Nằm giữa lòng hồ Trại Lốc, phường An Sinh, tỉnh Quảng Ninh có một công trình kiến trúc lăng mộ cổ đã bị hư hại toàn bộ phần nổi, nhưng phần quan trọng của công trình được ẩn chứa trong lòng đất thì rất ít người biết đến. Đó là di tích lăng Đồng Thái - lăng mộ của đức vua Trần Anh Tông, vị vua thứ tư của triều Trần.
Trị vì đất nước từ năm 1225 đến năm 1400, nhà Trần đã để lại một dấu ấn lịch sử hết sức đậm nét trên nhiều lĩnh vực quân sự, chính trị, kinh tế; diện mạo về tinh thần và vật chất... Bên cạnh đó, thời Trần cũng đã để lại cho dân tộc một khối lượng di sản văn hoá vật thể vô cùng phong phú, đó là những công trình kiến trúc đền chùa am tháp phản ánh tư tưởng thời đại, trong đó có hệ thống nhiều lăng mộ hiện nằm ở vùng đất cổ An Sinh, Đông Triều. Nhiều lăng đã bị hoang phế, trong đó có lăng Đồng Thái.
Lăng Đồng Thái (còn gọi là Thái lăng) được xây dựng năm 1320 để an táng đức vua Trần Anh Tông. Trần Anh Tông tên huý là Trần Thuyên, sinh ngày 17-9 năm Bính Tý (1276), con trưởng của vua Trần Nhân Tông, mẹ là Khâm Từ bảo Thánh hoàng Thái hậu (con gái Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn). Ông làm vua từ năm 17 tuổi, ở ngôi 21 năm, làm Thượng hoàng 6 năm. Sách Đại Việt Sử ký ghi: “Vua tính tình đôn hậu, có đức độ, rất quyết đoán trong công việc, có nhiều công lao đóng góp cho đất nước”. Ông mất ngày 16-3 năm Canh Thân (1320) ở cung Trùng Quang, phủ Thiên Trường, thọ 45 tuổi, táng ở Thái lăng. Sách Đại Việt Sử ký toàn thư ghi: “Năm 1320 tháng 12 ngày 12 táng vào Thái lăng ở Yên Sinh”. Thái lăng cũng là nơi phụ táng Thuận Thánh Bảo Từ hoàng thái hậu. Sách Đại Việt Sử ký toàn thư ghi: “Năm 1332, mùa xuân, tháng 2, ngày 15 phụ táng Thuận Thánh Bảo Từ hoàng thái hậu vào Thái lăng”.

Vua Trần Anh Tông. Ảnh: Chat GPT.
Thái lăng tọa lạc tại khu đồi Trán quỉ (nay là lòng hồ Trại Lốc), thôn Trại Lốc 2, xã An Sinh, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Đây là một công trình kiến trúc lăng mộ khá to lớn và có cấu trúc độc đáo được xây dựng năm 1320.
Theo các nguồn thư tịch cổ thì lăng Đồng Thái được xây dựng trong một khuôn viên vuông vắn, phân thành 3 lớp bao quanh, toàn bộ công trình quay về hướng Nam... Lớp ngoài cùng bao bọc như một hành lang cho toàn bộ lăng, có lối ra vào ở bốn phía. Lớp thứ hai có 3 cửa ra vào ở hướng Nam, các cửa đều có thành bậc rồng, một cửa hướng Đông và một cửa hướng Tây, các cửa đều có thành bậc sấu đá. Đối diện với 3 cửa hướng Nam là một điện tế lớn. Lớp trong cùng là phần mộ vuông mỗi cạnh dài 8m, lớp này cao trội hẳn lên, có một cửa ra vào ở hướng Nam, có bậc rồng hai bên cửa.
Kết quả khảo cổ học cũng đã xác định đây là khu di tích có nhiều công trình kiến trúc gỗ lớn. Các công trình này vào thời Trần được xây dựng khá công phu và đẹp đẽ. Sang thời Lê, Nguyễn có đầu tư tôn tạo song các công trình này đã bị thu nhỏ hơn. Cấu trúc không gian của lăng gồm có ba cấp nền. Cấp thứ nhất (lớp ngoài cùng) có mặt bằng khá rộng được kè xếp bằng đá cuội, diện tích của mặt bằng này là 3.538m2, phía Tây của cấp này có một nền kiến trúc diện tích 79,6m2. Cấp nền thứ hai có tổng diện tích 801m2. Xung quanh cấp nền này được kè bằng đá cuội khá công phu, phía trước có bậc thềm đá vôi có lan can chạm rồng và hai bên có hai bậc thềm lan can chạm sấu đá. Ở cấp nền này còn lưu giữ nhiều dấu vết kiến trúc và nhiều di vật quan trọng như chân tảng đá các thời Trần, Lê, Nguyễn; Sân nền lát gạch vuông thời Trần, các ô tròn, các mảnh mô hình tháp chạm sen, cúc, sư tử thời Trần. Cấp nền thứ ba (lớp trong cùng) là nơi cao nhất, đặt huyệt mộ vua Trần Anh Tông, gọi là tẩm. Cấp nền này hình chữ nhật có diện tích 81m2, được tôn đắp cao hơn lớp nền thứ hai khoảng 0,5m, lớp móng xung quanh nền được ghép bằng đá cuội kê xếp rất công phu. Cấp nền này còn một bậc thềm đá có lan can chạm rồng. Cạnh đó có một bia đá hình trụ được dựng vào năm Minh Mệnh nguyên niên (1820), trên khắc dòng chữ Hán “Trần triều Anh Tông Hoàng đế lăng”.
Qua kiến trúc lăng mộ của vua Trần Anh Tông, ta thấy nhà Trần rất coi trọng việc xây dựng lăng tẩm, vị trí xây dựng lăng là một gò đồi thoai thoải trong một thung lũng, xa xa đều có núi bao bọc, thế đất xây dựng lăng tẩm là một nơi linh địa “có tả thanh long, hữu bạch hổ, sau có chẩm, trước có án”, lăng được bố cục theo kiểu đăng đối, qui tụ vào giữa. Phần mộ được coi là trung tâm chính làm nhân tố tổ hợp để qui chiếu thành một khối chung, vây quanh đó là các thành đá và các bậc cửa thành một khối chung vuông vắn, đăng đối nhau, chính lối bố cục này mà các lăng mộ thời Trần thường có mặt bằng vuông và cửa mở ra ba phía (trước và hai bên cạnh). Phía sau là tòa điện miếu để tế lễ.
Ngày nay, các công trình kiến trúc trên bề mặt khu di tích đã bị đổ nát chỉ còn là phế tích, trên mặt bằng của di tích chỉ còn lại những bậc thềm đá có lan can chạm rồng, sấu, những tảng đá kê chân cột chạm hoa sen và những viên ngói không còn được nguyên vẹn, nhưng phần cốt lõi của công trình là nơi đặt di hài của đức vua Trần Anh Tông thì mãi trường tồn với non sông đất nước. Đạo lý của người Việt ta là hướng về cội nguồn, về những người có công với đất nước, lẽ sống của mỗi người dân Việt là “sống vì mồ vì mả, ai sống bằng cả bát cơm”. Bởi vậy, chúng ta cần sớm có biện pháp bảo vệ và khôi phục khu di tích này nhằm giữ trọn truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của nhân dân và góp phần giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
Vietbf @ Sưu tầm