Bộ Trưởng Y Tế Robert F. Kennedy Jr. gọi tỷ lệ sinh sản đang sụt giảm của Hoa Kỳ là một
"khủng hoảng hiện hành" (existential crisis), rồi đặt trọng tâm vào điều mà ông mô tả là
"sự suy giảm tinh trùng ở nam giới" và một
"hỗn hợp hóa chất độc hại đang làm tổn hại đến khả năng sinh đẻ của phụ nữ trẻ".
Tại một sự kiện được tổ chức ở Tòa Bạch Ốc về sức khỏe bà mẹ, ông Kennedy có nói tỷ lệ sinh đẻ suy giảm là mối đe dọa không chỉ với nền kinh tế mà còn với vấn đề an ninh quốc gia. Bộ trưởng Kennedy cũng cho rằng,
"Trong thập niên 1970, đàn ông có số lượng tinh trùng gấp đôi so với thanh niên ngày nay", rồi gọi đó là
"khủng hoảng hiện hành" của đất nước, theo tạp chí
People hôm thứ Ba, 12 /5.
Bộ trưởng Y Tế Robert F Kennedy Jr. (Ảnh: Getty Images)
Ông cho biết Bộ Y Tế đang điều tra các yếu tố như sức khỏe chuyển hóa, béo phì, chất gây rối loạn nội tiết, thuốc trừ sâu và ông gọi đó là
"hỗn hợp hóa chất độc hại mà giới phụ nữ trẻ đang sống trong đó"(?).
Cách giải thích này, nếu đặt bên cạnh bảng phân tích của khoa Y Tế Công Cộng Bloomberg School của trường đại học Y khoa Johns Hopkins, được công bố ra hồi tháng Giêng năm nay, cho thấy một vấn đề lớn hơn đó là Bộ trưởng Kennedy đang biến một hiện tượng xã hội, kinh tế, môi trường và quyền tự quyết sinh sản trở thành một câu chuyện về sinh học quá đơn giản, trong đó cơ thể nam giới được đưa lên trọng điểm, còn quyết định của phụ nữ về việc có mang thai hay không lại bị đẩy xuống hàng thứ yếu.
Vấn đề không phải chuyện khả năng sinh sản tinh trùng của nam giới thật chẳng đáng quan tâm lớn lao gì. Trọng tâm là ông Kennedy muốn trình bày một nhận định lớn về tương lai dân số Mỹ qua một giọng điệu chắc chắn hơn những bằng chứng hiện có.
Bài viết của
People cũng lưu ý thêm rằng, dù một số cuộc nghiên cứu tìm thấy số lượng tinh trùng của nam giới có phần giảm trong những năm gần đây, giới chuyên gia cho biết, vấn đề này chưa có ngã ngũ và việc đo lường xu hướng dài hạn luôn luôn là một công việc rất khó khăn.
Giáo sư Dolores Lamb, chuyên gia nghiên cứu về khả năng sinh sản của nam giới tại Weill Cornell Medicine, từng có nói với tạp chí
Scientific American rằng, ý tưởng về sự sụt giảm trên toàn cầu trong số lượng tinh trùng là tuy là một giả thuyết quan trọng, nhưng dữ kiện chưa đủ tốt và khách quan để đưa ra bất cứ kết luận nào hợp lý.
Đây là sự khác biệt căn bản giữa khoa học và khẩu hiệu nặng về chính trị. Khoa học có thể đặt ra giả thuyết, cho xem xét kiểm nghiệm, thận trọng với dữ kiện, còn chính trị thường biến giả thuyết thành lời báo động thường là "giả tạo" để huy động sự ủng hộ của dư luận.
Bài phân tích của trường đại học Johns Hopkins cho thấy bức tranh sinh sản tại Hoa Kỳ phức tạp hơn rất nhiều. Tỷ lệ sinh của Hoa Kỳ xuống mức thấp kỷ lục vào năm 2024, khoảng 1,6 ca sinh trên mỗi người phụ nữ, thấp hơn mức sinh đẻ thay thế là 2,1. Tuy nhiên, bảng phân tích của các chuyên gia ở Johns Hopkins nhấn mạnh rằng tỷ lệ sinh đẻ không thể đại diện hết toàn bộ câu chuyện về dân số vì số trẻ được sinh ra tại Mỹ vẫn cao hơn số người đã chết, nên dân số chưa thật sự bị thu hẹp đến mức báo động như ở TQ đại lục.
Điểm mấu chốt là có nhiều người Mỹ không phải là họ không muốn có con. Quan trọng hơn, tỷ lệ sinh thấp này phản ảnh ra các vấn đề về khả năng chi trả, tình trạng tài chính gia đình bền vững và quyền tự quyết cá nhân của những người có thể làm cha mẹ.
Một cuộc thăm dò hồi năm 2013 được ĐH Johns Hopkins cho trích dẫn cho thấy người Mỹ trưởng thành trung bình muốn có từ hai đến ba đứa con nhưng họ cảm thấy không đủ khả năng nuôi một con chứ đừng nói đến nhiều đứa hơn. Giáo sư Linnea Zimmerman, trường đại học Johns Hopkins, có cho biết, nền kinh tế hiện nay với sự bất ổn việc làm, bất ổn về nhà ở và chi phí chăm sóc trẻ em tăng nhanh khiến cho người dân cảm thấy bất định về tương lai và khả năng nuôi con.
Đây chính là nơi lập luận của Bộ Trưởng Kennedy đã bị lệch hướng. Nếu một phụ nữ hoặc một cặp vợ chồng không sinh con vì tiền thuê nhà quá cao, chi phí giữ trẻ gần bằng một khoản vay mua nhà, bảo hiểm y tế đắt đỏ, nghỉ thai sản không đủ, lương không theo kịp chi phí phải bỏ ra, hoặc họ lo sợ về tương lai môi trường bất ổn, thì việc tung tin cho rằng, "tinh trùng của nam giới bị sụt giảm cao" là lạc đề, không giải quyết được chủ đề cốt lõi về tài chính.
Một quốc gia không thể chữa khủng hoảng dân số bằng cách chỉ nhìn vào phòng xét nghiệm mà bỏ qua các yếu tố quan trọng như tiền nhà, tiền học, tiền giữ trẻ, việc làm, bảo hiểm và quyền lựa chọn của phụ nữ.
Nghiên cứu của đại học Johns Hopkins cũng vạch ra rằng sự lo ngại về biến đổi khí hậu và môi trường đang có ảnh hưởng lớn đến quyết định sinh con của giới trẻ. Ngay cả với tỷ lệ sinh đẻ hiện nay, dân số toàn thế giới được dự báo sẽ đạt đến 9,8 tỷ người vào năm 2050, khiến cho nhiều người trẻ tự hỏi một hành tinh đang chịu áp lực môi trường lớn có thể gánh thêm bao nhiêu người. Đây không phải là
"chống sinh đẻ". Đây là sự lo âu đầy trách nhiệm của một thế hệ, trong đó quyết định có con gắn liền với câu hỏi thực tế phũ phàng là thế giới mà đứa trẻ sẽ sống trong đó có còn được an toàn, ổn định và công bằng hay không.
Một điểm quan trọng khác đã bị bỏ qua trong cách nói của ông Kennedy là quyền tự quyết sinh con của phụ nữ. Sinh sản không phải chỉ là kết quả của tinh trùng, trứng, hormone và môi trường hóa chất. Sinh sản là quyết định của người phụ nữ về việc có chấp nhận mang thai, đẻ con, nuôi con và chịu các rủi ro về thể chất, tài chánh, nghề nghiệp hay không.
Khi các chính trị gia muốn gia tăng dân số chỉ biết đặt vấn đề là "
sở dĩ phụ nữ không sinh con vì thiếu tinh trùng" nhưng lại không nêu ra việc
"xã hội đã làm gì để giúp cho phụ nữ có thể sinh con mà không bị thiệt hại về kinh tế, sức khỏe và sự nghiệp?" Các ông quan lớn đó đặt sai nền tảng chính sách cần cho thực hiện.
Bài phân tích của ĐH Johns Hopkins đưa ra những phương hướng tiếp cận dựa trên các bằng chứng cụ thể hơn là những lý luận
"ba hoa, hoang đường". Các khoản chi thưởng tiền mặt hoặc trợ cấp một lần, như một số nước ở châu Âu và Á đã từng cho áp dụng, thường có tác động tuy hợp lý nhưng cũng bị hạn chế phần nào nếu chi phí sinh hoạt vẫn còn quá cao.
Singapore từng cung cấp khuyến khích tiền mặt hơn 8,000 đô Sing để giúp tăng tỷ lệ sinh nhưng không đạt được nhiều thành công. Trong khi đó, chính sách giảm chi phí chăm sóc trẻ em có bằng chứng mạnh hơn khi một cuộc nghiên cứu ở Tây Âu cho thấy cứ tăng 10% tiền trợ cấp chăm sóc trẻ em có thể làm cho tỷ lệ sinh tăng lên 0.4%.
Phân tích của Johns Hopkins cũng nhắc đến vai trò của chuẩn mực xã hội khi tại các nước văn minh tiến bộ, có thu nhập cao, nơi mà nam giới chia sẻ nhiều hơn trong việc nhà và chăm sóc con, tỷ lệ sinh thường cao hơn. Đây là một điểm rất quan trọng. Nếu nam giới chỉ xuất hiện trong câu chuyện sinh đẻ như
"nguồn tinh trùng", còn phụ nữ vẫn phải gánh phần lớn việc mang thai (như "máy đẻ"), sinh con, nuôi con, nghỉ việc, giảm thu nhập và chăm sóc gia đình, thì không lạ việc nhiều phụ nữ chọn không sinh hoặc sinh con ít hơn.
Vì vậy, một chính sách về sinh sản theo lập trường khoa học và y tế công cộng phải bắt đầu từ quyền tự quyết và điều kiện sống, chớ không phải từ nỗi hoảng sợ về mặt sinh học. Câu hỏi đúng không phải là làm sao ép người dân sinh thêm con để phục vụ kinh tế hay an ninh quốc gia. Câu hỏi đúng là làm sao để cho những ai muốn có con không bị đẩy vào cơn khủng hoảng về tài chính, mất khả năng chăm sóc đầy đủ về y tế, mất nhà ở, mất việc làm hoặc mất tương lai vì vật giá trở nên quá đắt đỏ.
Bộ Trưởng Kennedy chạm đúng một nỗi lo thật cho nước Mỹ đó là tỷ lệ sinh bị sụt giảm nhưng ông trình bày ra nguy cơ này khi cố tình giải thích sai nguyên nhân và dẫn cho chính sách đi sai hướng. Nước Mỹ không thiếu trẻ em chỉ vì thiếu tinh trùng nhưng đang đối mặt với một thực tế sâu hơn đó là nhiều người trẻ muốn lập gia đình nhưng không thấy được xã hội này tạo ra các điều kiện tốt đẹp nâng đỡ để cho họ làm cha mẹ theo đúng nghĩa.
Một Bộ trưởng Y tế cần nghiêm túc và có trách nhiệm phải lắng nghe điều đó.
Còn việc biến
"khủng hoảng sinh sản" trở thành một bài diễn văn đề cập về tinh trùng nam giới, trong khi bỏ qua quyền mang thai của phụ nữ và gánh nặng kinh tế của gia đình, là lối nhìn qua một lăng kính quá hạn hẹp và nặng mùi chính trị trước các vấn đề xã hội và khoa học rộng lớn.