(Phunutoday) - Ai cũng có chuyện t́nh đẹp dù đấy là người giàu hay người nghèo, người cao sang hay túng bấn thế nào. Và ở một một xóm ăn mày nghèo bên bờ sông Cấm có một chuyện t́nh đẹp như thế. Đấy là chuyện t́nh cảm động của vợ chồng lăo mù với người vợ lơm trán hơn gần chục tuổi.
Có tên Lơm từ ngày đạn văng trán

Vợ chồng bà Lơm trong căn nhà mới
Trong mấy chục con người sống dưới những căn lều tạm bợ, xiêu vẹo dưới cơn gió bấc thốc lạnh tê tái bên bờ sông Cấm, thuộc địa phận xă An Dương, huyện Thủy Nguyên có vợ chồng ông lăo mù và bà lăo lơm trán ấy vẫn ngày ngày bám víu vào nhau để sống cho qua ngày.
Vợ chồng người ăn mày ấy tên là Hoàng Ngọc Khải và bà Lơm. Vợ ông Khải không có tên, người trong xóm “ăn mày” gọi bà là bà Lơm. Hằng ngày ông Khải ra chân cầu Lạc Long xin ăn giữa ḍng người tấp nập và xô bồ của phố xá c̣n bà Lơm cũng xách bị vào thành phố “làm nghề”, tới chiều tối họ lại trở về túp lều rách.
Bà Lơm, cái tên nghe như chính cuộc đời lơm sâu dưới chân đê sông Cấm của bà. Bà Lơm thực ra bà đâu tên phải Lơm. Người ra chẳng biết tên bà là ǵ mà ngay chính bà Lơm cũng không rơ cha sinh mẹ đẻ của bà huống chi cái tên của bà. Người ta chỉ biết gọi bà là Lơm v́ trên trán bà có một vết lơm không xương sâu hoắm, chỉ sợ chẳng may sơ ư va cái que ǵ vào th́ thủng đầu bà lúc nào không hay.
Ở cái tuổi gần đất xa trời 80 nhưng đến cái tên cúng cơm của ḿnh bà cũng chẳng biết. Bà Lơm chỉ biết bà lớn lên đă thấy ḿnh lang thang ăn xin khắp nơi, từ Bắc vào Nam rồi từ Nam ra Bắc. Suốt thời thơ ấu của bà là thế, không gia đ́nh, không người thân.
Với bà chỉ đơn giản là “ngă đâu là nhà, ngủ đâu là giường”. Hồi bé th́ người ta cứ gọi là cái Tư cho có cái tên. Rồi bà có cái tên Lơm bây giờ là cả một câu chuyện dài. Ấy là vào những năm đầu của thập kỷ 70, bà theo tàu Bắc nam vào Sài G̣n kiếm sống.
Bà làm đủ mọi nghề từ buôn đồng nát đến đi gánh nước thuê, quét chợ để kiếm ăn qua ngày. Rồi một ngày, người ta chỉ cho bà biết cách buôn chuyến từ Nam ra Bắc th́ bà cũng liều ḿnh đi buôn khi trong người không có một đồng xu.
Nói là đi buôn cho có tiếng chứ thực ra bà chỉ đi chạy hàng cho bọn chủ buôn. Không may, trong một chuyến buôn về đến Hà Nội th́ bà bị mảnh đạn của thằng Mỹ nó văng vào trán, cướp mất mảnh xương xọ.
Chữa trị ṛng ră một năm 3 tháng trời, vết thương ngoài da mới liền lại c̣n mảnh xương trên đầu mất vĩnh viễn, nó tạo thành vết lơm to như ḷng bát trên cái trán dô đen sạm của bà. Từ đấy, người ta lấy vết lơm làm tên cho bà luôn.
Bà thấy buồn nhưng cũng thấy vui v́ trong cái rủi lại có cái may, vừa sống sót vừa có cái tên đời làm người của ḿnh. Giờ đây vết lơm đó vẫn cứ lù lù trên cái trán nhăn nheo của bà và cái hàm răng cũng rụng sạch từ ngày bị thương nên nay bà cũng thành móm.
Lúc nào bà cũng nhai trầu đỏ hoen của cái miệng nheo. Bà bảo, “đúng là cái thời đó bị thương được nhà nước bao cấp chữa trị chứ giờ mà bị thế th́ chắc chỉ chờ chết chứ lấy đâu ra tiền mà chữa bệnh”. Nói rồi bà thoáng buồn nh́n sang ông chồng khom khem và quằn quại trong cơn đau của bệnh tim.
Chỉ vài cái kẹo lạc là thành vợ thành chồng
Không biết cảnh đời đưa đẩy thế nào mà bà Lơm bảo đúng là “nồi nào úp vung nấy”, bà đă gặp người đàn ông mù tên Khải kém bà đến gần chục tuổi quê Quảng Xương, Thanh Hoá. Hai con người cùng hoàn cảnh hẩm hiu, không người thân thích.
Nhà ông Khải v́ một trận lũ đói mà không c̣n ai ngoài ông. Ông tha hương tứ xứ khắp nơi để xin ăn và cuộc đời cứ lớn lên như vậy cho đến ngày gặp bà Lơm trên đường xin ăn ở Hải Dương. T́nh thương của những người khốn cùng trong cái thời loạn lạc đă kéo họ gần lại với nhau.
Hễ xin được miếng ǵ ngon hay có cái bánh mỳ khô là hai người lại sẻ chia để cùng nhau vượt qua cơn đói. Và một ngày hồi năm 1983, hai mảnh đời khốn khổ này đă nên vợ nên chồng. Chẳng có đám cưới nào lại đơn giản đến thế, không họ hàng thân thích, chỉ có lời tự hẹn ước của hai con người đă ở cái tuổi băm đầu bốn.
Cái được cho là xa xỉ của đám cưới ấy là vài cái kẹo lạc được chuẩn bị để chung vui cùng đám ăn xin dưới chân ga tàu Hải Dương. Vậy là ông Khải, bà Lơm thành bạn đời trăm năm không mảnh giấy hôn thú rồi họ lang thang dắt díu t́m về Hải pḥng và gia nhập xóm ăn mày bên bờ sông Cấm tự lúc nào mà họ cũng không thể nhớ nổi.
Họ chỉ nhớ cái ngày về xóm th́ cả xóm mới có một hai túp lều rách nát ẩn nấp trong một rừng lau sậy và nước ngàu đỏ của con sống Cấm. Chính quyền đuổi lên đuổi xuống nhưng họ vẫn bám tận cùng vào bờ để sông Cấm để có được nơi an cư cuối đời khi chân đă mỏi mệt không thể lang thang được nữa.
Giờ đây nước sông Cấm vẫn đỏ ngàu và nổi sóng mỗi đợt triều cường, c̣n cuộc đời của vợ chồng lăo ăn mày này th́ vẫn thế và họ đă thành ông lăo bà cụ cả rồi.
Sống với nhau hàng chục năm trời nhưng không mụn con, nhiều lúc ông Khải bà Lơm buồn lắm khi nghe thấy tiếng khóc của đứa trẻ ở vách nứa nhà bên. Dù cuộc đời người khác cùng cảnh ăn xin nhưng họ cũng được hưởng cái hạnh phúc được nghe thấy tiếng con gọi cha gọi mẹ.
Thoáng buồn rồi bà Lơm lại tặc lưỡi tự nhủ hai ông bà có nhau trong đời này là hạnh phúc lắm rồi nên cũng nguôi ngoai và quên đi nỗi phiền muội trong ḷng. Hai mảnh đời ăn xin nương tựa vào nhau trong căn lều tạm bợ. Không điện, không nước, chỉ có những thứ thừa thăi nhặt bên phố về để dùng.
Cuộc đời hai vợ chồng già này dường như cũng leo lắt như ngọn đèn dầu mà họ thắp mỗi tối trong túp lều rách tươm. Mỗi đợt gió lạnh thốc vào kéo bung toàn bộ những tấm bạt chắp vá chằng chịt, khi ấy ông bà sống chung cảnh màn trời chiếu đất. Nhất là những đợt băo to, hai ông bà xiêu vẹo dắt nhau vào trú nhờ ở ngôi miếu của làng để tránh băo.
May mắn thay, căn lều nát tươm bị gió thổi lên bùng bục giữa cánh đồng lau sậy năm ngoái của ông bà được thay bằng gian nhà gạch mái tôn kiến cố. Chẳng phải ông bà đi xin được tiền về xây nhà mà đấy là căn nhà t́nh nghĩa được những sinh viên t́nh nguyện Hải Pḥng giúp sức xây nên.
Ngày nhận được căn nhà mới, hai vợ chồng người ăn xin ấy mừng rơi cả nước mắt v́ đấy là niềm hạnh phúc mà cả đời họ không dám mơ tưởng.
Tưởng rằng cuộc sống nghèo và vất vưởng của ông bà được yên ổn trong căn nhà mới nhưng ông Khải bỗng đổ bệnh liệt giường. Giờ ông Khải đang quằn quại cơn đau tim trên chiếc đệm tơi tả mà bà mới lượm được ngoài băi rác ven đê.
Nh́n cái dáng gầy rộc và nghe tiếng ông thở hắt ra từng hơi, bà Lơm buồn thiu lắc đầu: “Sáng nay, bà phải để ông ở nhà, sang phố xin được vài đồng mua cho ông bát cháo nhưng ông có ăn được đâu. Lỡ ông không may mà đi trước bà th́ bà không c̣n người bầu bạn trong quang đời cô quạnh c̣n lại... Giờ sự sống của ông ấy chỉ đếm theo đầu ngón tay thôi… Đợt gió lạnh tê tái của mùa đông đang về, chỉ sợ ông ấy không qua nổi…"
* Thanh Hải