Nguyễn Tất Thành năm 1911 này khác với ông Hồ đứng đái ... í lộn ... đứng đọc tuyên ngôn 1945 ...
Rồi ông Hồ đi bán muối 1969 được Liên xô ướp xác...
Rồi đến năm 1983 cái khô bằng SÁP trong Ba Đình là khác nữa ...
Haha ông hồ nào mà tụi việt cộng đang thờ vậy ta ...
Hồ tàu hay Hồ ta vậy ta
Sáng sớm, thằng Tang, con ông Tính và bà T́nh – một gia đ́nh cách mạng – đă sang nhà gơ cửa. Tôi già rồi nên dậy rất sớm, chứ gặp người khác đang ngủ mà bị đánh thức kiểu này th́ chắc thằng Tang sẽ được một trận “hồn vía lên mây.”
- “ Làm ǵ mà mày qua ‘ám’ tao sớm vậy Tang ?”
Tôi vừa hỏi vừa mở cổng cho nó vào. Mặt nó như chưa được ngủ, vừa ngáp vừa trả lời :
- “Ông Tư có trà nóng không cho con một ly, nước của con Pha bán cà phê chưa sôi.”
Tôi kéo nó vào trong nhà, chứ không ngồi ngoài sân như thường lệ. Mấy ngày nay Sài G̣n tự nhiên trở rét, hoa lá c̣n teo, huống chi người, vào nhà ngồi cho chắc ăn.
Uống xong hai tách trà Thái Nguyên, thằng Tang mới thủng thỉnh nói:
- “Ông Tư coi ba con được không. Mấy ngày hôm nay rét gần chết mà không cho bật máy sưởi, c̣n nói con:
‘Mày theo gương gia đ́nh chị Thúy đó, mùa Đông người ta chống rét theo kiểu bác Hồ , vừa yêu nước, vừa tiết kiệm, không như mày, xài hoang phí quá!’ Ổng có điên không ông Tư ?”
“Nó là cha mày, mà mày không biết th́ sao tao biết ?” Tôi hỏi ngược lại nó :
- “ À mà con Thúy là con nhỏ nào ?”
Thằng Tàng trợn mắt nh́n tôi :
“Trời ơi ông Tư ! Nhà văn, nhà báo nổi tiếng đó ! Đỗ Bích Thúy, trung tá quân đội đó ông Tư.” Tôi nói :
- “ Kệ nó chứ, mà nó mắc mớ ǵ chuyện cha con mày ?”
Thế là được dịp, thằng Tang mới kể, trong chương tŕnh Quán Thanh Xuân ǵ đó của Đài VTV ngoài Bắc, có “giao lưu, gặp gỡ” một số người nổi tiếng, nói chuyện về đề tài mùa Đông, trong đó có bà nhà văn Đỗ Bích Thúy này.
- Bả kể hồi nhỏ , những buổi tối mùa Đông ở Hà Giang, trời rét lắm, nên bố bả lúc nào cũng nướng ba cục gạch trên bếp trong hai tiếng đồng hồ.
Ổng bảo đó là kiểu chống rét của bác Hồ hồi ổng c̣n lang thang ở Paris t́m đường cứu nước.
Bà Thúy nói ba cục gạch đó được nhét vào nhiều lớp bao tải, quần áo cũ, rồi nhét dưới lớp chăn bông cho bố mẹ bả một cục, hai anh trai của bả chung một cục, c̣n bả được riêng một cục.
Bả nói gia đ́nh bả không thể đi qua những mùa Đông nếu không có những cục gạch hồng của bố bả.
- “Liệu có đáng tin không ông Tư ? À mà ông Tư biết vụ bác Hồ chống rét bằng cục gạch không ?”
Tôi nói :
- “Tao là người miền Nam, nên không có thằng bác thằng chú nào hết.
C̣n chuyện ông Hồ lấy tên Trần Dân Tiên rồi tự ca ngợi khi xưa th́ c̣n được, chứ giờ dân người ta sáng mắt hết rồi, đâu có ai tin nữa. Thế nên chuyện con nhỏ trung tá nhà văn quân đội ǵ đó kể chuyện chống rét theo kiểu ông Hồ th́ mày đừng tin, có ngày cháy nhà…”
Thằng Tang cắt ngang lời tôi :
- “ Th́ đó ông Tư ! Hôm qua con bỏ cục gạch vô ḷ nướng, bật lên 400 độ C, nung hai tiếng xong mang ra bọc vô mấy lớp bao tải, xong cho vô cái mền bông dày cộm của con. Lát sau ngửi thấy mùi khét, mở ra mù mịt khói từ bao tải, làm c̣i báo cháy hú lên điếc cả tai .”
Không thể hiểu nổi, thời đại này mà c̣n có một nhà văn lên trên tivi bốc phét như thế. Từ câu chuyện xạo ông Hồ chống rét bằng gạch ở Paris hoa lệ, nhà văn này đưa viên gạch về chiến khu luôn cho nó gần gũi.
Vậy mà cả đám văn nghệ sĩ đàn anh, đàn chị, cứ ngồi lơ ngơ, láo ngáo nghe không sót một chữ, uống từng lời như rót mật vào tai, nhưng lại không dám căi một tiếng.
Bố bảo cũng chẳng dám căi. Nếu nói nhà văn đảng viên này nói xạo th́ như gián tiếp nói ông Hồ xạo à !
Tôi nói với thằng Tang :
- “ Thằng cha mày là đảng viên, nên bị ngu là phải lẽ , c̣n mày th́ mở to con mắt ra, dùng cái đầu để suy nghĩ. Trên đời này, từ cổ chí kim chưa có thằng nào, dù nghèo khổ đến đâu chăng nữa, cũng dám ôm cục gạch đỏ hồng để ngủ. Mất ‘giống’ như chơi.”
Tôi nhớ có một câu chuyện vui về cục gạch đỏ hồng của ông Hồ ở Paris trên mạng. Nhân dịp này kể cho thằng Tang nghe, để cho nó mở mang đầu óc. Chuyện như thế này:
- Ngay sau khi “nghe như sét đánh ngang tai, bác Hồ đang sống chuyển sang từ trần”, về chầu các cụ tổ Mác-Lê-Mao, Bộ Chính Trị quyết định lập một Viện Bảo Tàng cho nhân vật đầy bí ẩn này.
Thế là các Ṭa Đại sứ Việt Nam (TĐSVN) tại các quốc gia mà ông Hồ từng sinh sống ra thông báo, đại khái là ai có giữ những kỷ vật, h́nh ảnh, hay bất cứ thứ ǵ liên quan đến ông Hồ, nếu mang lại tặng cho TĐSVN, sẽ được trọng thưởng.
Tại Paris, sau mười ngày thông báo trên báo chí, đài phát thanh và truyền h́nh, có một bà cụ già yếu hom hem chống gậy ḷ ṃ đến văn pḥng sứ quán, xin gặp người phụ trách chương tŕnh đổi kỷ vật của ông Hồ lấy tiền.
Giọng bà cụ như muốn hết hơi v́ đi bộ tới :
– Tôi biết rơ pḥng trọ mà ông Nguyễn Ái Quốc (tên ông Hồ hồi ở Pháp) đă từng trọ suốt thời gian ở Paris.
Viên lănh sự của TĐSVN vui mừng hỏi :
– Thế bà có h́nh ảnh về căn pḥng trọ đó à ?
Bà cụ nhỏ nhẹ nói :
– Tôi không có h́nh ảnh ǵ về căn pḥng đó hết, nhưng tôi có một cục gạch mà ông Nguyễn thường sưởi ấm mỗi đêm.
Viên lănh sự vui mừng nghĩ, nếu mang được cục gạch này về là ḿnh không những được thưởng to mà c̣n được lên chức nữa cũng nên. Hắn hỏi không giấu được vẻ vui mừng:
– Ôi… Quư hóa quá ! Thế bà c̣n giữ được… cục gạch đó à ?
Bà cụ vẫn nhỏ nhẹ :
– Thưa ông, đương nhiên ạ ! Tôi chỉ có một cục, một số bà nữa có, nhưng họ chết hết rồi.
– Thế th́ hay quá, bà có sẵn sàng giao lại cục gạch quư giá đó cho chúng tôi không ạ! Đây là một kỷ vật quư giá của quốc gia chúng tôi.
Gọi là “quốc bảo” đấy cụ ạ. Chúng tôi sẽ hậu thưởng cho bà đấy.
Nhưng, xin lỗi bà, chúng tôi phải cho thử nghiệm tuổi của cục gạch này trước, rồi mời đưa tiền thưởng cho bà được.
– Vâng, ông đừng lo, tôi có giấy tờ chứng minh đàng hoàng, đúng tuổi, đúng thời gian ông Nguyễn ở đây.
– Ôi ! Thế cơ à, cục gạch mà cũng có giấy tờ à! Bà vui ḷng cho chúng tôi xem…
Bà cụ chậm răi rút ra một tờ giấy đă cũ vàng, nhưng rất thẳng thớm, chứng tỏ bà rất quư, và trân trọng nó.
Viên lănh sự cầm xem và nhíu mày lẩm bẩm :
– 1919, Ma chérie Marie… (tạm dịch: Marie cưng của anh…)
– Cái giấy này là ǵ vậy ạ? Bà có đưa lộn không?
Bà cụ trả lời :
– Không nhầm không lộn ǵ cả đâu, thưa ông . Vâng, tôi là một trong những… ‘cục gạch nung mùa đông của anh Nguyễn’ lúc đó đấy ạ !
Thằng Tang nghe đến đây, rú lên như nhà bác học Archimedes năm xưa t́m ra định luật về sức đẩy của nước khi đang tắm.
- “Ô ! Con hiểu rồi ! Con hiểu rồi. Cái ǵ chứ mấy cục gạch này con có nhiều lắm, cứ là ‘vô tư’! Tối nay con rủ một cục đến ngủ chung. Hehehe…”
HỒ CHÍ MINH KHÔNG PHẢI LÀ TÁC GIẢ ‘’NGỤC TRUNG NHẬT KƯ’’ Giáo Sư LÊ HỮU MỤC
HỒ CHÍ MINH KHÔNG PHẢI LÀ TÁC GIẢ ‘’NGỤC TRUNG NHẬT KƯ’’ - Giáo Sư LÊ HỮU MỤC
HỒ CHÍ MINH KHÔNG PHẢI LÀ TÁC GIẢ ‘’NGỤC TRUNG NHẬT KƯ’’ - Giáo Sư LÊ HỮU MỤC
LAI LỊCH BẤT MINH CỦA NGỤC TRUNG NHẬT KƯ
Đây là tất cả lịch sử của cuốn Ngục Trung Nhật Kư :
Sau 1945 có một ngƣời từ miền núi về Thủ Đô run run giao cho nhà cầm quyền một cuốn sổ tay b́a xanh đă bạc màu, bảo đó có lẽ là tập thơ của một chiến sĩ cách
mạng nào đó.
Cuốn sổ đƣợc trao lại cho Viện Bảo Tàng Cách Mạng Việt Nam cất giữ tại Pḥng Mặt Trận Thống Nhất Dân Tộc Phản Đế và Mặt Trận Việt Minh.
Không ai biết danh tính người nông dân miền núi đó, cũng không ai nói là ḷng tốt của anh, hay ít nhất chuyến đi xa của anh từ miền núi về đến đồng bằng, rồi từ đồng bằng về đến Thủ Đô có được đền bù hay không, người ta cũng không biết đến tên tuổi của người đứng ra nhận quyển sổ, ngày nhận quyển sổ đó, không ai thèm ghi ?
Như thế là thế nào ?
Như thế có nghĩa là cuốn số đó nhất định không mang tên Hồ chí Minh, nhất định không, bởi v́ con ngƣời lúc nào cũng chủ trương :
- ‘’ Không có, không thấy, không biết’’ ấy dại ǵ mà để tên ḿnh vào một cuốn sổ cho kẻ thù của ḿnh biết .
Chữ viết nhất định cũng không phải của Hồ chí Minh, v́ nếu nghi ngờ là của Hồ chí Minh th́ những ông :
- Phạm văn Đồng
- Vơ nguyên Giáp
- Vũ Anh đă nhận ra cũng như năm 1943, họ đă nhận ra chữ họ Hồ trong bài : Tân xuất ngục, học đăng sơn (Mới ra tù, tập leo núi).
Những đề tài ghi trong cuốn sổ chắc cũng không có ǵ đặc biệt bởi v́ từ 1945 đến 1959, không một chuyên viên nào trong Viện Bảo Tàng Cách Mạng Việt Nam (Viện Louis Finot cũ) đă lưu ư đến nó.
Trần dân Tiên, mà măi đến nay ta mới biết chính là Hồ chí Minh , ngay từ những năm đầu kháng chiến chống Pháp, đă viết :
- Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, kể khá tỉ mỉ về thời gian Hồ chí Minh bị giam trong các nhà tù ở Quảng Tây, cũng cho biết ở trong tù Hồ có làm
thơ, nhưng Trần dân Tiên không nói đến tập thơ.
Tố Hữu trong báo cáo đọc trước đại hội lần thứ hai của đảng, tháng 2.1951, hết lời ca ngợi văn Hồ Chủ Tịch trong những quyển sách giáo dục tư tưởng, trong những lời hiệu triệu, những bức thư... nhưng hoàn toàn không nói đến truyện, cũng không nói đến thơ.
Măi đến năm 1958 , sau khi đă dẹp xong vụ Nhân Văn-Giai Phẩm, và để đề pḥng những vụ nổi dậy khác có thể bùng nổ bất cứ lúc nào, Trung ương Đảng Cộng Sản trong đó có ủy viên chính thức Tố Hữu, anh hùng trong vụ dẹp Nhân Văn-Giai Phẩm vừa qua, mới nhận thấy nhu cầu cấp bách l là phải tăng cường tập trung quyền lănh đạo văn nghệ vào tay lănh tụ.
HỒ CHÍ MINH KHÔNG PHẢI LÀ TÁC GIẢ ‘’NGỤC TRUNG NHẬT KƯ’’ Giáo Sư LÊ HỮU MỤC
Cho đến năm 1958, Hồ Chí Minh chỉ mới viết được khoảng trên dưới 30 bài văn vần, phần nhiều là những bài vè kháng chiến mà giá trị thi ca khó đựợc những nhà thơ nhà văn như :
- Hoàng Cầm
- Trần Dần
- Văn Cao
- Nguyễn Mạnh Tường chấp nhận.
Làm sao cho tổng số các bài thơ được nhiều hơn gấp đôi gấp ba ?
Làm sao cho các bài thơ thực sự có chất thơ xứng đáng là tập thơ của một người cộng sản vĩ đại, hơn nửa thế kỷ đă không ngừng phấn đấu cho lư tưởng cộng sản chủ nghĩa, cho tổ quốc, cho loài người ?
Thế là họ nghĩ ngay đến cuốn sổ tay vô danh b́a màu xanh, họ kéo nó ra khỏi giấc ngủ yên lành của nó trong Viện Bảo Tàng Cách Mạng, họ chuẩn bị mọi cách để có thể giao cho nó thi hành một nhiệm vụ lịch sử độc đáo :
Nhiệm vụ khẳng định và đề cao thi tài của lănh tụ Hồ chí Minh "muôn vàn kính yêu’’ .
HCM. Ảnh Internet
Ta thử nh́n cuốn sổ tay gần hơn, tờ b́a màu xanh đă bạc màu, vào năm 1945 mà nó đă bạc màu th́ cuốn sổ này, nếu là của Hồ chí Minh, th́ nó phải ở trong tay ông đă lâu, ít nhất là phải mười, mười lăm năm về trước.
Trong đầu cuốn sổ ghi bốn chữ Hán Ngục Trung Nhật Kư dƣới bốn chữ này là hai hàng số 29.8.1932/10.9.1933, không biết là tác giả hay ai ghi, ở dưới hai hàng số là một bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt vần trắc, kèm theo một h́nh vẽ hai nắm tay bị xích đang giơ lên cao.
Phần bên trong có tất cả 47 trang ghi hơn 100 bài thơ.
Những trang cuối ghi một số mục nhỏ có tính chất thời sự.
Tên tác giả hoàn toàn không có . Viện Văn Học được giao trách nhiệm tổ chức việc dịch tập thơ từ chữ Hán ra tiếng Việt.
Nhiều nhà thơ (Tố Hữu, Nam Trân...), nhiều nhà văn (như Đặng Thái Mai, Hoài Thanh) đă tham gia phiên dịch hoặc hiệu đính bản dịch xuôi và dịch thơ.
Người đóng góp nhiều nhất là nhà thơ Nam Trân, tác giả Huế. đẹp và thơ (1939), lúc ông là ủy viên ban Chấp Hành Hội Nhà Văn Việt Nam, về công tác tại Viện Văn Học phụ trách tiểu ban dịch tập thơ chữ Hán Ngục Trung Nhật Kư ra tiếng Việt.
Công tác dịch bắt đầu từ năm 1959 , đầu năm 1960 th́ xong, tác phẩm mang tên Việt Nam là :
- Nhật Kư Trong Tù, tác giả là Hồ chí Minh, phần chữ Hán do Phạm phú Tiết viết, nền vẽ của Họa Sĩ Nguyễn đỗ Cung, b́a do Họa Sĩ Phạm Hoàng tŕnh bày, in xong đúng vào dịp mừng Hồ chí Minh 70 tuổi Hoài Thanh cho biết :
- ‘’Tập Ngục Trung Nhật Kư ngay từ lần đầu đă in trên 50 vạn bản mà vẫn không đủ đáp ứng yêu cầu của người đọc...
Chúng ta không những muốn đọc mà c̣n muốn nghe ngâm, nghe nói.
Từ ngày Ngục Trung Nhật Kư ra đời, đă có hàng ngàn cuộc nói chuyện ở các đơn vi bộ đội, các cơ quan, các hội nghi, các trường học, các xí nghiệp, các hợp tác xă ở khắp nơi. Hàng triệu người đă say sưa nghe thơ Bác.
Có người nghe đi nghe lại đến mấy lần. Có nhiều người đă khóc v́ thương Bác muốn cứu ḿnh mà phải chịu nhiều khổ nạn...
Đó là ở trong nước.
Ở ngoài nước, tập thơ vừa 3 ra mắt bạn đọc là liền được dịch, được giới thiệu, được nhiệt liệt hoan nghênh ở tất cả các nước xă hội chủ nghĩa anh em như :
- Liên Xô
- Cu Ba
- Đông Đức
- Tiệp Khắc
- Ba Lan
- Lỗ-ma-ni.v.v...hoặc cả ở các nước tư bản như :
- Anh
- Pháp, Ư, kể cả Mỹ.
Tập thơ đă có tác dụng làm xáo trộn nhiều tâm hồn, người ta yên lặng nghe hết những âm vang của tập thơ và nghe những âm vang ấy cứ ngân dài mă măi
Từ ngày 19.5.1960 trở đi , tác giả tập thơ Ngục Trung Nhật Kư đă được khẳng định dứt khoát là Hồ Chí Minh, và đây là một thành công vĩ đại của Ban Tuyên Giáo.
Ta hăy nghe Viện Văn Học giới thiệu tuyệt tác này của họ :
- ‘’ Đó là cuốn sổ tay của Hồ Chủ Tịch gồm những bài thơ mà Người đă viết trong cảnh lao tù từ mùa Thu 1942 đến mùa Thu 1943’
.
Viện Văn Học nhấn mạnh về hoàn cảnh sáng tác tập thơ :
- '' Tháng 8.1942, vị lănh tụ của chúng ta trên đường công tác, đi từ Cao Bằng sang Trung Quốc, đă bị bọn Tưởng Giới Thạch bắt vừa lúc 5 qua khỏi biên giới Việt-Trung và bị giải lui tới hơn một năm trời qua mấy chục nhà lao Tỉnh Quảng Tây
HỒ CHÍ MINH KHÔNG PHẢI LÀ TÁC GIẢ ‘’NGỤC TRUNG NHẬT KƯ’’ Giáo Sư LÊ HỮU MỤC
Qua sự dàn dựng rất công phu và có tính sáng tạo rất cao của Viện Văn Học, các bài thơ được diễn ra theo một tŕnh tự thời gian vô cùng chặt chẽ.
Đầu tiên là ngày Hồ bị bắt ở :
Phổ Túc Vinh, được xác định là ngày 29.8.42 (bài số 3), những ngày bị giải về nhà lao Tỉnh Tây gần biên giới Việt Nam (các bài số 4-25) ngày 10.10.42 bị gửi trả về nhà lao Thiên Bảo (bài số 26)
Từ đó bị giải đến nhà lao :
- Long Tuyền (bài số 29),
- Điền Đông (bài số 30)
- Quả Đức (số 37)
- Long An (số 40)
- Đến nhà lao Đồng Chính là ngày 2.11.42, rồi đi Nam Ninh, ở đó vào những ngày 11 ,12, 14 tháng 11năm 42 (các bài số 67, 68, 69, 70)
- Đến 18.11.42 bị giải đi :
- Vũ Ninh (bài số 76)
- Bào Hơng (bài 77)
- Ngày 22.11.42 đến nhà lao Tân Dương (bài 81)
- Đến Lai Tân bằng xe lửa (bài 86), sau đó đến Liễu Châu vào ngày 9.12.42 sau khi đă bị bắt hơn 100 ngày (bài số 89).
Bài số 93 c̣n cho biết rơ vào ngày 29.12.42, tác giả đă bị bắt bốn tháng, bị giam ở nhà lao Quế Lâm 40 ngày, tức là măi cho đến 24.3.43 mới lại trở về nhà giam Liễu Châu lần thứ hai
Ở đó ăn Tết Thanh Minh ngày 6.4.43 (bài l01) đến đầu mùa Thu, tức ngày 8.8.43 (bài số 107, l08) cho đến ngày kỷ niệm một năm bị bắt, tức là ngày 29.8.43 (bài số 1l0).
Sau đó là những ngày cuối cùng trong tù, kể từ ngày 30.8.43 đến ngày 10.9.43 (các bài số 111, 112,113).
Sơ đồ tuyến đường Hồ Chí Minh bị chính quyền Tưởng Giới Thạch giải đi sau khi bị bắt, từ tháng 8/1942- 9/1943 ( nguồn: lưu trữ Trung Quốc)
Tŕnh tự thời gian này làm mốc cho 112 bài thơ rơ rệt có nội dung liên hệ tới lao tù :
Những cảnh sinh hoạt hằng ngày của tù nhân, t́nh huống và tâm tư của họ. Những cảnh những việc gặp trên các nẻo đường chuyển lao.
Suy nghĩ và cảm xúc của nhà thơ trong những ngày bị giam cầm v.v...nội dung tập thơ đă được Nguyễn hoành Khung chính thức phân tích trong Tự Điển Văn Học.
Ta có thể tóm lược những ư chính như sau :
Trƣớc hết, tập thơ thể hiện một tấm ḷng nhân ái sâu xa :
Tác giả ít nói đến những đau khổ ghê gớm của ḿnh, chỉ nói đến những niềm vui, nỗi khổ của những người chung quanh, quan tâm chu đáo đến đời sống cụ thể của mọi ngƣời, của những tù nhân thuộc lớp dưới đáy cặn bă của xă hội Tưởng Giới Thạch, phân biệt họ với bọn tù nhà giàu ngày ngày no rượu thịt.
Tưởng Giới Thạch vào năm 1943
- Trên đường chuyển lao, nhà thơ chia sẻ vui buồn với người nông dân đang lao động trên đồng ruộng, ngƣời phu đường dăi nắng dầm mưa vất vả, cô gái nghèo xay ngô xóm núi...
Chính trên cơ sở ḷng nhân ái sâu rộng mang tính chất chiến đấu mạnh mẽ đó, nhà thơ đă viết nhiều bài thơ châm biếm sắc sảo, đả kích thâm thúy chế độ nhà tù Tưởng Giới Thạch, h́nh ảnh thu nhỏ của xă hội Trung Quốc thối nát khi đó.
George Marshall gặp vợ chồng Tưởng Giới Thạch ở Nam Kinh năm 1946
- Trong suốt chuỗi ngày bị tù, nỗi niềm thương nhớ đất nước và khao khát tự do để trở về chiền đấu luôn luôn ám ảnh, day dứt nhà thơ yêu nước...
Lời thơ càng ngày càng căm uất, nghẹn ngào, biểu lộ niềm khát khao chiến đấu đến cháy ruột của người chiến sĩ mà lẽ sống đấu tranh đă trở thành máu thịt.
- Một điềm nổi bật nữa trong Ngục Trung Nhật Kư là tinh thần chiến thắng, chủ nghĩa lạc quan cách mạng, làm nên ánh sáng tràn ngập mỗi trang thơ. Đó là tiếng cười hồn nhiên khỏe mạnh cất lên giữa cảnh ngộ vô vàn khổ cực…
Đó là h́nh ảnh lồng lộng, ung dung tự tại của nhà thơ...của một người chiến thắng, thật sự làm chủ bản thân, là người tự do, một ông tiên.
- Cuối cùng, Ngục Trung Nhật Kư c̣n mang ư nghĩa một tuyên ngôn thi ca :
- " Nay ở trong thơ nên có thép, Nhà thơ cũng phải biết xung phong ’’.
Ngục Trung Nhật Kư đă thể hiện sáng ngời chất thép cách mạng đó...Đó là chất thép rất ngọt, thép mà thơ, thể hiện bản lĩnh tuyệt vời của ngƣời chiến sĩ cộng sản vĩ đại mang tâm hồn một nhà thơ lớn...
Nguyễn hoành Khung kết luận :
- ‘’Việc xuất bản Ngục Trung Nhật Kư trở thành một sự kiện quan trọng trong đời sống văn học của dân tộc. Từ đó, tác phẩm đă gắn bó thân thiết với quần chúng nhân dân, có sức cổ vũ mạnh mẽ mọi ngƣời vươn lên trong sự nghiệp cách mạng.
Sự kiện quan trọng ấy được đề cập trong tác phẩm của tất cả mọingười cầm bút, từ những vị lănh đạo đảng và nhà nước như :
- Lê Duẩn
- Trường Chinh
Phạm văn Đồng, đến các nhà lư luận văn học, phê b́nh văn
học như :
- Trần huy Liệu
- Hoài Thanh
- Vũ Khiêu
- Hoàng xuân Nhi
- Nguyễn văn Hạnh
- Trương Chính, đến các nhà thơ nhà văn tên tuổi như :
- Xuân Diệu
- Chế lan Viên
- Luu trọng Lư
- Hoàng trung Thông
- Nguyễn đ́nh Thi
- Nguyễn đăng Mạnh, tất cả nhiệt liệt hoan hô Ngục Trung Nhật Kư như là :
- Bản cáo trạng đanh thép, phẫn nộ, sôi sục vạch mặt chỉ tên những kẻ thù
của loài người
Ngục Trung Nhật Kư c̣n mang nặng những suy nghĩ của một tâm hồn lớn, một tâm hồn cao thƣợng và nhân ái .
Ngục Trung Nhật Kư là tác phẩm văn học lớn có tác dụng giáo dục sâu sắc phẩm chất
và đạo đức làm người cho các thế hệ ngày nay và sau này
Trông không khí tán tụng tưng bừng náo nhiệt ấy, chỉ có nhà văn Đặng thai Mai là giữ được thái độ tương đối ngay thẳng nhưng vẫn không tránh được đây đó vài từ ngữ thậm xưng.
Ông đă phát hiện được " trong trường hợp cấu tạo nên Ngục Trung Nhật Kư một vài nét ly kỳ ", một vài t́nh tiết lạ lùng không ăn khớp với nhau và không hợp với luận lư của ông.
Câu chuyện bắt đầu có lẽ vào những năm 1958-1959. Nhà văn Đặng thai Mai vừa được bầu làm Chủ Tịch Hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam.
Tố Hữu vừa đập tan bọn Nhân Văn-Giai Phẩm và vừa trực tiếp tổng kết một cuộc đấu tranh quan trọng trong văn nghệ bằng bản cáo toàn diện Qua cuộc đấu tranh chống nhóm phá hoại Nhân Văn-Giai Phẩm trên mặt trận văn nghệ.
Cũng trong thời gian này, Đặng thai Mai dành hết th́ giờ vào việc hoàn tất cuốn Văn thơ Phan Bội Châu, thần tượng một thời của ông.
Nhà văn cũng vừa cho in xong cuốn Trên đường học tập và nghiên cứu tập I th́ được Trung Ương Đảng Ủy Nhiệm hiệu đính bản Việt dịch Ngục Trung Nhật Kư do nhà thơ Nam Trân thực hiện.
Trước kia, vào năm 1955 , khi đọc cuốn Những mẫu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch do Trần dân Tiên viết, Đặng thai Mai rất chú ư đến những đoạn nói về Hồ Chủ Tịch bị bắt giam .
- Một lần ở Hồng Kông năm 1932-1933 và lần ở Quảng Tây năm 1942-1943 .
Đọc đoạn văn của Trần dân Tiên nói về những ngày tù của Hồ chí Minh ở Quảng Tây, nào là cụ Hồ bị trói giật cánh khuỷu, cổ mang ṿng xích, đi măi..đi măi nhưng vẫn không biết đi đâu…
Dầm mưa dăi nắng, trèo núi qua truông...Gian khổ như vậy nhưng cụ vẫn vui vẻ, thỉnh thoảng cụ Hồ làm thơ v.v...và so sánh những đề tài thơ được nói đến trong đoạn văn này với nội dung của Ngục Trung Nhật Kư, Đặng thai Mai hoàn toàn tin tưởng , đúng như Ban Tuyên Giáo đă quyết định, Hồ chí Minh thực sự là tác giả của tập thơ Ngục Trung Nhật Kư.
Nhưng trong thời gian hiệu đính bản dịch kéo dài hàng mấy tháng, Đặng thai Mai có dịp đọc tập thơ một cách toàn bộ và kỹ lưỡng hơn, nhiều câu hỏi dồn dập từ bóng tối của tiềm thức hiện ra và có tác dụng làm cho đầu óc ông bị xáo trộn.
Sự xáo trộn càng ngày càng dữ dội nhất là khi ông suy nghĩ về những con số thời gian đề ở ngoài b́a cuốn sổ tay :
29.8.1932 , 10.9.1933.
Tại sao những thời gian nói đến trong tập thơ đều có liên quan xa gần đến những ngày bị giam cứu ở Quảng Tây năm 42-43 mà ngoài b́a lại để là năm 32-33 ?
Đó là chính tác giả đă đề ra hay do một người khác ? Người khác ấy là ai ? Tại sao dám đề những con số kỳ quặc ấy vào tác phẩm của vị chủ tịch tối cao của quốc gia ?
Ông đem câu chuyện hỏi Vơ nguyên Giáp đúng lúc ông Tướng này đang chuẩn bị cho người ta ghi lại bài kư của ông nói về Hồ Chủ Tịch, người cha của quân đội cách mạng Việt Nam.
Vơ nguyên Giáp kể :
- " Chúng tôi lên đường công tác Bác cũng ra ngoài nước. Một hôm , ở Ngân Sơn, nhận được thư hỏa tốc của anh Phạm văn Đồng, mở ra, thấy tin...Bác...đă mất ở trong ngục..."
Tôi c̣n nhớ, sau mấy hôm bối rối ấy, tôi lại tiếp tục xuống châu Ngân Sơn...ít lâu sau, chúng tôi bỗng nhận được một tờ báo ở Trung Quốc gởi về. B́a tờ báo ấy có mấy hàng chữ, đúng nét chữ Bác, viết :
- "Chúc chư huynh ở nhà mạnh khỏe và cố gắng công tác. Ớ bên này b́nh yên..."
Thế mà đă làm chúng tôi phải mấy tháng trời ngao ngán, đau thương, lo lắng...
Sau một thời gian, chúng tôi tiến về Châu Chợ Ră...sang Đông Viên, đến Nghĩa Tá, rồi thẳng về chân làng Cóc phối hợp với các chiến sĩ của anh Chu văn Tấn...
Sau đó, tôi trở về đến Cao Bằng th́ vừa Tết. Tết đây là mồng một tháng giêng năm Quí Mùi, tức là ngày 5.2.1943.
Giáo sư Đặng Thai Mai và Đại tướng Vơ Nguyên Giáp (con rể)
Giả thiết Hồ chí Minh bị bắt ở Phố Túc Vinh, Trấn Thiên Bảo vào ngày 29.8.1942 như các nhà nghiên cứu cộng sản đă qui định, th́ trước ngày 5.2.1943 một hai tháng, tức cuối năm 1942, họ Hồ đă được Tướng Trương Phát Khuê tha về.
Như vậy, theo Vơ nguyên Giáp, Hồ chỉ bị bắt giam ba hay bốn tháng chứ không hơn.
Nếu như vậy, Đặng thai Mai suy nghĩ, Bác Hồ không thể là tác giả của Ngục Trung Nhật Kư được, v́ thời gian trong tập thơ này kéo dài măi đến tháng 8, tháng 9.1943 mới chấm dứt.
Sự t́nh cờ lại đưa Đặng thai Mai đến nói chuyện với Nguyễn lương Bằng, nhưng Nguyễn hoàn toàn không biết ǵ đến việc họ Hồ bị bắt giam ở Quảng Tây .
Cụ chỉ nói về vụ Hồng Kông :
- " Một buổi tối, ở Tân Trào, chúng tôi đốt đuốc vào thăm Bác...Tôi nhắc lại chuyện hồi ở tù đọc báo thấy tin Bác bị bắt, rồi tin Bác mất v́ ho lao.v.v...Bác nói :
- Đúng đấy . Hồi ấy ḿnh cũng đọc cái tin ấy...Tôi hỏi sao nó không làm án và Bác lại thoát được ? . Bác kể :
Nhờ có Cứu Tế Đỏ hết ḷng giúp đỡ lại có một Thầy Kiện Anh căi cho ḿnh...
Hồi ấy, vào khoảng năm 1933, bọn Tưởng đang khủng bố dữ, năm 1935, Bác dự Đại hội quốc tế cộng sản lần thứ bảy, đầu năm 1941, Bác về Pắc-pó…
Buổi tối hôm ấy, Bác và tôi nhắc lại những ngày ở Quảng Châu. Ngoảnh đi ngoảnh lại chốc đă hai mươi năm. Bác nhớ rất kỹ...
Bác nhớ rất kỹ mà Bác lại không nhớ lại những ngày nằm tù ở Quảng Tây năm 42-43, thế th́ những ngày tù ấy chả có ǵ đặc biệt khả dĩ có thể làm Bác vui, cũng chẳng có thơ văn ǵ hay ho có thể làm Bác nhớ, như vậy, câu chuyện Bác viết Ngục Trung Nhật Kư năm 42-43 là câu chuyện không có rồi , đó chỉ là một câu chuyền do Ban Tuyên Giáo dựng đứng mà thôi.
Đặng thai Mai nhất định phải hỏi cho ra lẽ tại sao có những con số 32-33. Ông kể lại :
- " Trong thời gian Viện Văn Học hiệu đính bản dịch tập Ngục Trung Nhật Kư (1959-1960), chúng tôi đă đề cập lên Bác câu hỏi về điểm này, qua Ban Tuyên Giáo. Và đă được trả lời :
- Hai con số trên đây là sai, đúng ra là 1942-1943".
Khi đề đạt câu hỏi này lên Hồ chí Minh, Đặng thai Mai không đứng trên tư thế cá nhân mà trên cương vị Chủ Tịch Hội Liên Hiệp Văn Học Nghệ Thuật Việt Nam, ủy viên Viện Văn Học đặc trách hiệu đính bản dịch Ngục Trung Nhật Kư, nói với tác giả của Ngục Trung Nhật Kư.
Như vậy, trên hai tư cách quan trọng này, Hồ chí Minh có nhiệm vụ phải phúc đáp câu hỏi rơ ràng mang tính văn bản học chuyên môn của Đặng thai Mai.
Hồ chí Minh đă không trả lời, không giải thích , mặc dầu Hồ thường được giới thiệu như là một lănh tụ rất thân dân, hay giải đáp những thắc mắc dù nhỏ nhặt của nhân dân.
Hồ chí Minh lại là tác giả của cuốn sách mà nhà văn Đặng thai Mai đang hiệu đính bản dịch, như vậy, không ai có quyền, có khả năng, có uy thế hơn Hồ chí Minh để cắt nghĩa cho Đặng thai Mai hiểu cái lư do hay con người nào đă viết nên mấy con số lạ lùng kia, và những con số ấy có thực sự muốn ghi soạn niên của tác phẩm hay không ?
Đối với nhà văn bản học, biết soạn niên tác phẩm là điều tối quan trọng, nhiều khi chỉ bằng vào soạn niên của một tác phẩm mà nhà văn bản học có khả năng xác lập phụ quyền và cân nhắc giá trị của tác phẩm ấy.
Hồ chí Minh giữ yên lặng về điềm này là thực sự có điều khuất tất.
V́ thế để ve vuốt Đặng thai Mai, họ Hồ vội vàng phong cho Đặng làm Viện Trưởng Viện Văn Học, chức vụ bao trùm mọi sinh hoạt văn học trong phạm vi cả nước.
Diễn Đàn Người Việt Hải Ngoại. Tự do ngôn luận, an toàn và uy tín. V́ một tương lai tươi đẹp cho các thế hệ Việt Nam hăy ghé thăm chúng tôi, hăy tâm sự với chúng tôi mỗi ngày, mỗi giờ và mỗi giây phút có thể. VietBF.Com Xin cám ơn các bạn, chúc tất cả các bạn vui vẻ và gặp nhiều may mắn.
Welcome to Vietnamese American Community, Vietnamese European, Canadian, Australian Forum, Vietnamese Overseas Forum. Freedom of speech, safety and prestige. For a beautiful future for Vietnamese generations, please visit us, talk to us every day, every hour and every moment possible. VietBF.Com Thank you all and good luck.