu hóa toàn bộ tài sản của giai cấp tư bản. Như vậy, khác hẳn những kẻ chiến thắng trong chế độ phong kiến là chiếm đoạt tài sản của kẻ thất bại, trong cách mạng vô sản, không có chiếm đoạt tài sản làm của riêng. Khái niệm công hữu được đưa ra, mà hôm nay ở VN là khái niệm tài sản toàn dân như đất đai,…
Mỗi con người trong xã hội hiện đại là thành quả di truyền của hàng triệu năm tiến hóa. Tính cá nhân trong mỗi 1 con người đã được tạo nên do hình thành từ những cặp gen khác nhau của những con đực, con cái khác nhau. Không ai giống ai cả, do bố và mẹ là những cặp đôi khác nhau. Tính khác biệt của từng cá thể đã trải dài theo thời gian tiến hóa hàng triệu năm, mà đến hôm nay không thể tìm được 2 người giống nhau hoàn toàn về cấu tạo gen cũng như tâm tính.
Như vậy thì tính tham lam và nhũng nhiễu của con người cũng được di truyền hàng triệu năm và khác nhau ở mỗi cá thể riêng biệt.
CN Mác Lênin cho rằng chống chủ nghĩa cá nhân sẽ xây dựng 1 tính cách mới của con người : Không tham lam riêng cho bản thân, không tư lợi cho cá nhân….Mọi thành viên của xã hội cộng sản đều phấn đấu cho mục đích chung CNCS, cho tổng các tài sản công hữu đồi dào để: Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu….
Chống chủ nghĩa cá nhân là tuyên chiến, là gạch bỏ hoàn toàn 1 thuộc tính có tính bản năng, được di truyền qua hàng triệu năm tiến hóa của con người: quyền được dự trữ thức ăn, quyền được lo lắng cho tương lai…những thể hiện của qui luật sinh tồn và qui luật thiên nhiên “tiết kiệm tối đa năng lượng đang có”.
Sự thất bại của việc chống chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng theo lý thuyết cộng sản, là hiển nhiên và rõ ràng.
1.6 Tính phá hủy xã hội do tham nhũng là ghê gớm, mà ai cũng hiểu được 1 cách không khó khăn lắm.
Chế độ phong kiến hàng nghìn năm không đấu tranh có hiệu quả với tệ tham nhũng ở tầng lớp quan lại phong kiến. Dù rằng luật pháp phong kiến là vô cùng tàn khốc dành cho những kẻ tham nhũng, như chu di cửu tộc, chu di tam tộc, lăng trì, ngũ mã phanh thây.. v..v.. thì tham nhũng vẫn nở rộ, nhất là khi chính quyền phong kiến trung ương suy yếu. Mà ngay cả khi chính quyền trung ương còn mạnh, nếu kẻ tham nhũng khôn khéo, vẫn có thể tạo nên 1 gia tài kếch xù.
Lịch sử của chế độ phong kiến TQ cho chúng ta 1 thí dụ điển hình về tham nhũng : Hoạn quan Hòa Thân đời vua Thanh Càn Long tham nhũng đến độ, khi bị bắt, kiểm kê tài sản của Hòa Thân, tổng giá trị tài sản này to lớn vô cùng tận, vượt mọi tưởng tưởng của con người và bằng 15 năm ngân khố thu thuế của nhà Thanh trên toàn TQ./ xem: Hòa Thân. Wikipedia/
Như vậy, 1 xã hội muốn phát triển, chống tham nhũng phải là 1 trong những ưu tiên của bộ luật dân sự, bộ luật kinh tế, bộ luật nhà nước, bộ luật chính phủ…
Chế độ phong kiến, các chế độ độc tài là những chế độ lạc hậu của loài người, đã đấu tranh không có kết quả với bệnh tham nhũng.