Lâu nay, người đời sau vẫn tin rằng, nhà Minh là triều đại sở hữu những vị hoàng đế “kỳ quái” nhất lịch sử, thậm chí có phần biến thái. Vậy sự thật ra sao hay chỉ là những sự bôi nhọ?
Nhà Minh có 16 vị hoàng đế, đại khái thường bị mô tả như sau:
Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương từng làm hòa thượng, ngoại hình bị cho là rất xấu; Minh Huệ Tông Chu Doãn Văn muốn “dẹp chư hầu” nhưng cuối cùng lại bị lật đổ; Minh Thành Tổ Chu Đệ là một “cuồng nhân chiến tranh”; vị vua mê ăn uống Minh Nhân Tông Chu Cao Sí là một “cao thủ ẩm thực”, béo đến mức qua đời vì bệnh; Minh Tuyên Tông Chu Chiêm Cơ ngày nào cũng chọi dế; Minh Anh Tông Chu Kỳ Trấn đánh người Mông Cổ không thành còn bị bắt sống, khiến Minh Cảnh Đế nhân cơ hội lên ngôi; Minh Hiến Tông thiếu tình thương của mẹ nên say mê chuyện “chị em yêu nhau”; Minh Hiếu Tông bị đồn là con ngoài giá thú; Minh Vũ Tông ham chơi, lấy chiến tranh làm thú vui, về sau lâu ngày không thiết triều; Hoàng đế Gia Tĩnh chỉ lo cầu tiên tu đạo, suốt hai mươi năm không lên triều; Minh Mục Tông Long Khánh hoang dâm vô độ, dùng xuân dược đến suy kiệt cơ thể; Minh Thần Tông Vạn Lịch mê tửu sắc, ba mươi năm không thiết triều; Minh Quang Tông uống thuốc nhuận tràng quá mức rồi chết vì tiêu chảy; “Hoàng đế thợ mộc” Minh Hy Tông bỏ bê triều chính để làm đồ gỗ; vị hoàng đế cuối cùng Sùng Trinh thì đánh mất giang sơn.

“Hoàng đế thợ mộc” Minh Hy Tông.
Đó chính là hình tượng về những ông vua “dị biệt” của nhà Minh: người thì thô lỗ tàn bạo, kẻ thì hoang dâm vô độ, mê vui chơi hưởng lạc, hoặc lười biếng bỏ bê triều chính, không lo chính sự.
Đây là triều đại phong kiến cuối cùng của người Hán, nên đọc lại khiến người ta không khỏi tiếc nuối: nếu mọi chuyện đúng như vậy, thì những vị hoàng đế ấy quả thật đã khiến đất nước và nhân dân chịu khổ.
Minh Tuyên Tông Chu Chiêm Cơ ngày nào cũng chọi dế.
Thế nhưng, chính những hoàng đế nhà Minh bị cho là hoang dâm vô đạo ấy lại không có ai là “kẻ mềm xương” cả.
Nhà Minh tồn tại tổng cộng 276 năm, không hòa thân, không bồi thường chiến phí, không cắt đất, không triều cống. “Thiên tử giữ cửa biên cương, quân vương chết vì xã tắc”.
Minh Mục Tông Long Khánh hoang dâm vô độ, dùng xuân dược đến suy kiệt cơ thể.
Sùng Trinh tuẫn quốc; Minh Anh Tông bị bắt nhưng không cầu xin tha mạng; Long Vũ chiến đấu đến chết; Thiệu Vũ sau khi bị bắt thì tuyệt thực tự sát.
Minh Nhân Tông Chu Cao Sí là một “cao thủ ẩm thực”, béo đến mức qua đời vì bệnh.
Vào cuối thời Minh, dù phải đồng thời đối phó với quân Mãn Thanh và lực lượng của Lý Tự Thành, triều đình vẫn chưa bao giờ từ bỏ ý nghĩ “toàn cõi Liêu Đông vẫn có thể khôi phục”.
Một triều đại “kỳ quái” như thế lại tồn tại gần 300 năm, xét trong lịch sử các triều đại Trung Hoa cũng được xem là khá trường thọ.
Những “vết nhơ” của các hoàng đế nhà Minh là sự thật, hay là sản phẩm do văn nhân và triều đại sau cố tình bôi nhọ? Có lẽ điều đó không quá quan trọng. Điều đáng suy ngẫm là dù dưới những vị “hôn quân” như vậy, đất nước vẫn gần như vận hành trơn tru. Đó chính là tầm quan trọng của thể chế.
Nhà Minh, quốc hiệu chính thức là Đại Minh, là triều đại cai trị Trung Quốc từ năm 1368 đến năm 1644 sau sự sụp đổ của nhà Nguyên do người Mông Cổ lãnh đạo. Nhà Minh là hoàng triều Trung Quốc cuối cùng của người Hán. Mặc dù kinh đô chính Bắc Kinh đã thất thủ vào năm 1644, trước cuộc nổi dậy do Lý Tự Thành (người thành lập nhà Đại Thuận sớm bị thay thế bởi nhà Thanh của người Mãn Châu) cầm đầu, nhiều quốc gia tàn dư được cai trị bởi những thành viên còn lại của hoàng tộc nhà Minh – gọi chung là Nam Minh – vẫn tồn tại cho đến năm 1662.
Minh Thái Tổ ra sức xây dựng một xã hội gồm các cộng đồng nông thôn tự túc được sắp xếp theo một hệ thống khắt khe, bất dịch, nhằm đảm bảo và hỗ trợ một lớp binh lính dài hạn cho triều đại của mình; quân đội thường trực của đế quốc có quân số hơn một triệu người và các xưởng đóng tàu hải quân ở Nam Kinh là lớn nhất thế giới đương thời. Minh Thái Tổ cũng rất cẩn thận trong việc tiêu trừ quyền lực của tầng lớp hoạn quan và các đại thần ngoại tộc, phân phong lãnh thổ cho nhiều người con trai trên khắp Trung Quốc rồi cố gắng răn dạy các vương gia này thông qua Hoàng Minh Tổ huấn, một bộ chỉ thị rường cột được ban hành từ trước. Hoạch định của Minh Thái Tổ sớm đổ bể khi hoàng đế thiếu niên kế vị ông, Minh Huệ Tông, cố gắng hạn chế quyền lực trong tay những người chú của mình, thúc đẩy chiến dịch Tĩnh Nan, một cuộc nổi dậy đưa Minh Thành Tổ lên ngai vàng vào năm 1402. Minh Thành Tổ chọn Yên Kinh làm kinh đô mới, đổi tên nơi này thành Bắc Kinh, cho xây dựng Tử Cấm thành, khôi phục Đại Vận Hà và đưa các kỳ khoa cử trở lại vị trí số một trong công tác tuyển dụng quan lại. Ông tưởng thưởng cho các hoạn quan phò tá mình, dùng họ như một đối trọng chống lại các sĩ đại phu Nho giáo. Hoạn quan Trịnh Hòa là người dẫn đầu bảy chuyến hải trình lớn thăm dò Ấn Độ Dương, đến tận Ả Rập và các bờ biển phía đông châu Phi.
Sự phung phí tài nguyên được các tân hoàng đế và đảng phái mới trong triều đình hạn chế bớt, chấm dứt hoàn toàn sau khi Minh Anh Tông bị bắt trong trận Thổ Mộc bảo năm 1449. Triều đình để cho quân chủng hải quân ngày một xuống cấp trong khi điều động lao dịch xây dựng tường rào Liêu Đông, kết nối và gia cố các đoạn Vạn lý Trường thành như hình hài của nó ngày nay. Các cuộc điều tra dân số rộng khắp đế quốc vẫn được tiến hành mười năm một lần, nhưng mong muốn trốn tránh lao dịch và sưu thuế của dân chúng, cùng với những trở ngại trong việc bảo quản, xem xét các kho lưu khổng lồ ở Nam Kinh khiến người ta khó mà thu được số liệu chính xác. Ước tính dân số cuối thời nhà Minh dao động từ khoảng 160 đến 200 triệu người, các khoản thu cần thiết bị vắt kiệt từ số lượng nông dân ngày càng ít đi do có nhiều hơn những người biến mất khỏi các biên bản chính thức hoặc "tặng" đất đai của mình cho hoạn quan hay nhà chùa được miễn thuế. Luật Hải cấm vốn để bảo vệ bờ biển khỏi "hải tặc Nhật Bản", biến nhiều người dân trở thành tội phạm buôn lậu hoặc cướp biển.
Đến thế kỷ 16, việc châu Âu mở rộng thương mại – mặc dù chỉ giới hạn ở các hòn đảo gần Quảng Châu như Ma Cao – đã mang nhiều loài thực vật, động vật và hoa màu từ châu Mỹ đến Trung Quốc, đưa ớt vào ẩm thực Tứ Xuyên, giới thiệu ngô và khoai tây năng suất cao, những loại lương thực làm giảm nạn đói, thúc đẩy gia tăng dân số. Hoạt động giao thương phát triển của Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và Hà Lan, sản sinh nhu cầu mới đối với hàng hóa Trung Quốc cũng như tạo ra một dòng nhập khẩu bạc khổng lồ từ Nhật Bản và Tân Thế giới. Lượng kim loại dồi dào này đã tái tiền tệ hóa kinh tế nhà Minh khi mà tiền giấy bị siêu lạm phát nhiều lần và không còn được tin dùng. Trong khi các nhà Nho truyền thống phủ nhận vai trò hết sức nổi bật của thương mại cùng lớp người giàu mà nó vừa tạo nên, trường phái Nho giáo phi chính thống được Vương Dương Minh giới thiệu lại có một thái độ ôn hòa hơn. Những cải cách thành công ban đầu của Trương Cư Chính tỏ rõ sự tàn phá khi nền nông nghiệp lâm vào tình trạng đình đốn do tác động của Tiểu băng hà cùng với những thay đổi trong chính sách của Nhật Bản và Tây Ban Nha khiến nguồn cung bạc cần thiết để nông dân nộp thuế nhanh chóng bị cắt đứt. Những nhân tố kể trên kết hợp với mất mùa, lũ lụt và dịch bệnh khiến nhà Minh sụp đổ trước cuộc khởi nghĩa nông dân của Lý Tự Thành. Không lâu sau, người Mãn Châu lãnh đạo Bát kỳ tiêu diệt Lý Tự Thành, sáng lập nhà Thanh.
Vietbf @ Sưu tầm