- Thời còn yêu nhau, trong lá thư viết cho người yêu ở chiến trường, bà đã viết: “Em đã xác định rõ ràng: dù anh mất chân, mất tay hay mất gì đi nữa, thì em vẫn một lòng với anh”. Và bà đã dùng cả cuộc đời mình để chứng minh rằng câu nói đó không phải là sự bồng bột, nông nổi của một cô gái trẻ đang yêu.
Những lá thư tình thời chiến
Đến giờ, người thương binh Cao Văn Thành đã là Phó Chủ tịch Hội Người mù Việt Nam được 14 năm. Bố vợ ông khi còn sống, trong những lần ngồi uống rượu với mấy người con rể, thường vỗ vai người con rể mù lòa của mình, nói với giọng đầy trìu mến:
“Tôi chỉ phục nhất anh con rể này. Đích thực là người lính. Dù tàn nhưng không phế”. “Giàu hai con mắt, khó hai bàn tay”, khi gả con gái cho một người lính vừa trở về từ chiến trường với đôi mắt bị hỏng, bố vợ ông đã không tránh khỏi những lo lắng. Nhưng nhiều năm sau này, cụ đã nhận ra rằng con gái mình đã hoàn toàn đúng đắn khi chọn người đàn ông để chia sẻ cả cuộc đời sau này.
Quê ông Cao Văn Thành ở Thanh Hóa. Quê bà Phan Thị Kim Song ở Đức Thọ (Hà Tĩnh), nhưng bà đã theo cả gia đình lên sống ở Sơn La từ sau khi Điện Biên Phủ giải phóng. Tuy sống ở hai vùng đất xa xôi, nhưng số phận đã đưa ông bà đến với nhau khi xếp đặt họ cùng học chung một lớp ở trường Đại học Bách khoa.
Ngày đó vì hoàn cảnh chiến tranh, sinh viên trường Đại học Bách khoa phải sơ tán lên Phú Thọ. Vì cùng một lớp, lại ở chung một tổ học tập, nên hai ông bà được xếp ở gần nhau trong hai ngôi nhà cách nhau không xa trên cùng một khu đồi.
Vợ chồng ông Cao Văn Thành- Phó Chủ tịch Hội Người mù Việt Nam
Ông Cao Văn Thành kể: “Những năm tháng ấy, chúng tôi cùng giúp đỡ nhau học tập, cùng chia sẻ với nhau từng củ sắn, củ khoai. Vì bằng tuổi nhau, nên suốt thời học chung ở trường Bách khoa, chúng tôi chỉ xưng “mày” – “tao” với nhau.
Ngày đó tôi và vợ tôi đều được phân công đi lấy thư ngoài trung tâm. Cứ đến ngày, tôi lại sang đón bà ấy rồi chở bà ấy đi ra trung tâm lấy thư. Con đường ra trung tâm phải đi qua không biết bao nhiêu quả đồi ở vùng đất trung du. Chính những lần đạp xe qua những con đường thơ mộng vắt ngang những đồi chè, rừng cọ xanh mướt đã khiến chúng tôi yêu nhau lúc nào không hay”.
Thời đó, việc nam nữ yêu nhau chưa cởi mở như bây giờ. Suốt quãng thời gian yêu nhau ở trường đại học, ông bà chỉ dám nhìn nhau, chỉ dám nắm tay nhau chứ không dám công khai như những đôi nam nữ bây giờ, vừa vì ngượng với mọi người, vừa vì sợ bị phê bình là “tiểu tư sản”.
Không thể xưng hô “mày” – “tao” như những bạn học khác được nữa, họ chuyển sang xưng hô trống không. “Vào ăn cơm đi”, “này, làm giúp nhau cái này cái” – những câu nói không đầu không đũa thế là “dấu hiệu” tình yêu của họ trong suốt những ngày tháng sinh viên thơ mộng.
Chỉ đến khi ông có quyết định lên đường nhập ngũ, bà mới chịu gọi tiếng “anh” đầu tiên, kèm theo lời dặn dò: “Anh cứ yên tâm chiến đấu. Em sẽ đợi anh về”. Cũng chỉ đến những ngày cuối cùng trước khi vào chiến trường, ông mới đủ can đảm để chính thức nói với bà hai tiếng “yêu thương”.
Năm 1971 – 1972 là giai đoạn cuộc kháng chiến chống Mỹ nước sôi lửa bỏng nhất. Cùng với sinh viên, giảng viên ở các trường đại học, ông Cao Văn Thành cũng viết đơn tình nguyện lên đường nhập ngũ. Gia đình ông có 6 người con, ông là con trai thứ 2. Người anh đầu đã hi sinh ở chiến trường, nên ông thuộc diện được miễn nhập ngũ:
“Thế hệ chúng tôi ngày đó đều thấm nhuần một câu nói: “con đường duy nhất của một người thanh niên là trên trận chiến chống quân thù”. Biết là nếu ở lại thì tương lai sẽ êm ấm, sung sướng, sẽ không phải đối mặt với bom đạn, với chết chóc, nhưng tôi vẫn về Thanh Hóa xin phép bố mẹ rồi lên đường chiến đấu” – ông Thành nhớ lại.
Trước ngày ông đi, ông gửi lại cho bà bộ quần áo bộ đội của người anh trai đã hi sinh ở chiến trường và dặn bà giữ làm kỉ niệm khi xa nhau; bà cắt chiếc áo hoa cộc tay của mình, may thành một chiếc túi đựng tuýp kem đánh răng và một chiếc quần đùi để tặng ông khi vào chiến trường.
Vào bộ đội phải mặc quân phục, ông hầu như không có cơ hội mặc chiếc quần đùi may bằng thứ vải hoa con gái ấy, cũng không dám mặc vì sợ đồng đội trêu chọc, nhưng ông luôn giữ gìn nó như một món quà quý báu trong hành trang trên mỗi bước đường hành quân.
Trong suốt quãng thời gian đầu khi xa nhau, họ xóa đi cảm giác xa xôi, cách trở bằng những bức thư nối dài nỗi nhớ. Cứ sau mỗi giờ lên lớp, bà lại về nhà viết thư kể chuyện trường lớp, kể về cuộc sống đời thường cho ông nghe. Còn ông, trên đường hành quân, cứ dừng chân ở đâu, ông lại kê gối viết thư kể chuyện chiến đấu cho bà.
Những lá thư như những trang nhật ký, khiến cả hai ông bà – người này luôn cảm nhận được sự có mặt của người kia ở bên cạnh, để ở hậu phương bà cảm thấy bớt cô đơn, còn ở chiến trường, ông vẫn luôn ấm lòng khi nhìn nét chữ người yêu trước mỗi trận chiến.
Ngày đó mỗi lá thư từ hậu phương gửi ra, với những người lính ở chiến trường đều là một món quà quý giá. Ông vẫn thường cùng đồng đội đọc thư bà, cùng chia sẻ với những người đồng chí, đồng đội những câu chuyện ở quê nhà.
Có quãng thời gian ông đóng quân ở trên chốt, ngay cạnh vùng giao tranh giữa ta với địch, chẳng có cơ hội viết thư cho bà, cũng không được nhận trực tiếp thư bà gửi từ miền Bắc, nhưng những người đồng đội tinh nghịch của ông vẫn thường đọc thư của bà cho ông nghe qua máy vô tuyến điện, vừa đọc vừa cười húc hắc khi đến những đoạn “tình cảm lâm ly”.
Ở trên chốt, nơi mà quân địch có thể bất ngờ tấn công và đánh úp bất cứ lúc nào, nơi sự sống luôn là gang tấc, ông vẫn không thể không mỉm cười khi được nghe thư của người yêu qua máy vô tuyến điện. Giữa chiến trường bom đạn khốc liệt và chết chóc, đó có lẽ là những khoảnh khắc ngọt ngào và bình yên nhất của một người lính
Lời hứa của tình yêu
Khi viết thư về cho bà, trong mỗi bức thư, ông không bao giờ quên kèm thêm vài câu thơ lãng mạn: “Em ơi, đợi anh về/ đợi anh hoài em nhé”. Ông vẫn viết trong những bức thư của mình: “Sau này khi hòa bình lập lại, anh trở về và sẽ đưa em đi khắp chiều dài đất nước mình, đưa em đến những nơi anh đã đi qua, đến những vùng đất anh và những đồng đội của mình đã chiến đấu. Anh sẽ kể cho em nghe về những trận chiến ấy, để em cảm nhận được thực sự vẻ đẹp của đất nước mình”…
Trong những năm tháng xa cách, có một lần ở hậu phương, bà được một người bạn từ chiến trường trở về kể: “Song ơi, nghe bảo Thành bị thương ở chân nặng lắm”. Đinh ninh là sự thật, bà cứ giận ông mãi vì đã giấu bà, nên trong bức thư sau đó gửi ra mặt trận, bà viết cho ông những dòng chữ vừa hờn dỗi vừa yêu thương:
“Nghe tin anh bị thương ở chân mà sao không viết thư cho em biết. Em biết là chiến tranh ác liệt. Nên em đã xác định rõ ràng: dù anh mất chân hay mất tay hay mất gì đi nữa, thì em vẫn một lòng với anh”. Khi nhận được thư bà, ông vừa xúc động, vừa buồn cười, cứ nhìn đi nhìn lại đôi chân đang hoàn toàn lành lặn của mình và bật cười không hiểu vì sao lại có một tin đồn vô căn cứ như thế đến tai bà.
Khi viết cho nhau những lá thư ấy, ông không hề ngờ rằng, ông sẽ không bao giờ có thể có cơ hội được đưa bà đến những vùng đất ấy và kể cho bà nghe những câu chuyện chiến trường; bà cũng không thể biết rằng, câu hờn trách trong lá thư mà bà gửi cho ông, sau này sẽ trở thành sự thật và làm thay đổi số phận của cuộc đời bà.
Tháng 3/1975, khi đang tiến vào giải phóng thành phố Huế, ông bị một quả đạn cối bắn vào người, bị vỡ bả vai, gãy chân và bị thương nặng ở con mắt bên phải. Ông được đồng đội đưa về tuyến sau chữa trị vết thương.
Trong chiến tranh, đã có không ít những người lính mãi mãi nằm lại ở chiến trường, nên việc bị thương, mất chân, mất tay hay hỏng mắt với một người lính vẫn có thể coi là may mắn. Khi được đưa về bệnh viện dã chiến điều trị, ông bị hỏng một con mắt bên phải.
Ông vẫn nhớ lúc ông nằm trên giường phẫu thuật, các bác sĩ đọc hồ sơ, biết ông là sinh viên Bách khoa, đã trêu đùa ông rằng: “Lý lịch thế này thì dù có mất một mắt sau này về nhà vẫn được đầy cô tình nguyện lấy làm chồng”.
Vì nghĩ vết thương ở mắt không nghiêm trọng, nên các bác sĩ ở bệnh viện chỉ chữa trị các vết thương trên người ông chứ không tiến hành khoét bỏ con mắt phải của ông. Một thời gian sau, con mắt phải bị viêm nhiễm, lây sang mắt trái.
Từ một mắt bị hỏng ban đầu, ông mất nốt con mắt còn lại. Đó cũng là lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ trường kỳ kết thúc với thắng lợi thuộc về ta. Ông – một chàng sinh viên Bách khoa tình nguyện xung phong ra mặt trận đã không có cơ hội tận mắt nhìn thấy niềm vui trên gương mặt mọi người vào ngày đất nước chiến thắng. Vì ngày hôm đó, đôi mắt ông đã vĩnh viễn mù lòa.
(Kỳ II: Mối tình của Phó Chủ tịch Hội người mù Việt Nam )
Hương Thảo Nguyên
theo PNTD