Năm 220, Tào Phi ép Hán Hiến Đế nhường ngôi, lập ra nhà Tào Ngụy, nhà Đông Hán chính thức bị diệt. 200 năm sau, Lưu Dụ ép Tấn Cung Đế nhường ngôi, lập ra nhà Lưu Tống. Ít người biết rằng, Lưu Tống là cháu nhiều đời của Lưu Bang.
Trong lịch sử hàng nghìn năm các vương triều Trung Hoa, chuyện triều đại thay đổi vốn là điều quá đỗi bình thường. Nhưng khi khảo sát lịch sử của năm triều đại gồm Đông Hán, Tào Ngụy, Tây Tấn, Đông Tấn và Nam triều Tống, người đời sau phát hiện ra một hiện tượng vô cùng thú vị.
Hoàng đế khai quốc Đông Hán là Lưu Tú vốn là hậu duệ của Hán Cao Tổ Lưu Bang. Thế nhưng đến cuối thời Đông Hán, dù Hán Hiến Đế Lưu Hiệp trên danh nghĩa vẫn nắm quyền thiên hạ, thực tế thì Tào Tháo, Lưu Bị, Tôn Quyền cùng nhiều thế lực khác đều luôn tìm cơ hội xưng đế.

Lưu Dụ là cháu nhiều đời của Lưu Bang.
Sau khi Tào Tháo qua đời, con trai ông là Tào Phi là người đầu tiên đứng ra phế truất Hán Hiến Đế để lập nên nhà Tào Ngụy, chính thức mở ra thời đại Tam Quốc.
Chính quyền Tào Ngụy chỉ tồn tại được 35 năm thì bị Tấn Vương Tư Mã Viêm cướp ngôi, lập nên triều Tây Tấn. Sau khi Trung Nguyên thất thủ, họ Tư Mã lui xuống vùng Giang Nam, tiếp tục duy trì chính quyền Đông Tấn.
Quyền lực của các hoàng đế Đông Tấn ngày càng suy yếu. Cuối cùng, vào năm Nguyên Hy thứ 2 của Đông Tấn (420), Tống Vương Lưu Dụ cướp ngôi, lập nên chính quyền Lưu Tống.
Điều đáng nói là Tống Cao Tổ Vũ Hoàng Đế Lưu Dụ không phải người bình thường. Theo sử sách ghi lại, ông là hậu duệ đời thứ 21 của Sở Nguyên Vương Lưu Giao – em trai của Hán Cao Tổ Lưu Bang.
Gia phả cụ thể được chép như sau:
“Lưu Giao sinh Hồng Ý hầu Lưu Phú; Lưu Phú sinh Tông chính Lưu Tích Cường; Lưu Tích Cường sinh Dương Thành Mậu hầu Lưu Đức; Lưu Đức sinh Dương Thành Tiết hầu Lưu An Dân; Lưu An Dân sinh Dương Thành Ly hầu Lưu Khánh Kỵ; Lưu Khánh Kỵ sinh Dương Thành Túc hầu Lưu Sầm; Lưu Sầm sinh Tông chính Lưu Bình; Lưu Bình sinh Đông Vũ Thành lệnh họ Lưu; người này sinh Đông Lai thái thú Lưu Cảnh; Lưu Cảnh sinh Minh Kinh Lưu Hiệp; Lưu Hiệp sinh Bác sĩ Lưu Hoằng; Lưu Hoằng sinh Lang Nha đô úy Lưu Khôi; Lưu Khôi sinh Định Tương thái thú họ Lưu thời Tào Ngụy; người này sinh Tà Thành lệnh Lưu Lượng; Lưu Lượng sinh Bắc Bình thái thú Lưu Ưng thời Tây Tấn; Lưu Ưng sinh Tướng quốc duyện Lưu Hy; Lưu Hy sinh Khai Phong lệnh Lưu Húc Tôn; Lưu Húc Tôn sinh Vũ Nguyên lệnh Lưu Hỗn thời Đông Tấn; Lưu Hỗn sinh Đông An thái thú Lưu Tĩnh; Lưu Tĩnh sinh Quận công tào Lưu Kiều, tức thân phụ của Lưu Dụ”.
Nói ngắn gọn hơn:
Lưu Giao sinh Lưu Phú, Lưu Phú sinh Lưu Tích Cường, rồi lần lượt truyền xuống đến Lưu Đức, Lưu An Dân, Lưu Khánh Kỵ, Lưu Sầm, Lưu Bình, sau đó đến nhiều đời con cháu tiếp nối cho tới Lưu Kiều – cha của Lưu Dụ.
Gia phả này có thể xem là tương đối hoàn chỉnh, nhưng vẫn có vài điểm đáng chú ý:
Thứ nhất, cháu nội của Lưu Giao là Lưu Tích Cường vì không phải con trưởng nên không kế thừa tước hầu của cha, nhưng con ông là Lưu Đức sau đó lại được phong Dương Thành hầu.
Thứ hai, Tông chính Đông Hán Lưu Bình không thể kế thừa tước vị Dương Thành Túc hầu của cha là Lưu Sầm vì biến cố Vương Mãng cướp ngôi nhà Hán. Sang thời Đông Hán, ông phải bắt đầu lại con đường làm quan nhưng không được phong tước nữa.
Thứ ba, con trai của Lưu Bình chỉ được ghi là Đông Vũ Thành lệnh mà không lưu lại tên thật, nên chỉ có thể gọi là “Lưu nào đó”.
Thứ tư, con trai của Lang Nha đô úy Lưu Khôi thời Đông Hán là Định Tương thái thú dưới triều Tào Ngụy cũng không để lại tên tuổi, phản ánh giai đoạn chuyển giao giữa Đông Hán và Tào Ngụy.
Thứ năm, từ đời Lưu Ưng – Bắc Bình thái thú thời Tây Tấn – gia tộc này chính thức bước vào thời đại Tây Tấn.
Thứ sáu, con trai của Khai Phong lệnh Lưu Húc Tôn là Lưu Hỗn đã di cư xuống phía nam trong thời loạn lạc cuối Tây Tấn, trở thành thế hệ đầu tiên định cư tại Kinh Khẩu thuộc huyện Đan Đồ, quận Tấn Lăng, và sau này giữ chức Vũ Nguyên lệnh dưới thời Đông Tấn.
Có thể nói gia phả của Lưu Dụ vẫn còn tồn tại những lỗ hổng, như hai nhân vật không rõ tên tuổi và nhiều người chỉ lưu lại chức quan mà không có năm sinh năm mất hay sự tích cụ thể. Tuy nhiên, xét việc gia tộc này sau khi Tây Hán diệt vong đã trải qua nhiều thế hệ khá bình lặng, thì việc lưu giữ được một hệ thống gia phả như vậy đã là điều vô cùng hiếm có.
Chính vì thế, trong sử sách, quê quán của Lưu Dụ được ghi là Tuy Dư lý, huyện Bành Thành – nơi từng là kinh đô của nước Sở thời Tây Hán. Điều đó cũng có nghĩa Lưu Dụ được xem là hậu duệ của dòng Sở Vương họ Lưu.
Nói cách khác, sau khi trải qua ba triều đại Tào Ngụy, Tây Tấn và Đông Tấn, thiên hạ cuối cùng lại quay trở về tay họ Lưu.
Tống Vũ Đế (16 tháng 4 năm 363 – 26 tháng 6 năm 422), tên thật là Lưu Dụ, tên tự Đức Dư, Đức Hưng, tiểu tự Ký Nô, quê ở thôn Tuy Dư Lý, huyện Bành Thành,[1] là nhà chính trị và quân sự hoạt động vào cuối thời Đông Tấn và đồng thời cũng là vị hoàng đế khai quốc của nhà Lưu Tống trong lịch sử Trung Quốc. Tuy xuất thân bần hàn, nhưng với tài năng của mình, ông bắt đầu đặt chân vào quân đội trong triều đình Đông Tấn, lần lượt kinh qua các chức vụ quan trọng. Năm 405, Lưu Dụ lãnh binh tiêu diệt quân khởi nghĩa của Sở đế Hoàn Huyền, từ đó ông nắm toàn bộ quyền lực trong triều đình.
Những năm tiếp theo, Lưu Dụ tiến hành bắc phạt, tiêu diệt các quốc gia của người Hồ ở miền bắc là Nam Yên và Hậu Tần, mở rộng lãnh thổ Đông Tấn. Bên trong, ông tiêu diệt được các thế lực của các tướng lĩnh và quý tộc như Lưu Nghị, Gia Cát Trường Dân, Tư Mã Hưu Chi, củng cố quyền lực lớn mạnh. Năm 416, ông được ban tước vị Tống công và gia phong cửu tích, kiến quốc trên đất 20 quận. Năm 419, ông ép vua Tấn phong cho mình làm Tống vương và sang năm 420 thì đoạt ngôi nhà Tấn, lên ngôi hoàng đế, kiến lập nhà Lưu Tống, triều đại đầu tiên ở phía nam trong thời kì Nam-Bắc triều. Ông ở ngôi được hai năm và qua đời và ngày 26 tháng 6 năm 422, thọ 60 tuổi. Miếu hiệu là Cao Tổ. Thuỵ hiệu là Vũ Hoàng đế
Vietbf @ Sưu tầm