Năm 22 tuổi, tôi ôm cái ba lô mỏng như ví sinh viên, nhảy qua trại tỵ nạn Thái Lan mấy tháng “thanh lọc”, rồi đáp đất Mỹ cuối tháng 8. Đầu tháng 9 đă lạch bạch vô đại học. Tiếng Anh tạm ổn nhờ cái bằng C of A của Hội Việt–Mỹ: đủ để nghe giảng, đủ để xin thêm tương ớt ở cafeteria. Năm năm sau, tôi có bằng, có việc, có cái thẻ Social Security trông rất ra vẻ… người lớn.
Giấc mơ Mỹ phần cơm áo th́ tôi cũng ráng mà “đạt chuẩn”: làm lụng, dành dụm, check đúng cột thuế. Nhưng giấc mơ “được nh́n như một người Mỹ” th́ trượt dài như trượt băng. Ở sở làm, ở quầy giao dịch, ở tiệm do ḿnh làm chủ, đến đoạn thân thân một chút là họ hỏi câu kinh điển: “Where are you from?” Tôi cũng muốn đùa “from aisle 7 of Walmart”, nhưng lại thôi. Câu hỏi nhẹ tênh mà giống cái thước đo vô h́nh: anh đến từ nơi khác—tức là anh vẫn… người khác.
Thế là tôi đi t́m “quê hương thứ hai” khắp nơi: Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha với Golden Visa lấp lánh; Malaysia, Thái Lan với visa hưu trí nghe ấm ḷng. Ở đâu cũng đẹp, đồ ăn cũng ngon, người ta cũng hiền. Nhưng đứng giữa chợ vẫn thấy ḿnh như khách du lịch dài hạn: nói trật ngữ điệu, ăn trật bữa, mặc trật màu. Dọn nhà xong vẫn thấy như… ở tạm.
Rồi tôi quay về “quê nhà” sau 42 năm. Ba năm sống lại với tiếng rao, mùi nước mắm, lễ chùa đầu tháng. Tưởng sẽ khít như áo may đo, ai dè vẫn cấn ở vai: nhiều nơi gọi tôi “Việt kiều”, khách sạn tính giá như… người lạ. Tôi đă có lần xị mặt với lễ tân: “Tôi sinh ra ở đây mà!”—xong tự cười, v́ trong mắt người ta, tôi vẫn là bản cập nhật hơi… khác hệ điều hành.
Có lúc tôi nghiệm ra: tấm passport giống cái thẻ tên của lớp mẫu giáo mà một ông trên mạng đùa “đeo luôn lên cổ cho nhanh”. Ở Việt Nam, hầu như chẳng ai đ̣i xem trừ lúc làm giấy tờ. Ở Mỹ, dạo gần đây th́ nên mang theo—nhỡ có ai “bịt mặt” hỏi thăm nguồn gốc. Thế mới thấy hộ chiếu không chỉ để bay, mà để giải thích ḿnh là ai trong một khoảnh khắc.
Tôi cũng tập soi gương công bằng: người ta hỏi “Where are you from?”, c̣n tôi—khi gặp một anh châu Phi, chị Nam Á—trong đầu có vô thức so đo không? Có khi chính ḿnh cũng mang theo bộ lọc “người lạ” mà không biết. Hóa ra ai cũng có chút “hải quan” đóng trong ḷng.
Rốt cuộc, tôi là công dân nước nào? Nước Mỹ bảo: anh chưa hẳn “của tôi”. Quê cũ bảo: anh… “Việt kiều”. Thế giới bảo: welcome, miễn visa cảm xúc. Tôi đành tự cấp một hộ chiếu khác: quốc tịch “đang đi đường”. Trên b́a có ba con dấu: kư ức (quê cũ), cơm áo (quê mới), và hy vọng (quê tương lai). Nghe hài hước nhưng tôi tin thiệt: có khi chỗ ở của ḿnh không phải biên giới, mà là những người ḿnh thương và những món ḿnh ăn không chán—bát phở đầu ngơ, ly cà phê buổi sớm, tiếng cười con nít trong nhà.
C̣n con tôi? Tụi nhỏ sinh ở Mỹ, nói tiếng Việt như hát rap, ăn nước mắm như thử craft beer. Chúng sẽ tự chọn câu trả lời. Việc của tôi là kể đủ chuyện đường xa—cho chúng biết đi đâu cũng có thể là nhà, miễn đừng quên chào hỏi bằng cả hai thứ tiếng và nhớ gửi tiền tip cho người bưng bê.

Nếu một ngày nữa ai lại hỏi “Where are you from?”, tôi sẽ mỉm cười: “From a long story.” Câu chuyện ấy có Thái Lan, có tháng 9 vào đại học, có những lần bị gọi nhầm giá pḥng, có cả những mùa bầu cử khiến màu da bị soi kỹ quá mức. Nhưng nó cũng có những người bạn tử tế ở khắp nơi, những hàng xóm tốt bụng, những chiếc cầu nối bằng… món ăn.
Tôi có tiếc không? Có chứ. Nhưng buồn ít thôi, v́ đường c̣n dài. Đừng ở lại măi một chỗ trong quá khứ, cũng đừng quên đường ḿnh đă qua. Hôm nay tôi chưa chắc là công dân của một quốc gia, nhưng tôi chắc chắn là công dân của những cuộc gặp gỡ. Và nếu cần khai thêm nghề nghiệp, xin ghi: “người mang hộ chiếu, chuyên kể chuyện vui để đỡ… lạc ḷng.”
(Vũng Tàu, 23/8/2025)
Pham Giao Thanh, sửa bởi Gibbs Vietbf