- Sự kiện Thượng viện Mỹ đang tranh luận gay gắt nên phê chuẩn hay không Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 (UNCLOS) không chỉ đơn giản là về việc sử dụng đại dương của thế giới chiếm 70% trái đất như thế nào mà là vấn đề gai góc, phức tạp hơn nhiều, đó là lợi ích an ninh toàn cầu trong vai trò bá chủ thế giới của Mỹ.
UNCLOS với chủ quyền an ninh của các quốc gia ven biển
Theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS), trên nguyên tắc nước ven biển có quyền có 5 vùng biển sau: Nội thủy; Lãnh hải; Vùng tiếp giáp lãnh hải; Vùng đặc quyền kinh tế; và Thềm lục địa.
Xét về tính chất pháp lý, 5 vùng biển mà nước ven biển có quyền đòi hỏi theo UNCLOS có thể được chia thành 2 nhóm quyền khác nhau:
Các vùng biển thuộc chủ quyền của nước ven biển, bao gồm: Nội thủy và lãnh hải.
Các vùng biển có quyền chủ quyền và quyền tài phán bao gồm: Vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa.
Nếu như tinh thần của của vùng đặc quyền kinh tế là bảo đảm quyền lợi kinh tế của nước ven biển, theo đó không khác gì quy chế của vùng biển cả, ngoại trừ kinh tế, thì của lãnh hải là bảo đảm nền hoà bình, trật tự và an ninh của nước ven biển.
Đây là mấu chốt vấn đề mà nhiều quốc gia từ việc tuyên bố lãnh hải của mình rộng bao nhiêu hải lý đến việc phê chuẩn để trở thành thành viên hay không.
Chẳng hạn, trong tình hình Trung Quốc đang bị đẩy vào cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai, Hải quân Mỹ phải đưa Hạm đội 7 tiến vào eo biển Đài Loan, can thiệp và đe dọa Trung Quốc.
Ngày 4 tháng 9 năm 1959, Bắc Kinh ra tuyên bố chính thức về hải phận của họ, bao gồm 12 hải lý từ bất kỳ mốc lãnh thổ nào của Trung Quốc.
Việc Trung Quốc ra tuyên bố về lãnh hải bao gồm đảo Đài Loan trước hết nhằm khẳng định chủ quyền trên biển của Trung Quốc trong tình thế bị đe dọa tại eo biển Đài Loan khi chiến tranh chuẩn bị leo thang, đồng thời, quan trọng hơn là khiến Hải quân Mỹ phải do dự khi vào khu vực bờ biển mà Trung Quốc đã tuyên bố lãnh hải.
Tuyên bố lãnh hải quốc gia là tuyên bố chủ quyền trên biển của quốc gia đó. Tuy nhiên, lãnh hải đó có hợp lý hay không, được thế giới công nhận hay không là vấn đề khác, nhưng dù sao đó là khu vực nhạy cảm đến an ninh quốc gia mà bất cứ hoạt động nào của quốc gia khác đều được coi và có thể sẽ được đối xử như là vi phạm chủ quyền.
Từ ngày 28/5 tới 8/6, ba tàu Mỹ sẽ cùng tập trận chung với hải quân Indonesia. Trong ảnh là tàu USS Vandegrift, một trong ba tàu Mỹ tới cảng biển Tanjung Perak, thuộc thành phố thủ phủ Surabaya của tỉnh Đông Java, Indonesia. Ảnh: Navy.mil
Trước khi có UNCLOS, tùy theo khả năng quốc phòng mà các quốc gia ven biển tuyên bố vùng lãnh hải của mình.
Những nước có lực lượng hải quân hùng hậu thường tuyên bố lãnh hải hẹp, những nước yếu thì tuyên bố rộng hơn. Điều đó chứng tỏ vùng lãnh hải đã gắn liền với an ninh quốc gia ven biển.
Hiện nay khi UNCLOS có hiệu lực thì hầu như các thành viên đếu tuyên bố lãnh hải là 12 hải lý. Riêng Mỹ tuy đã ký nhưng quốc hội Mỹ chưa phê chuẩn, do vậy Mỹ vẫn nằm ngoài sự điều chỉnh của Luật biển 1982 này.
Tại sao Mỹ chưa phê chuẩn?
UNCLOS chưa được Thượng viện Mỹ thông qua bởi phái bảo thủ đảng Cộng hòa Mỹ phản đối kịch liệt mà chúng ta đã nghe họ nói. Nhưng điều mà họ nói với nhau chúng ta không thể nghe mới là quan trọng, quyết định.
Trước đây, Mỹ tuyên bố lãnh hải rộng chỉ 3 hải lý, trong khi đó EEZ (Vùng đặc quyền kinh tế) của họ tới hơn 12 triệu km2 (rộng nhất thế giới), Pháp 11 triệu km2, Trung Quốc chỉ 880.000 km2.
Việc Mỹ tuyên bố lãnh hải mới đây 12 hải lý hay 0 hải lý chả ảnh hưởng gì đến an ninh nước Mỹ cả. Thử hỏi có quốc gia nào dám đem tàu chiến đến đe dọa nước Mỹ không?.
Nhưng các quốc gia khác tuyên bố lãnh hải rộng 12 hải lý là có vấn đề với Mỹ, đặc biệt là những quy chế pháp lý của UNCLOS cho các đảo, quần đảo.
Theo như Mỹ nói thì nó hạn chế tự do hàng hải của Mỹ. Nhưng thực ra theo UNCLOS thì ngay trong vùng lãnh hải, tàu thuyền nước ngoài vẫn đi lại được với điều kiện vô hại (Quyền đi qua không gây hại).
Rốt cuộc, Mỹ lại không muốn cái điều kiện “vô hại” này, vì điều kiện vô hại này đã hạn chế sự can thiệp, răn đe của Mỹ khi cần thiết. Mỹ không muốn ràng buộc, bị điều chỉnh, vào bất cứ luật lệ nào, vì Mỹ là bá chủ thế giới.
Phải chăng đã đến lúc Mỹ phê chuẩn UNCLOS?
Ngày nay, đã đến lúc Mỹ phải phê chuẩn UNCLOS vì đó là nhu cầu bức thiết về chiến lược và sách lược của Mỹ.
Thứ nhất là: Mỹ vẫn là bá chủ thế giới nhưng không còn “muốn gì được nấy”, “nói sao làm vậy” như trước. Sức mạnh đã giảm trong khi có những yếu tố mới nổi, thách thức địa vị thống trị của Mỹ.
Ngày 08/03/2009, cách đảo Hải Nam 75 hải lý về phía Nam, 5 tàu Trung Quốc bao vây một tàu do thám không vũ trang của hải quân Mỹ, tiến tới cách tàu này 8 mét, cản đường tàu này và tìm cách phá hoại những thiết bị thuỷ âm mà tàu này đang kéo trên biển.
Mỹ cáo buộc Trung Quốc vi phạm luật biển quốc tế. Trung Quốc cáo buộc ngược lại là chính Mỹ mới vi phạm luật quốc tế và luật Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế của họ.
Sự kiện này không đơn giản chỉ là chuyện nắn gân giữa hai cường quốc mà còn là do sự khác biệt cơ bản trong quan niệm về quy chế vùng đặc quyền kinh tế giữa một bên là Mỹ - một cường quốc đã thống lĩnh đại dương từ lâu, và bên kia là Trung Quốc - một cường quốc đang bắt đầu thách thức sự thống lĩnh đó.
Tiếp theo, sự kiện biển Đông nóng lên với hành động tranh chấp ngang ngược, phi lý của Trung Quốc bất chấp UNCLOS mà mình là thành viên.
Trung Quốc muốn chứng tỏ rằng họ muốn các nước trong khu vực phải theo luật của Trung Quốc đề ra. Trung Quốc không muốn Mỹ xía vào tình hình tranh chấp “nội bộ” biển Đông để bằng sức mạnh quân sự, kinh tế vượt trội của mình họ dễ bề thâu tóm toàn bộ biển Đông như “đường lưỡi bò” đã vẽ.
Phía Mỹ, chiến lược toàn cầu đã chuyển sang trọng tâm là châu Á-TBD với toàn bộ ưu tiên và sức mạnh.
Coi biển Đông có lợi ích quốc gia, sự trở lại của Mỹ vào châu Á-TBD khi Trung Quốc ngày càng có những quả quyết hơn trong tranh chấp biển Đông, được coi như một nhân tố ổn định trong khu vực, đối trọng với sức mạnh của Trung Quốc khiến các nước nhỏ trong khu vực đỡ bất an hơn với Trung Quốc.
Thứ hai là: Mỹ tuyên bố trở lại châu Á-TBD để đưa Trung Quốc vào “luật chơi”. Mỹ cũng tuyên bố tranh chấp trên biển Đông phải giải quyết theo luật quốc tế (UNCLOS) chứ không bằng vũ lực chiếm đoạt.
Vậy, cơ sở nào để Mỹ buộc Trung Quốc phải tuân thủ UNCLOS khi mình không phải là thành viên?.
Luật của một quốc gia thì bắt buộc mọi công dân phải tuân thủ và chỉ theo một cách giải thích của nhà nước. Nếu không tuân thủ thì sẽ bị trừng trị. Trong khi đó UNCLOS chỉ là cơ sở để các bên thỏa thuận, đối thoại và có nhiều cách giải thích, thậm chí bất chấp như Trung Quốc chẳng hạn.
Vậy, ai là người đứng ra giải quyết và khi cần thiết có thể dùng vũ lực trừng trị, nếu như Mỹ là một quốc gia bá chủ thế giới mà không là thành viên của UNCLOS? Các quốc gia nhỏ, gồm cả đồng minh của Mỹ sẽ nghĩ gì về vai trò, sứ mạng của một cường quốc số 1 như Mỹ?
Vì vậy, khi phê chuẩn UNCLOS thì có nghĩa là MỸ đã chứng tỏ và khẳng định vị thế bá chủ thế giới của mình.
Mỹ sẽ có đủ cơ sở pháp lý và sức mạnh để răn đe bất cứ quốc gia nào vi phạm “luật chơi” mà được đa số các thành viên đồng tình ủng hộ. Mỹ có đủ tư cách “danh chính, ngôn thuận” để “xía” vào khu vực.
Mỹ có đủ cơ sở để bảo vệ tự do hàng hải của Mỹ, chọi lại với luật của Trung Quốc mà theo đó đang biến EEZ thành vùng đặc quyền quân sự (Dựa trên luật 1998 về vùng đặc quyền kinh tế mà Trung Quốc ban hành, năm 2002 Trung Quốc tiếp tục ban hành đạo luật cấm các nước khác khảo sát đo đạc trong EEZ dẫn đến vụ đụng độ với Mỹ nêu trên).
Hơn ai hết Mỹ hiểu điều đó
Lê Ngọc Thống
theo pn