» Super News |
Đột quỵ rất “sợ” người thường uống nước vào giờ này: Thải sạch độc tố cả cơ thể, ngủ dậy thấy khỏe như
New Tab ↗
|
Nước đóng vai trò thiết yếu đối với cơ thể và cần được bổ sung đầy đủ mỗi ngày, thường trong khoảng 1,8 – 2,2 lít tùy theo thể trạng và mức độ vận động. Tuy nhiên, không chỉ lượng nước mà thời điểm uống cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc duy trì sức khỏe và góp phần phòng ngừa một số bệnh lý, trong đó có đột quỵ.
Một ly nước trước khi ngủ có thể “cứu mạng” nhiều người
Thực tế cho thấy, nguy cơ đột quỵ có xu hướng tăng vào ban đêm và thời điểm thời tiết lạnh. Một trong những nguyên nhân được đề cập là tình trạng máu trở nên “cô đặc” hơn khi cơ thể thiếu nước. Khi đó, máu lưu thông kém, tạo điều kiện thuận lợi cho sự hình thành các cục máu đông trong lòng mạch.
Nếu tình trạng này xảy ra ở những người đã có bệnh lý nền về mạch máu như xơ vữa động mạch, nguy cơ càng tăng cao. Các cục máu đông có thể di chuyển theo dòng máu và gây tắc nghẽn tại các cơ quan quan trọng như não hoặc tim, dẫn đến những biến cố nghiêm trọng như đột quỵ hoặc nhồi máu cơ tim.
Một số nghiên cứu cho rằng cục máu đông là nguyên nhân chính gây ra phần lớn các trường hợp tắc nghẽn mạch vành và mạch máu não. Chính vì vậy, việc uống một cốc nước ấm trước khi đi ngủ khoảng 30 phút đến 1 giờ có thể giúp duy trì độ loãng của máu, hỗ trợ tuần hoàn trong suốt thời gian nghỉ ngơi. Thói quen này có thể hỗ trợ giảm nguy cơ hình thành cục máu đông và góp phần bảo vệ hệ tim mạch, theo website Trung Tâm Y Tế khu vực Thủ Đức.
Tùy vào cân nặng, mức độ hoạt động và môi trường sống, mỗi người nên điều chỉnh lượng nước phù hợp. Những người thường xuyên vận động, làm việc ngoài trời hoặc ra nhiều mồ hôi cần bổ sung nhiều nước hơn để tránh tình trạng mất nước.
Tóm lại, duy trì thói quen uống đủ nước, đặc biệt là một ly nước ấm trước khi ngủ khoảng 1 giờ, có thể mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho sức khỏe. Đây là một hành động nhỏ nhưng có thể góp phần giảm thiểu nguy cơ đột quỵ và bảo vệ cơ thể một cách bền vững.
Uống đủ nước trước khi đi ngủ còn đem tới nhiều lợi ích
Uống nước đầy đủ không chỉ quan trọng vào ban ngày mà còn mang lại nhiều lợi ích nếu duy trì thói quen bổ sung một lượng nước hợp lý trước khi đi ngủ. Theo Boldsky, dưới đây là những lý do đáng cân nhắc.
Duy trì trạng thái đủ nước cho cơ thể
Trong khi ngủ, cơ thể không được bổ sung nước như ban ngày, trong khi vẫn diễn ra nhiều quá trình trao đổi chất. Việc uống một ly nước trước khi ngủ giúp đảm bảo cơ thể không bị thiếu nước trong suốt đêm, từ đó duy trì sự cân bằng hydrat hóa cần thiết cho các cơ quan hoạt động ổn định.
Hỗ trợ đào thải độc tố
Cơ thể con người hằng ngày tiếp xúc với nhiều tác nhân có thể tạo ra chất thải và độc tố. Nước đóng vai trò quan trọng trong quá trình đào thải các chất này thông qua hệ bài tiết. Uống nước vào buổi tối giúp cơ thể tiếp tục quá trình thanh lọc trong khi nghỉ ngơi, góp phần duy trì trạng thái cân bằng.
Cải thiện chất lượng giấc ngủ
Việc bổ sung nước trước khi ngủ còn giúp cơ thể cân bằng các khoáng chất và dưỡng chất thiết yếu. Trong lúc ngủ, cơ thể có điều kiện phân phối lại năng lượng và phục hồi các chức năng. Nước hỗ trợ quá trình này, đồng thời giúp cơ bắp và khớp được thư giãn, từ đó cải thiện chất lượng giấc ngủ và giúp bạn cảm thấy dễ chịu, khỏe khoắn hơn hẳn khi thức dậy vào hôm sau.
Hỗ trợ kiểm soát cân nặng
Nước là thức uống không chứa calo nhưng lại đóng vai trò quan trọng trong quá trình trao đổi chất. Một số quan điểm cho rằng uống nước, đặc biệt là nước mát, có thể kích thích cơ thể tiêu hao năng lượng để điều chỉnh nhiệt độ, từ đó hỗ trợ giảm cân. Tuy nhiên, hiệu quả này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như chế độ ăn và mức độ vận động.
Giảm nguy cơ chuột rút ban đêm
Tình trạng chuột rút khi ngủ có thể liên quan đến việc cơ thể thiếu nước. Việc uống nước trước khi đi ngủ giúp duy trì cân bằng điện giải, từ đó giảm nguy cơ co thắt cơ gây đau và khó chịu vào ban đêm.
(Tổng hợp/Ảnh minh họa: Internet)
|
|
0 Replies | 384 Views |
Apr 07, 2026 - 3:59 PM - by Cupcake01
|
Thu về hàng tỷ USD mỗi tháng giữa chiến sự, Iran cần “cảm ơn” vị khách đặc biệt này
New Tab ↗
|
Trong nhiệm kỳ đầu tiên, chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump đã phát động chiến dịch “áp lực tối đa” nhằm cắt đứt nguồn cung dầu của Iran trên thị trường toàn cầu và loại bỏ nguồn thu lớn nhất của Tehran. Nhưng hiện nay, Iran vẫn thu về hàng tỷ USD mỗi tháng nhờ bán dầu. Về điều đó, họ phải "cảm ơn" một quốc gia: Trung Quốc.
Trung Quốc đã tăng nhập dầu Iran kể cả khi các lệnh trừng phạt ngày càng siết chặt. Hiện nay, nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới mua gần như toàn bộ lượng dầu Iran sản xuất, so với khoảng 30% cách đây một thập kỷ.
Các nhà máy lọc dầu tư nhân của Trung Quốc, hay còn được gọi là “ấm trà”, đã trở thành những khách mua dầu thô chính của Iran, sau khi các tập đoàn năng lượng nhà nước của Trung Quốc rút khỏi thị trường vì e ngại lệnh trừng phạt. Trung Quốc có thể mua dầu của Iran với chiết khấu lớn sau khi các lệnh trừng phạt của Mỹ khiến các khách hàng khác e ngại.
Mỹ đã cố gắng kiềm chế hoạt động buôn bán này, truy tố một số cá nhân và mở rộng các biện pháp trừng phạt. Tuy nhiên, Washington khó có thể nhắm mục tiêu vào Trung Quốc do nguy cơ đẩy giá dầu toàn cầu tăng cao và khiến quan hệ Mỹ-Trung bất ổn hơn nữa.
Hệ thống phá vỡ lệnh trừng phạt vẫn tiếp tục hoạt động kể từ khi xung đột Mỹ-Israel và Iran nổ ra cuối tháng 2 khiến Tehran đóng cửa eo biển Hormuz đối với tàu thuyền phương Tây. Iran đe dọa tấn công các tàu chở dầu của các đồng minh với Mỹ, trong khi các tàu chở dầu chở dầu Iran vẫn tiếp tục hướng tới các cảng của Trung Quốc.
Về mặt chính thức, cơ quan hải quan Trung Quốc không báo cáo bất kỳ hoạt động nhập khẩu dầu thô nào từ Iran kể từ năm 2023 trở đi, điều mà các nhà nghiên cứu cho rằng nhằm giảm căng thẳng chính trị với Washington.
Tuy nhiên, Kpler, một công ty nghiên cứu hàng hóa chuyên theo dõi hoạt động vận chuyển dầu bằng tàu chở dầu, ước tính Trung Quốc đã mua khoảng 1,4 triệu thùng dầu mỗi ngày từ Iran vào năm 2025.
Con số này chiếm hơn 80% doanh số bán dầu của Iran năm ngoái và gấp hơn 2 lần so với khoảng 650.000 thùng/ngày mà Trung Quốc mua vào 2017 – năm trước khi chiến dịch gây áp lực tối đa của Tổng thống Trump bắt đầu. Các quan chức và nhà nghiên cứu Mỹ cho biết, một trong những yếu tố then chốt giúp cho hoạt động buôn bán này khả thi là việc mở rộng đội tàu chở dầu ngầm để vận chuyển dầu bị cấm vận giữa Iran và Trung Quốc.
Bắc Kinh đã tăng dần hạn ngạch nhập khẩu dầu đối với các nhà máy lọc dầu tư nhân. Theo số liệu chính thức của Trung Quốc, hạn ngạch nhập khẩu dầu thô của nước này dành đã tăng từ 140 triệu tấn năm 2018 lên 257 triệu tấn trong năm nay.
Về vấn đề thanh toán, các nhà mua hàng Trung Quốc chuyển sang các tổ chức tài chính nhỏ hơn. Theo các quan chức Mỹ, một trong số này là Ngân hàng Côn Luân, được thành lập tại một thành phố sa mạc gần biên giới Trung Quốc với Kazakhstan, trước khi bị tập đoàn dầu khí Trung Quốc CNPC tiếp quản vào năm 2009.
Ngân hàng này đã phát triển nhanh chóng, theo các báo cáo tài chính. Theo Bộ Tài chính Mỹ, tính đến năm 2022, một “phần đáng kể” doanh thu dầu mỏ của Iran đã được chuyển vào đây.
Trong một số trường hợp, người mua Trung Quốc thậm chí không cần gửi tiền để thanh toán. Thay vào đó, họ dàn xếp trao đổi dịch vụ thông qua cơ chế hàng đổi hàng. Trong đó, các công ty Trung Quốc do nhà nước hậu thuẫn xây dựng cơ sở hạ tầng ở Iran đổi lấy các lô hàng dầu mỏ. Theo báo cáo, có tới 8,4 tỷ USD tương đương với khoản thanh toán dầu mỏ đã được chuyển qua kênh tài chính này vào năm 2024.
Theo WSJ
|
|
0 Replies | 654 Views |
Apr 07, 2026 - 3:57 PM - by therealrtz
|
Thực hư ‘lệnh phong tỏa’ eo biển Hormuz: Hàng chục tàu vẫn nượm nượp băng biển
New Tab ↗
|
Citrini Research – công ty từng gây xôn xao thị trường với dự báo tiêu cực về cổ phiếu AI hồi đầu năm - cho biết đã cử nhân sự đến bán đảo Musandam của Oman. Tại đây, chuyên gia này đã đi thuyền để trực tiếp quan sát hoạt động hàng hải trong bối cảnh căng thẳng giữa Iran và Mỹ leo thang. Những gì được ghi nhận đã thách thức quan điểm chung trên thị trường rằng "động mạch" dầu mỏ thế giới hiện đã bị đóng cửa.
Lưu lượng thực tế cao hơn số liệu chính thức
Theo báo cáo của Citrini đăng trên Substack, vị chuyên gia (giấu tên vì lý do an toàn) nhận thấy tàu thuyền vẫn đang di chuyển qua eo biển. Lưu lượng trong những ngày gần đây đã tăng lên khoảng 15 tàu mỗi ngày.
Dù con số này thấp hơn nhiều so với mức bình thường, nhưng nó cho thấy sự gián đoạn chỉ mang tính cục bộ và đang biến chuyển, thay vì bị đình trệ hoàn toàn.
"Các tàu dầu đi qua với tần suất 4-5 chiếc mỗi ngày trong tình trạng tắt hoàn toàn hệ thống định vị AIS. Khối lượng thực tế cao hơn những gì dữ liệu hiển thị và đang tăng tốc trong vài ngày qua thông qua eo biển Qeshm", báo cáo của Citrini cho biết.
AIS là hệ thống theo dõi tàu biển giúp phát sóng vị trí, tốc độ, danh tính và lộ trình của tàu. Citrini khẳng định khối lượng vận chuyển thực tế cao hơn báo cáo vì nhiều tàu đã tắt thiết bị thu phát tín hiệu để "tàng hình" trên các hệ thống theo dõi chính thức.
Cơ chế "chốt kiểm soát" thay vì phong tỏa
Dựa trên các cuộc phỏng vấn với ngư dân, Citrini nhận định Iran đang thực hiện một hệ thống cho phép tàu đi qua có chọn lọc. Các tàu dầu buộc phải có sự chấp thuận trước khi di chuyển qua vùng biển gần lãnh thổ Iran. Công ty mô tả đây là một "chốt kiểm soát chức năng" hơn là một cuộc phong tỏa toàn diện.
Citrini nhấn mạnh: "Quan điểm của chúng tôi về cuộc xung đột này rất phức tạp. Nó không đơn thuần là 'eo biển mở thì giá dầu giảm' hay 'eo biển đóng thì giá dầu tăng vọt theo hình parabol'”.
Tác động dài hạn đến thị trường dầu mỏ
Tuy nhiên, những phát hiện này chỉ dựa trên một chuyến khảo sát thực địa đơn lẻ và các lời kể chưa được kiểm chứng độc lập, nhất là trong bối cảnh thiếu minh bạch tại khu vực này.
Citrini dự báo sự gián đoạn sẽ kéo dài, khiến phí rủi ro bám rễ lâu dài vào thị trường dầu mỏ. Với tầm nhìn này, công ty ưu tiên các vị thế dầu thô dài hạn, cụ thể là ưa chuộng các hợp đồng dầu WTI kỳ hạn tháng 12/2026 hơn là các hợp đồng tháng kỳ hạn gần nhất.
"Chúng tôi cho rằng sự gián đoạn sẽ còn kéo dài và một trạng thái 'bình thường mới' sẽ thiết lập phí rủi ro vĩnh viễn. Tuy nhiên, lưu lượng vận tải có khả năng sẽ phục hồi tới 50% mức trước xung đột trong vòng 4 đến 6 tuần tới", Citrini nhận định.
Theo CNBC
|
|
0 Replies | 512 Views |
Apr 07, 2026 - 3:57 PM - by therealrtz
|
Ông Trump đề xuất Mỹ thu phí tàu thuyền qua eo biển Hormuz
New Tab ↗
|
Theo như lời phát biểu trước báo giới vào ngày 6/4, Tổng thống Donald Trump nêu quan điểm đề xuất: “Tại sao chúng ta không thu phí? Tôi muốn làm điều đó hơn là để họ thu”. Vì ông Donald Trump nhấn mạnh việc mở lại eo biển Hormuz phải là một phần trong bất kỳ thỏa thuận nào nhằm chấm dứt xung đột với Iran.
Tổng thống Mỹ Donald Trump đề xuất Washington thu phí tàu thuyền qua eo biển Hormuz thay vì Iran, đồng thời nhấn mạnh việc mở lại tuyến vận chuyển dầu mỏ này là điều kiện then chốt trong bất kỳ thỏa thuận nào với Tehran.
Tổng thống Mỹ Donald Trump cho rằng Mỹ, thay vì Iran, nên là bên thu phí đối với các tàu thuyền đi qua eo biển Hormuz – tuyến vận chuyển dầu mỏ quan trọng bậc nhất thế giới.
Phát biểu trước báo giới ngày 6/4, ông Trump nêu quan điểm: “Tại sao chúng ta không thu phí? Tôi muốn làm điều đó hơn là để họ thu”.

Tàu chở hàng di chuyển trên Vịnh Arab hướng về eo biển Hormuz, ngày 15/3/2026. Ảnh: AP
Theo ông, Mỹ có cơ sở để đưa ra đề xuất này dựa trên lợi thế quân sự trong bối cảnh xung đột hiện nay. “Tại sao chúng ta không làm? Chúng ta là bên chiến thắng. Chúng ta đã thắng. Họ đã bị đánh bại về mặt quân sự”, ông Trump nói.
Tổng thống Mỹ nhấn mạnh việc mở lại eo biển Hormuz phải là một phần trong bất kỳ thỏa thuận nào nhằm chấm dứt xung đột với Iran.
“Chúng ta cần một thỏa thuận có thể chấp nhận được và một phần trong đó là phải đảm bảo tự do lưu thông dầu mỏ và hàng hóa”, ông Trump phát biểu trong cuộc họp báo ở Nhà Trắng.
Ông cũng thừa nhận việc mở lại eo biển Hormuz là một vấn đề “khác biệt” so với các mục tiêu khác trong tiến trình đàm phán, song khẳng định đây là “ưu tiên rất lớn”.
Liên quan đến năng lực quân sự của Iran, Tổng thống Trump bày tỏ nghi ngờ về khả năng nước này tiếp tục rải thủy lôi tại eo biển Hormuz.
“Họ không còn phương tiện rải thủy lôi nữa. Thậm chí tôi không chắc họ còn thủy lôi ở đó hay không”, ông nói, đồng thời cho rằng năng lực thực tế của Iran có thể đã suy giảm đáng kể.
Trước đó, ông Trump đã bác bỏ đề xuất ngừng bắn 45 ngày do một số quốc gia đưa ra, cho rằng kế hoạch này “chưa đủ”. Đề xuất ngừng bắn được xem là nỗ lực cuối cùng nhằm ngăn chặn các cuộc tấn công quy mô lớn vào cơ sở hạ tầng của Iran – bao gồm nhà máy điện – mà Mỹ từng cảnh báo có thể tiến hành nếu eo biển Hormuz tiếp tục bị phong tỏa.
Trong khi đó, Iran đã tăng cường kiểm soát eo biển Hormuz bằng việc triển khai kế hoạch thu phí đối với các tàu chở dầu đi qua khu vực này. Kế hoạch được thông qua từ tháng trước nhằm khẳng định vai trò chủ quyền của Tehran đối với tuyến hàng hải chiến lược.
|
|
0 Replies | 216 Views |
Apr 07, 2026 - 3:56 PM - by vuitoichat
|
Bi kịch của 1 hãng điện thoại 20 năm tuổi: Thời hoàng kim 300 triệu USD chóng vánh, cuối cùng phá sản vì thua đau
New Tab ↗
|
Đầu những năm 2000, khi điện thoại di động vẫn còn là một thiết bị công nghệ thuần túy, Vertu xuất hiện như một nghịch lý đầy hấp dẫn: một chiếc điện thoại không được sinh ra để cạnh tranh về cấu hình, mà để trở thành biểu tượng của đẳng cấp.
Được hậu thuẫn bởi Nokia - “ông vua” di động thời bấy giờ - Vertu không chỉ bán sản phẩm, mà bán một lối sống: nơi mỗi chiếc điện thoại có giá từ vài nghìn đến hàng trăm nghìn USD, được chế tác thủ công, gắn đá quý và đi kèm dịch vụ concierge 24/7 như một “trợ lý cá nhân” cho giới siêu giàu.
Sự ra đời của Vertu phản ánh một tầm nhìn táo bạo: biến điện thoại thành một món đồ xa xỉ tương tự đồng hồ hay trang sức. Trong bối cảnh Nokia thống trị thị trường toàn cầu, việc tạo ra một thương hiệu “siêu cao cấp” như Vertu được xem là bước đi chiến lược nhằm mở rộng biên lợi nhuận và xây dựng hình ảnh.
Những chiếc Vertu Signature với nút bấm ruby, thân máy titanium và màn hình sapphire nhanh chóng trở thành biểu tượng của giới thượng lưu, xuất hiện trong tay các doanh nhân, ngôi sao và những người muốn khẳng định vị thế. Ở thời kỳ đỉnh cao, Vertu được định giá 297 triệu USD vào năm 2012.
Thời kỳ hoàng kim của Vertu gắn liền với một thế giới mà công nghệ chưa phải là yếu tố quyết định trải nghiệm người dùng. Khi đó, điện thoại chủ yếu phục vụ nghe gọi, và sự khác biệt nằm ở thiết kế, vật liệu và cảm giác sở hữu. Vertu đã tận dụng hoàn hảo khoảng trống này.
Theo Financial Times, mỗi chiếc điện thoại được lắp ráp thủ công tại Anh, với chữ ký của người thợ chế tác - một chi tiết hiếm thấy trong ngành công nghệ. Dịch vụ concierge - chỉ cần nhấn một nút - có thể đặt bàn tại nhà hàng Michelin, thuê máy bay riêng hay tổ chức những trải nghiệm độc quyền, càng củng cố vị thế “không thể thay thế” của Vertu.
Nhưng chính mô hình thành công ấy lại chứa đựng mầm mống của sự sụp đổ.
Cuộc cách mạng smartphone bắt đầu với sự ra đời của iPhone năm 2007 đã thay đổi hoàn toàn cách con người nhìn nhận điện thoại. Từ một thiết bị liên lạc, điện thoại trở thành trung tâm của đời sống số, nơi phần mềm, hệ sinh thái ứng dụng và khả năng kết nối mới là yếu tố cốt lõi. Trong thế giới mới đó, giá trị của một chiếc điện thoại không còn nằm ở vật liệu quý hiếm, mà ở trải nghiệm công nghệ.
Vertu đã phản ứng chậm.
Trong khi Apple và các hãng Android liên tục đổi mới, công ty này vẫn trung thành với triết lý “xa xỉ thủ công”. Những nỗ lực đưa Android vào sản phẩm đến muộn và không đủ sức cạnh tranh. Người dùng, kể cả giới giàu có, bắt đầu chuyển sang iPhone - không chỉ vì công nghệ vượt trội mà còn vì nó trở thành một biểu tượng mới của địa vị: hiện đại, kết nối và toàn cầu hóa.
Một nghịch lý xuất hiện: Vertu quá đắt để trở thành thiết bị công nghệ thực dụng, nhưng lại không đủ “thời trang” để giữ vị thế biểu tượng. Trong khi đó, iPhone - dù không phải hàng xa xỉ theo nghĩa truyền thống - lại trở thành chuẩn mực mới của sự sang trọng trong kỷ nguyên số.
Sự suy yếu của Vertu càng rõ nét khi Nokia bắt đầu mất vị thế trên thị trường di động. Năm 2012, Nokia bán Vertu cho quỹ đầu tư EQT Partners. Đây được xem là bước ngoặt đầu tiên, khi Vertu rời khỏi “chiếc ô bảo hộ” của một tập đoàn công nghệ lớn. Những năm sau đó, thương hiệu liên tục đổi chủ, rơi vào vòng xoáy tài chính và chiến lược thiếu nhất quán.
Theo Reuters, Vertu gặp khó khăn trong việc cân bằng giữa chi phí sản xuất cao và doanh số ngày càng giảm. Mô hình thủ công, từng là điểm mạnh, trở thành gánh nặng khi thị trường thu hẹp. Trong khi đó, các dịch vụ concierge, dù độc đáo, không còn đủ sức hấp dẫn trong một thế giới nơi mọi dịch vụ đều có thể đặt qua ứng dụng.
Năm 2017, Vertu chính thức rơi vào khủng hoảng. Công ty không thể duy trì hoạt động sản xuất tại Anh, buộc phải đóng cửa nhà máy và sa thải hàng trăm nhân viên. Việc nộp đơn phá sản đánh dấu sự kết thúc của một thương hiệu từng được xem là biểu tượng của xa xỉ công nghệ.
Sự sụp đổ của Vertu không chỉ là câu chuyện của một doanh nghiệp thất bại, mà còn phản ánh sự thay đổi sâu sắc trong cách con người định nghĩa “xa xỉ”. Trong kỷ nguyên số, giá trị không còn nằm ở vật liệu đắt đỏ, mà ở trải nghiệm, sự tiện lợi và khả năng kết nối. Một chiếc điện thoại không còn là món đồ để khoe, mà là công cụ để sống, làm việc và giao tiếp.
Ở một góc nhìn khác, Vertu cũng là nạn nhân của chính sự “định vị quá hẹp”. Khi chỉ phục vụ một nhóm khách hàng siêu nhỏ, thương hiệu thiếu đi khả năng thích ứng khi thị trường thay đổi. Trong khi đó, các hãng công nghệ lớn lại mở rộng tệp khách hàng nhưng vẫn giữ được yếu tố cao cấp thông qua thiết kế và hệ sinh thái.
Dẫu vậy, Vertu vẫn để lại một di sản đặc biệt. Nó cho thấy đã từng có một thời, công nghệ và xa xỉ có thể giao thoa theo một cách rất khác - nơi một chiếc điện thoại được chế tác như một món trang sức, và mỗi cuộc gọi mang theo cảm giác đặc quyền.
Theo: Reuters, Financial Times
|
|
0 Replies | 581 Views |
Apr 07, 2026 - 3:56 PM - by therealrtz
|
BYD bị một quốc gia cho vào danh sách đen, nhà máy 4,6 triệu m² nhận cảnh báo đỏ: Chuyện gì đây?
New Tab ↗
|
Bộ Lao động Brazil vừa đưa BYD vào “danh sách đen” các doanh nghiệp bị cáo buộc “đặt người lao động vào điều kiện tương tự lao động cưỡng bức”, trong bối cảnh bê bối liên quan đến một dự án nhà máy đang ảnh hưởng đến hình ảnh của hãng tại thị trường Nam Mỹ quan trọng.
Danh sách được cập nhật tại Brazil đã nêu tên công ty con BYD Auto do Brasil. Theo đó, 163 lao động được lực lượng chức năng “giải cứu” khỏi công trường xây dựng tại bang Bahia, đông bắc Brazil, vào tháng 12/2024.
Vào thời điểm đó, các thanh tra mô tả tình trạng tại công trường là “đáng báo động về mức độ tạm bợ và xuống cấp”, nơi một nhà thầu đưa lao động Trung Quốc sang làm việc.
Phía Brazil cho biết việc đưa vào danh sách - có hiệu lực trong 2 năm - không phải hình thức trừng phạt mà nhằm đảm bảo tính minh bạch. Theo quy định, các doanh nghiệp chỉ bị đưa vào danh sách sau khi đã trải qua quy trình điều tra, được đảm bảo quyền tự bào chữa. Những công ty này vẫn có thể tiếp tục hoạt động, nhưng có thể bị giám sát chặt chẽ hơn và gặp hạn chế trong việc tiếp cận nguồn tài chính công.
Nikkei Asia đã liên hệ với BYD để xin bình luận.
Trước đó, vào tháng 12/2024, BYD khẳng định có “chính sách không khoan nhượng với các vi phạm về quyền con người và luật lao động”, đồng thời cho biết đang hợp tác với cơ quan chức năng Brazil. Hãng cũng tuyên bố đã chấm dứt hợp đồng với nhà thầu Jinjiang Construction Brazil, đơn vị sau đó phủ nhận các cáo buộc. Một phát ngôn viên của BYD còn cho rằng công ty đang là nạn nhân của một “chiến dịch bôi nhọ”, theo các báo cáo truyền thông.
Việc bị đưa vào danh sách có thể ảnh hưởng đáng kể đến danh tiếng của BYD tại Brazil - thị trường hơn 200 triệu dân mà hãng đang mở rộng mạnh mẽ. Tháng 12 vừa qua, BYD cho biết đã bán hơn 100.000 xe tại Brazil trong năm 2025, tăng từ hơn 76.000 xe của năm trước.
Nhà máy liên quan đến vụ việc, đặt tại thành phố Camacari, bang Bahia, đã được khánh thành vào tháng 10 với sự tham dự của Tổng thống Brazil Luiz Inacio Lula da Silva. Truyền thông nhà nước Trung Quốc Global Times dẫn lời ông Lula cho biết việc BYD đầu tư vào đây là niềm tự hào, đặc biệt sau khi Ford từng rút khỏi khu vực này.
BYD mô tả tổ hợp trị giá khoảng 1 tỷ USD này là “nhà máy của tương lai”, với diện tích 4,6 triệu m² - tương đương 645 sân bóng đá - dự kiến tạo ra 20.000 việc làm và mở rộng theo từng giai đoạn, với công suất ban đầu 150.000 xe/năm.
Thị trường quốc tế đóng vai trò sống còn với BYD trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt tại Trung Quốc. Báo cáo tài chính gần nhất cho thấy lợi nhuận ròng cả năm của hãng giảm 19% - lần đầu sụt giảm kể từ 2021 - trong khi doanh thu chỉ tăng 3%, mức thấp nhất trong 6 năm. Tuy nhiên, công ty kỳ vọng cú sốc giá dầu do chiến sự Iran sẽ thúc đẩy nhu cầu xe điện, và đã nâng mục tiêu doanh số quốc tế năm nay lên 1,5 triệu xe.
Theo Xinhua, doanh số của BYD tại Brazil trong quý I năm nay đã tăng 74% so với cùng kỳ, đạt mức cao kỷ lục, nhờ sự chấp nhận ngày càng lớn đối với xe điện Trung Quốc và việc mở rộng năng lực sản xuất tại Bahia.
Trước đó, năm 2024, cơ quan công tố lao động bang Bahia đã công bố chi tiết về những gì họ phát hiện tại công trường. Nhóm điều tra cho biết tồn tại “những vấn đề nghiêm trọng về cơ sở hạ tầng và vệ sinh”, bao gồm thiếu giường ngủ, nhà vệ sinh và điều kiện bảo quản thực phẩm không đảm bảo.
“Không chỉ là điều kiện sống xuống cấp, tình trạng này còn cấu thành lao động cưỡng bức, với nhiều dấu hiệu được phát hiện trong quá trình kiểm tra,” báo cáo nêu rõ. Theo đó, người lao động bị yêu cầu đặt cọc, bị giữ lại 60% tiền lương (chỉ nhận 40% bằng nhân dân tệ), phải chịu chi phí cao nếu chấm dứt hợp đồng và bị công ty giữ hộ chiếu.
Theo: Nikkei
|
|
0 Replies | 654 Views |
Apr 07, 2026 - 3:55 PM - by therealrtz
|
Làm điều ngược lại cả thế giới, Na Uy biến dầu mỏ thành ‘kho tiền’ 2.000 tỷ USD không bao giờ vơi
New Tab ↗
|
Khi nhắc đến Na Uy, người ta thường nghĩ đến những cảnh quan phủ đầy tuyết, mùa đông kéo dài hay những dải cực quang nhảy múa trên bầu trời đêm. Quốc gia Bắc Âu này cũng được biết đến nhiều hơn như một trong những nơi hạnh phúc nhất thế giới. Nhưng đằng sau sự yên bình đó là một trong những tổ chức tài chính mạnh nhất hành tinh.
Năm 1969, khi những mũi khoan đầu tiên chạm vào trữ lượng dầu khổng lồ dưới lòng Biển Bắc, Na Uy bất ngờ bước vào một “cú nhảy vọt” mà không phải quốc gia nào cũng may mắn có được. Nhưng đi cùng với vận may đó là một bài toán khó mà rất nhiều nước giàu tài nguyên từng thất bại: Làm sao biến dòng tiền khổng lồ, đến nhanh và mang tính tạm thời, thành nền tảng thịnh vượng bền vững thay vì để nó làm méo mó nền kinh tế hoặc cạn kiệt chỉ sau một thế hệ.
Trong khi nhiều quốc gia lựa chọn con đường quen thuộc là tăng chi tiêu, thúc đẩy tăng trưởng ngắn hạn hoặc “đốt” tài nguyên để đổi lấy sự bùng nổ tức thời, Na Uy lại đi theo hướng gần như ngược lại. Họ chọn sự kiềm chế, một quyết định có phần “phi tự nhiên” trong bối cảnh tiền đổ về ồ ạt.
Thay vì tiêu, họ giữ lại. Thay vì tập trung trong nước, họ mang tiền đi đầu tư ra toàn cầu. Và thay vì tối đa hóa lợi ích trước mắt, họ thiết kế một hệ thống để đảm bảo lợi ích cho cả những thế hệ chưa ra đời.
Chính lựa chọn mang tính kỷ luật này, qua nhiều thập kỷ, đã tạo ra một trong những định chế tài chính đặc biệt nhất thế giới: Quỹ Hưu trí Chính phủ Toàn cầu (Government Pension Fund Global – GPFG, hay tên gọi khác là Oid Fund Norway). Từ một công cụ quản lý nguồn thu dầu khí, quỹ dần trở thành một “cỗ máy đầu tư” quy mô toàn cầu, nắm giữ cổ phần tại hàng nghìn doanh nghiệp và hiện diện trên hầu hết các thị trường tài chính lớn.
Đến nay, quy mô quỹ đã vượt 21,2 nghìn tỷ kroner Na Uy, tương đương hơn 2.000 tỷ USD, một con số khổng lồ nếu đặt cạnh quy mô dân số chỉ hơn 5 triệu người, hay so với GDP của nhiều nền kinh tế lớn trên thế giới. Nhưng giá trị thực sự của quỹ không nằm ở quy mô, mà nằm ở cách nó vận hành.
Đây không đơn thuần là nơi “cất tiền dầu”. Nó là một cấu trúc tài chính được thiết kế có chủ đích: Chuyển hóa tài nguyên hữu hạn thành danh mục tài sản sinh lời dài hạn. Dòng tiền từ dầu khí chỉ là điểm khởi đầu; phần tăng trưởng chính đến từ lợi nhuận đầu tư toàn cầu, từ cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản cho tới hạ tầng năng lượng.
Nhờ đó, Na Uy không chỉ tận dụng được thời kỳ hoàng kim của dầu mỏ, mà còn xây dựng được một nền tảng tài chính có khả năng duy trì sức mạnh kinh tế ngay cả khi nguồn tài nguyên này dần suy giảm. Nói cách khác, họ không chỉ khai thác dầu, họ “tái chế” dầu thành một cỗ máy tạo ra của cải lâu dài.
M ÁY IN TIỀN VÔ HẠN
Sự bùng nổ của dầu mỏ đã nhanh chóng đưa Na Uy bước sang một trạng thái kinh tế hoàn toàn khác. Chỉ trong vài năm sau khi khai thác các mỏ ngoài khơi, tốc độ tăng trưởng tăng vọt, nguồn thu ngân sách dồi dào chưa từng có, và quốc gia Bắc Âu này đứng trước một cơ hội hiếm hoi để “đổi đời” ở quy mô quốc gia. Nhưng cùng lúc đó, các nhà hoạch định chính sách cũng nhìn thấy rất rõ mặt trái của sự giàu có đến quá nhanh.
Họ hiểu rằng dầu mỏ không phải là “máy in tiền” vô hạn. Giá dầu có thể lên xuống thất thường theo chu kỳ toàn cầu, và bản thân trữ lượng dầu khí cũng sẽ cạn kiệt theo thời gian. Nếu dòng tiền này được bơm trực tiếp vào nền kinh tế, nó có thể gây ra lạm phát, làm méo mó cấu trúc sản xuất và khiến quốc gia rơi vào cái bẫy quen thuộc của nhiều nước giàu tài nguyên: Tăng trưởng nóng trong ngắn hạn nhưng thiếu bền vững về dài hạn.
Chính vì vậy, Na Uy đã chọn một cách tiếp cận gần như đi ngược bản năng: Không tiêu ngay, mà “khóa” dòng tiền lại. Năm 1990, quốc hội thông qua việc thành lập một quỹ tài chính đặc biệt có tên Oil Fund - tiền thân của Government Pension Fund Global ngày nay với vai trò như một “bộ lọc” giữa nguồn thu dầu khí và nền kinh tế trong nước.
Phải đến năm 1996, khi ngân sách bắt đầu ghi nhận thặng dư ổn định từ dầu khí, những khoản tiền đầu tiên mới chính thức được chuyển vào quỹ. Đây là một chi tiết quan trọng: Na Uy không vội vàng, mà chỉ đưa tiền vào quỹ khi đã có nền tảng tài khóa đủ vững.
Mục tiêu của quỹ ngay từ đầu đã rất rõ ràng và nhất quán: Biến nguồn thu tạm thời từ dầu khí thành tài sản tài chính lâu dài. Thay vì để tài nguyên được khai thác rồi “tiêu hết” trong một thế hệ, Na Uy chọn cách tích lũy, đầu tư và để tài sản đó tiếp tục sinh lời theo thời gian.
Nói cách khác, quỹ không chỉ là công cụ quản lý tiền, mà là một cơ chế chuyển đổi: Từ tài nguyên hữu hạn sang của cải bền vững, từ lợi ích trước mắt sang lợi ích liên thế hệ. Đây cũng chính là nền tảng giúp Na Uy tránh được “lời nguyền tài nguyên”, điều mà rất nhiều quốc gia khác đã không làm được.
“CỔ ĐÔNG” LỚN NHẤT THẾ GIỚI
Một trong những quyết định mang tính “định hình số phận” của quỹ dầu mỏ Na Uy là: Gần như toàn bộ nguồn tiền được đầu tư ra bên ngoài quốc gia. Đây không chỉ là lựa chọn kỹ thuật, mà là một chiến lược kinh tế vĩ mô có chủ đích, nhằm tránh cái bẫy mà nhiều nền kinh tế giàu tài nguyên từng mắc phải.
Nếu dòng tiền dầu khí được bơm trực tiếp vào nền kinh tế trong nước, hệ quả gần như chắc chắn sẽ là lạm phát tăng cao, chi phí lao động leo thang, đồng nội tệ lên giá và các ngành xuất khẩu ngoài dầu khí mất dần sức cạnh tranh. Na Uy nhận thức rất sớm rủi ro này, và chọn cách “cách ly” nguồn tiền dầu khỏi nền kinh tế nội địa.
Thay vì chi tiêu, họ mang tiền đi đầu tư toàn cầu.
Cách tiếp cận này tạo ra hai lợi ích đồng thời. Thứ nhất, nó giúp nền kinh tế trong nước vận hành ổn định, không bị “quá nhiệt” bởi dòng tiền lớn. Thứ hai, nó cho phép Na Uy tận dụng tăng trưởng của toàn bộ nền kinh tế thế giới, thay vì chỉ phụ thuộc vào một thị trường nhỏ với dân số hơn 5 triệu người.
Theo dữ liệu mới nhất, quỹ hiện đầu tư tại khoảng 68 quốc gia, với hơn 10.000 khoản đầu tư riêng lẻ, trải rộng từ cổ phiếu, trái phiếu cho đến bất động sản và hạ tầng năng lượng. Danh mục này không chỉ đa dạng về địa lý, mà còn bao phủ gần như toàn bộ các ngành kinh tế quan trọng trên toàn cầu.
Trụ cột lớn nhất của quỹ là cổ phiếu, chiếm khoảng 71% tổng giá trị – tương đương hơn 15,1 nghìn tỷ kroner. Đây là lựa chọn mang tính chiến lược: Chấp nhận biến động trong ngắn hạn để đổi lấy tăng trưởng dài hạn. Thông qua danh mục này, quỹ nắm giữ cổ phần tại khoảng 7.200 doanh nghiệp trên 60 quốc gia, từ các tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới, ngân hàng, hãng tiêu dùng, cho đến các công ty công nghiệp và năng lượng.
Ở quy mô hiện tại, quỹ nắm giữ khoảng 1,5% tổng giá trị cổ phiếu niêm yết toàn cầu, một con số đủ để biến Na Uy, về mặt tài chính, trở thành một trong những “cổ đông thầm lặng” lớn nhất thế giới.
Song song với đó là lớp tài sản ổn định hơn: Trái phiếu, chiếm khoảng 26,5% danh mục, tương đương khoảng 5,6 nghìn tỷ kroner. Đây là các khoản đầu tư vào trái phiếu chính phủ và doanh nghiệp tại 48 quốc gia, đóng vai trò tạo dòng thu nhập đều đặn và giảm độ biến động tổng thể của quỹ. Nếu cổ phiếu là “động cơ tăng trưởng”, thì trái phiếu chính là “bộ giảm xóc” giúp danh mục vận hành ổn định qua các chu kỳ thị trường.
Ngoài các tài sản tài chính truyền thống, quỹ còn nắm giữ một phần tài sản hữu hình trên toàn cầu. Danh mục bất động sản gồm 1.389 tài sản tại 14 quốc gia, trị giá khoảng 372 tỷ kroner, bao gồm các tòa nhà văn phòng, trung tâm thương mại và bất động sản thương mại tại những thành phố lớn. Đây là nguồn tạo ra dòng tiền thuê ổn định và giúp đa dạng hóa rủi ro.
Bên cạnh đó, quỹ cũng bắt đầu mở rộng sang hạ tầng năng lượng tái tạo, một lĩnh vực còn chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng mang ý nghĩa chiến lược dài hạn. Các khoản đầu tư này trải dài tại nhiều quốc gia, phản ánh định hướng từng bước chuyển dịch từ tài sản gắn với dầu khí sang những nguồn năng lượng của tương lai.
Tổng thể, danh mục của quỹ được xây dựng theo nguyên tắc rất rõ ràng: Đa dạng hóa tối đa, cân bằng giữa tăng trưởng và ổn định, và trải rộng trên toàn cầu để không phụ thuộc vào bất kỳ thị trường hay ngành nghề nào. Chính cấu trúc này đã giúp quỹ không chỉ bảo toàn giá trị, mà còn liên tục tạo ra lợi nhuận qua nhiều thập kỷ, biến nguồn tiền từ dầu mỏ thành một hệ sinh thái tài sản có khả năng tự sinh sôi.
DẦU MỎ CHỈ LÀ “NGUỒN VỐN ĐẦU VÀO”
Một trong những điểm ít được chú ý nhưng lại mang tính quyết định trong câu chuyện của quỹ dầu mỏ Na Uy là: Dầu không còn là nguồn tạo ra sự giàu có chính. Vai trò của dầu dần thu hẹp về “nguồn vốn đầu vào”, trong khi động cơ tăng trưởng thực sự lại nằm ở thị trường tài chính toàn cầu.
Trong những năm đầu, dòng tiền từ dầu khí chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị quỹ. Nhưng theo thời gian, khi quy mô danh mục tăng lên và bắt đầu sinh lời, cán cân đã đảo chiều. Hiện nay, hơn một nửa giá trị của quỹ đến từ lợi nhuận đầu tư, tức là từ cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản và các tài sản tài chính khác chứ không phải từ việc khai thác thêm dầu.
Diễn biến tăng trưởng của quỹ phản ánh rất rõ sự chuyển dịch này. Từ một quỹ gần như “trống” vào cuối những năm 1990, giá trị chỉ mới ở mức vài trăm tỷ kroner, quỹ nhanh chóng vượt mốc 1.000 tỷ kroner vào giữa những năm 2000. Đến năm 2013, con số này đã đạt khoảng 5.000 tỷ kroner. Nhưng giai đoạn tăng trưởng mạnh nhất lại diễn ra trong thập kỷ gần đây, khi thị trường tài chính toàn cầu bước vào chu kỳ tăng dài, đặc biệt là sự bùng nổ của cổ phiếu công nghệ.
Bất chấp những cú sốc như khủng hoảng tài chính, đại dịch Covid-19 hay các biến động địa chính trị, giá trị quỹ vẫn tiếp tục đi lên, vượt mốc 20.000 tỷ kroner vào năm 2024 và duy trì đà tăng trong năm 2025. Điều này cho thấy một thực tế quan trọng: quỹ không phụ thuộc vào một chu kỳ kinh tế đơn lẻ, mà được neo vào tăng trưởng dài hạn của toàn bộ nền kinh tế thế giới.
Điểm đáng chú ý là toàn bộ chiến lược này được xây dựng trên nguyên tắc kiên nhẫn và kỷ luật. Quỹ không chạy theo xu hướng ngắn hạn, không cố “đánh bại thị trường” bằng các quyết định đầu cơ, mà duy trì phân bổ tài sản rộng, chi phí thấp và thời gian nắm giữ dài. Chính cách tiếp cận này giúp quỹ hấp thụ được biến động ngắn hạn, đồng thời tối đa hóa lợi nhuận trong dài hạn.
Nói một cách đơn giản, Na Uy đã hoàn tất một bước chuyển quan trọng: Từ việc khai thác tài nguyên để kiếm tiền, sang việc để tiền tự kiếm tiền. Và khi quá trình này đủ lâu và đủ lớn, dầu mỏ, thứ từng là nền tảng của sự giàu có dần trở thành yếu tố thứ yếu trong bức tranh tài chính của quốc gia.
Theo: IndiaTimes, The Economist
|
|
0 Replies | 510 Views |
Apr 07, 2026 - 3:54 PM - by therealrtz
|
Quân đội Mỹ tấn công đảo Kharg của Iran
New Tab ↗
|
Mehr đưa tin về “một số vụ nổ” nhưng không cung cấp thêm chi tiết.
Hãng tin Axios trích dẫn một quan chức cấp cao giấu tên của Mỹ, cho biết quân đội Mỹ đã tiến hành các cuộc tấn công vào các mục tiêu quân sự trên đảo Kharg của Iran.
Các thông tin ban đầu cho thấy trung tâm xuất khẩu dầu mỏ của đảo đã bị ảnh hưởng trong các cuộc tấn công, động thái này có thể làm tê liệt dòng chảy dầu thô đến khu vực.
Trước đó, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã nhiều lần đe dọa ném bom hoặc giành quyền kiểm soát hòn đảo này. Ngày 30/3, ông viết trên mạng xã hội rằng Mỹ có thể phá hủy “các nhà máy điện, giếng dầu và đảo Kharg”.
Iran chiến thắng theo cách của mình
Lời đe dọa mới nhất của Tổng thống Trump
Tổng thống Mỹ Donald Trump vừa đưa ra một lời đe dọa khác đối với Iran khi thời hạn mở cửa eo biển Hormuz đang đến gần.
“Cả một nền văn minh sẽ bị xóa sổ trong đêm nay, không bao giờ được hồi sinh nữa”, ông Trump bắt đầu trong một bài đăng trên nền tảng Truth Social của mình.
Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc dự kiến bỏ phiếu về một dự thảo nghị quyết nhằm mở lại eo biển Hormuz. Nội dung dự thảo đã được điều chỉnh do sự phản đối từ Nga và Trung Quốc.
“Tôi không muốn điều đó xảy ra, nhưng có lẽ nó sẽ xảy ra. Tuy nhiên, giờ đây khi chúng ta đã có sự thay đổi chế độ hoàn toàn, trong đó những bộ óc khác biệt, thông minh hơn và ít cực đoan hơn chiếm ưu thế, có lẽ điều gì đó tuyệt vời mang tính cách mạng có thể xảy ra”, ông tiếp tục.
“AI BIẾT ĐƯỢC? Chúng ta sẽ tìm ra câu trả lời đêm nay, một trong những khoảnh khắc quan trọng nhất của lịch sử thế giới”.
Khói bốc lên từ đảo Kharg, ngày 7/4. Ảnh: Telegram
Các mục tiêu của Mỹ trong cuộc tấn công
Một quan chức Mỹ trả lời phỏng vấn NBC News cho biết, quân đội nước này đã tấn công hàng chục mục tiêu quân sự của Iran trên đảo Kharg.
Chiến dịch của Mỹ bao gồm các cuộc không kích dọc theo phía bắc của hòn đảo và không có binh lính Mỹ nào được triển khai trên bộ.
Nguồn tin của NBC News cho biết thêm, lực lượng Mỹ không tấn công các mỏ dầu trên đảo, mà thay vào đó nhắm vào các hầm trú ẩn và kho chứa quân sự, hệ thống phòng không và các cơ sở quân sự khác.
Mỹ xác nhận tấn công đảo Kharg
Phó Tổng thống J.D. Vance xác nhận các cuộc tấn công của quân đội Mỹ vào đảo Kharg của Iran, cho biết ông đã nói chuyện với Bộ trưởng Chiến tranh Pete Hegseth và Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Dan Caine trước đó.
“Chúng ta đã dự định tấn công một số mục tiêu quân sự trên đảo Kharg. Tôi tin rằng chúng ta đã làm được điều đó”, ông Vance nói trong một cuộc họp báo ngày 7/4.
Phó Tổng thống Mỹ cho rằng, các cuộc tấn công không đánh dấu sự thay đổi chiến lược cũng như không thay đổi hạn chót 20h ngày 7/4 mà Tổng thống Trump đã đặt ra cho Iran để mở eo biển Hormuz.
Chuyên gia nói Mỹ 'mất nhiều hơn được' nếu đưa quân đổ bộ đảo Kharg của Iran
Cũng trong ngày 7/4, truyền thông Iran đưa tin 18 người, trong đó có 2 trẻ em, đã thiệt mạng trong các cuộc tấn công mới nhằm vào tỉnh Alborz, giáp ranh thủ đô Tehran.
Theo trang tin Mizan Online và hãng thông tấn bán chính thức Fars , giới chức tỉnh Alborz cho biết các cuộc không kích của Mỹ và Israel đã đánh trúng các khu dân cư.
Ngoài những người thiệt mạng còn có 24 người khác bị thương.
Hãng thông tấn nhà nước IRNA , dẫn lời một quan chức tỉnh, cho biết một cuộc tấn công đã nhắm vào một cây cầu đường sắt ở Kashan (Iran), khiến hai người thiệt mạng.
Rộ tin tân lãnh tụ tối cao Iran trong tình trạng nguy kịch
Trong khi đó, trang web của báo Etemad cũng đưa tin về một cuộc tấn công nhắm vào một cây cầu trên đường cao tốc Tabriz - Zanjan ở tây bắc Iran.
Quân đội Israel cho biết đã tấn công một khu phức hợp hóa dầu của Iran ở Shiraz, trong khi Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo (IRGC) tuyên bố đã tiến hành các cuộc tấn công trả đũa nhằm vào các công ty Mỹ hoạt động tại Ả-rập Xê-út ngay sau đó. Cầu King Fahd, một cây cầu quan trọng nối liền Ả-rập Xê-út và Bahrain, đã bị đóng cửa.
Quân đội Israel cũng đưa ra tuyên bố cảnh báo người dân Iran không nên sử dụng tàu hỏa cho đến 21h vì “lý do an toàn”.
Các vụ tấn công mới nhất xảy ra khi IRGC đưa ra lời cảnh báo mạnh mẽ nhất từ trước đến nay đối với các nước láng giềng, tuyên bố rằng "sự kiềm chế của họ đã chấm dứt".
“Các đối tác khu vực của Mỹ cũng nên biết rằng, cho đến nay, chúng tôi đã thể hiện sự kiềm chế rất lớn vì lợi ích quan hệ láng giềng tốt đẹp và đã cân nhắc nhiều yếu tố khi lựa chọn mục tiêu tấn công, nhưng tất cả những cân nhắc đó giờ đây đã không còn nữa”, IRGC cho biết. "Sự đáp trả của chúng tôi sẽ mở rộng ra ngoài khu vực nếu quân đội Mỹ vượt qua lằn ranh đỏ của chúng tôi”.
Giá dầu tăng trở lại
Trong phiên giao dịch ngày 7/4, giá dầu thô West Texas Intermediate (WTI) của Mỹ giao tháng 5 tăng hơn 3% lên 116,02 USD/thùng, trong khi dầu Brent giao tháng 6 tăng hơn 1,7% lên 111,67 USD/thùng.
Đà tăng mới nhất diễn ra trong bối cảnh Tổng thống Mỹ Trump tiếp tục đe dọa tấn công cơ sở hạ tầng dân sự của Iran, cảnh báo quốc gia này sẽ bị "đánh gục chỉ trong một đêm" nếu không mở lại eo biển Hormuz trước 20h ngày 7/4 (theo giờ Mỹ).
Chỉ số chứng khoán tương lai của Mỹ cũng giảm xuống mức thấp nhất trong buổi sáng, với chỉ số S&P 500 giảm hơn 0,5%.
Đảo Kharg được mệnh danh là "hòn đảo dầu mỏ", nơi đặt cơ sở xử lý hơn 90% lượng dầu xuất khẩu của Iran. Được kết nối bằng đường ống với nhiều địa điểm khai thác khác nhau (các mỏ dầu Khuzestan và các mỏ dầu dưới đáy biển ở Vịnh Ba Tư), Kharg có các bể chứa có thể chứa lượng dầu tương đương 7 triệu thùng/ngày và các bến tàu được thiết kế để bốc dỡ hàng cho tàu chở dầu.
Trước khi chiến tranh nổ ra, Iran sản xuất từ 3 đến 4 triệu thùng dầu mỗi ngày.
|
|
0 Replies | 212 Views |
Apr 07, 2026 - 3:53 PM - by therealrtz
|
Mỹ vừa làm một điều vĩ đại mà Trung Quốc cứ thản nhiên như không: Hóa ra tự tin "chúng tôi còn làm hơn thế"
New Tab ↗
|
Theo giới quan sát, Trung Quốc chắc chắn đang theo dõi sát sao sứ mệnh bay quanh Mặt Trăng Artemis II của Mỹ vì điều này có thể cung cấp cho họ những hiểu biết kỹ thuật giá trị cho mục tiêu đổ bộ sắp tới của mình.
Quentin Parker, giáo sư vật lý thiên văn tại Đại học Hồng Kông, mô tả Trung Quốc đang quan sát sứ mệnh Artemis II "như một con diều hâu, chú ý theo dõi mọi thứ họ có thể thu thập được từ kinh nghiệm của phi hành đoàn và sứ mệnh Artemis".
Các phi hành gia Trung Quốc đang nhắm tới việc đổ bộ lên Mặt Trăng lần đầu tiên vào năm 2030 — về lý thuyết là sau Mỹ nhiều tháng. Tuy nhiên, trong khi chương trình Artemis diễn ra khá trập trùng với những lần trì hoãn và tái khởi động, thì chương trình không gian của Trung Quốc lại đang tiến về phía trước với sự tập trung đáng gờm. Ngay cả NASA cũng phải thừa nhận rằng họ có thể thua trong hiệp đấu này.
“Họ có thể đến sớm”, Jared Isaacman, quản trị viên của NASA, phát biểu tuần trước. “Và lịch sử gần đây gợi ý rằng chúng ta có thể sẽ đến muộn.”
Biên giới mới
Tầm nhìn của Mỹ đối với Mặt Trăng hiện nay vĩ đại hơn nhiều so với thời kỳ Apollo. Trung Quốc cũng vậy.
Cả hai quốc gia đều muốn xây dựng căn cứ gần cực Nam, nơi có thể khai thác các nguồn tài nguyên quý giá như nước đóng băng, hydro và helium. Cả hai đều muốn xây dựng các lò phản ứng hạt nhân để cung cấp năng lượng cho các căn cứ này. Cả hai đều muốn dùng Mặt Trăng làm bàn đạp để phóng các sứ mệnh tiến sâu hơn vào vũ trụ.
Bất kỳ ai thiết lập được căn cứ trên Mặt Trăng đầu tiên sẽ có tiếng nói trọng lượng hơn đối với các hoạt động của những bên khác trên hành tinh này — nơi mà hiện tại vẫn là một vùng biên cương với rất ít luật lệ hay quy tắc.
Chương trình không gian của Trung Quốc tuy còn non trẻ nhưng đã đạt được những thành tựu rực rỡ trong thời gian ngắn. Các sứ mệnh robot của họ đã tiếp cận được mặt tối của Mặt Trăng và mang mẫu vật trở về — những kỳ tích mà cho đến nay chỉ người Trung Quốc mới thực hiện được.
Các chuyên gia cho rằng lợi thế của Trung Quốc nằm ở sự kiểm soát tập trung. Họ có thể thiết lập các mục tiêu từ nhiều năm trước, cấp vốn cho các dự án và đạt được các cột mốc đúng hạn.
Ngược lại, ngân sách và mục tiêu của NASA lại chịu sự chi phối bởi chính trị nội bộ Mỹ. Một nhà khoa học làm việc trong chương trình Mặt Trăng chia sẻ rằng, nhịp độ làm việc của Trung Quốc sẽ không thay đổi bất kể NASA làm gì với Artemis.
"Thực tế là không có áp lực nào lên phía Trung Quốc cả”, Yuqi Qian, nhà địa chất học Mặt Trăng tại Đại học Hồng Kông, người trực tiếp tham gia các sứ mệnh của Trung Quốc, cho biết. "Chúng tôi đang thực hiện việc này một cách tự do hơn."
"Tôi không nghĩ Trung Quốc coi đây là một cuộc đua," ông nói thêm.
NASA đang triển khai một kế hoạch tăng tốc để đưa người Mỹ đổ bộ lên Mặt Trăng vào đầu năm 2028. Trong khi đó, Ngô Vĩ Nhân (Wu Weiren), tổng công trình sư chương trình thám hiểm Mặt Trăng của Trung Quốc, khẳng định: "Đến năm 2030, người Trung Quốc chắc chắn sẽ có thể đặt chân lên Mặt Trăng. Đó không phải là vấn đề."
Dean Cheng, chuyên gia cao cấp tại Viện Nghiên cứu Chính sách Potomac và là chuyên gia lâu năm về chương trình không gian của Trung Quốc, cho biết cuộc đua mới này không phải là một cuộc chạy nước rút như thời Apollo, mà là một cuộc marathon. Lần này, mục tiêu không chỉ là đến thăm Mặt Trăng, mà là để ở lại.
"Một trong những điều ấn tượng về chương trình không gian của Trung Quốc là họ không đưa ra quá nhiều dự đoán," ông Cheng nói. "Nhưng những gì họ đã tuyên bố, họ chắc chắn sẽ thực hiện được."
Đó là lý do tại sao, theo ông, mục tiêu năm 2030 của Trung Quốc có sức nặng rất lớn.
Cả Trung Quốc và Mỹ đều đã nói về việc thiết lập các căn cứ gần cực Nam của Mặt Trăng. Các nhà khoa học và các nhà hoạch định chiến lược coi khu vực này đặc biệt có giá trị vì một số hố va chạm sâu tại đây luôn nằm trong bóng tối vĩnh cửu và có thể chứa băng nước.
Dreier giải thích rằng điều này rất quan trọng vì nước có thể được dùng để uống, tạo ra oxy để thở và làm nhiên liệu tên lửa.
"Khu vực này đủ lạnh để có thể giữ được nước và băng qua hàng tỷ năm," ông nói. "Bạn lấy nước, tách hai phân tử ra, bạn có thể tạo ra nhiên liệu tên lửa. Chúng ta có thể hít thở oxy và uống được nước đó."
Điều này đồng nghĩa với việc quốc gia nào đổ bộ trước có thể giành quyền ưu tiên lựa chọn những vị trí hữu dụng nhất.
"Hãy tưởng tượng thiết lập một tiền đồn trên Mặt Trăng và luân chuyển phi hành đoàn sáu tháng một lần," ông nói.
Nếu Mỹ chỉ lên Mặt Trăng mỗi năm một lần, hoặc ít hơn, ông Cheng lập luận rằng điều đó có thể dẫn đến những hệ lụy vượt xa cả vấn đề danh tiếng.
Trong kịch bản đó, quốc gia xây dựng được căn cứ bền vững đầu tiên có thể giúp thiết lập các quy tắc và tiêu chuẩn kỹ thuật cho bất cứ điều gì diễn ra tiếp theo.
Ông Cheng nhận định Bắc Kinh coi Mặt Trăng không chỉ đơn thuần là một điểm đến.
"Khi họ đổ bộ, đặc biệt là nếu họ đánh bại người Mỹ, thông điệp đưa ra sẽ không chỉ là 'chúng tôi có thể làm được việc này', mà còn là 'người Mỹ đã đánh mất kỹ năng của mình'," ông nói.
Trung Quốc đã có gì trong tay?
Trung Quốc dự kiến sử dụng tên lửa Trường Chinh 10 (Long March 10) do chính phủ chế tạo cho chuyến đổ bộ Mặt Trăng. Nó cao tương đương một tòa nhà 30 tầng và có bảy động cơ ở phần đế (tầng đầu tiên).
Trong các đợt thử nghiệm ban đầu, các nhà khoa học Trung Quốc đã kích hoạt động cơ của tên lửa khi nó được giữ cố định tại chỗ. Sau đó, vào tháng 2, họ đã kích hoạt năm trong số bảy động cơ và phóng tầng đầu tiên lên độ cao hơn 104 km. Sau đó, nó hạ cánh xuống biển và được các nhà khoa học thu hồi.
Một số bộ phận của Trường Chinh 10 cuối cùng có thể được tái sử dụng, nhưng điều đó ít quan trọng hơn đối với các sứ mệnh Mặt Trăng – vốn có tần suất thấp hơn nhiều so với việc phóng vệ tinh lên quỹ đạo.
Trung Quốc cũng đang phát triển một loại tàu vũ trụ mới mang tên Mộng Chu (Mengzhou - "Con thuyền ước mơ") có thể chở tối đa bảy phi hành gia. Nó được thiết kế cho cả các sứ mệnh Mặt Trăng và các chuyến đi tới trạm vũ trụ của Trung Quốc.
Con tàu này sẽ đưa các phi hành gia lên quỹ đạo Mặt Trăng. Khi đã ở đó, nó sẽ ghép nối với một trạm đổ bộ để đưa các phi hành gia xuống bề mặt. Trung Quốc dự định thực hiện sứ mệnh này bằng hai đợt phóng, một phần vì họ chưa có loại tên lửa đẩy đủ lớn để thực hiện trong một lần.
Trung Quốc sẽ thử nghiệm khả năng tiếp cận và ghép nối của tàu Mộng Chu với trạm vũ trụ Trung Quốc vào cuối năm nay. Các cuộc gặp gỡ tương tự trên quỹ đạo đã từng được thử nghiệm trong các sứ mệnh robot lên Mặt Trăng.
Mộng Chu đã vượt qua bài kiểm tra gần đây nhất vào tháng 2, chứng minh khả năng hủy bỏ sứ mệnh ngay trong những phút đầu tiên sau khi phóng. Theo truyền thông nhà nước, tàu vũ trụ đã tách ra thành công khỏi tên lửa trong điều kiện áp suất tối đa.
Bất kỳ ai từng xem thước phim về sứ mệnh Apollo 11 đều sẽ nhớ về trạm đổ bộ – một kỳ quan khoa học trông giống như một sự lắp ghép thô sơ từ những lớp giấy bạc vàng và kim loại mỏng manh.
Phiên bản trạm đổ bộ Mặt Trăng của Trung Quốc, mang tên Lãm Nguyệt (Lanyue - "Ôm lấy mặt trăng"), đã kế thừa và tích hợp những cải tiến sau nhiều thập kỷ.
Theo thiết kế sứ mệnh, sau khi các phi hành gia lên trạm đổ bộ trên quỹ đạo, nó sẽ hướng thẳng về bề mặt Mặt Trăng. Tại đó, trạm sẽ đóng vai trò là ngôi nhà tạm thời, trung tâm dữ liệu và nguồn cung cấp năng lượng cho họ. Để trở về, trạm đổ bộ sẽ cất cánh và thực hiện việc ghép nối lại với tàu vũ trụ trên quỹ đạo Mặt Trăng.
Trung Quốc đã thử nghiệm một nguyên mẫu vào tháng 8, thực hiện điều hướng trên một bề mặt được mô phỏng theo các hố va chạm và địa hình gồ ghề của Mặt Trăng.
Hiện tại, Hoa Kỳ vẫn chưa có trạm đổ bộ chính thức, một phần do tính chất phức tạp của sứ mệnh dự kiến.
Các phi hành gia Trung Quốc còn được trang bị bộ đồ du hành mang tên Vọng Vũ (Wangyu - "Ngắm nhìn vũ trụ") cho các chuyến đi bộ ngoài không gian.
Bộ đồ Vọng Vũ sẽ là phiên bản gọn nhẹ hơn của loại đang được sử dụng trên trạm vũ trụ Trung Quốc. Chúng được trang bị kính che mắt chống lóa, camera ở hai bên mũ bảo hiểm và bảng điều khiển trước ngực.
Thiết kế của bộ đồ sẽ mô phỏng theo các bộ giáp truyền thống để giúp các phi hành gia trông "khí thế và uy phong hơn”. Các bộ đồ này dự kiến sẽ trải qua nhiều đợt thử nghiệm hơn trong năm nay.
|
|
1 Reply | 267 Views |
Apr 07, 2026 - 3:53 PM - by therealrtz
|
Hai dãy núi, hai sa mạc, hai vùng biển: Địa lý là vũ khí lớn nhất của Iran
New Tab ↗
|
Khi tiến về vùng Vịnh trên các máy bay vận tải, hàng trăm binh sĩ Mỹ có thể liếc nhìn xuống địa hình bên dưới qua cửa sổ. Một vùng biển ngoằn ngoèo với nhiều đảo; một bờ biển dài hàng trăm kilomet với những vách đá sắc nhọn; và các dãy núi sừng sững áp đảo bất kỳ kẻ xâm nhập nào.
Với địa hình như vậy, không có gì ngạc nhiên khi các chuyên gia quân sự và chính trị cho rằng, một chiến dịch trên bộ sẽ khiến Mỹ phải trả giá rất đắt.
Iran là một quốc gia rộng lớn. Nước này có hai dãy núi dài, Biển Caspi ở phía Bắc, và Biển Oman cùng vùng Vịnh ở phía Nam.
Các chuyên gia cảnh báo rằng, một khi chiến tranh trên bộ bắt đầu, hướng đi và thời gian kéo dài của nó rất khó dự đoán.
“Nếu nhìn vào lịch sử các cuộc tấn công quân sự kiểu này, bạn sẽ thấy rằng một khi tấn công trên bộ bắt đầu, chúng rất khó kiểm soát”, ông Arman Mahmoudian, nghiên cứu viên tại Viện An ninh Toàn cầu và Quốc gia thuộc Đại học Nam Florida (Mỹ), nói với Middle East Eye .
Các chuyên gia Iran chỉ ra ba kịch bản chính nếu chiến tranh trên bộ nổ ra: chiếm các đảo của Iran ở vùng Vịnh và eo biển Hormuz, tấn công bờ biển phía Nam của Iran, hoặc xâm nhập qua các khu vực người Kurd ở phía Tây nước này. Mỗi kịch bản đều tiềm ẩn những nguy cơ và khó khăn nghiêm trọng.
Chiếm đảo Kharg và kiểm soát eo biển Hormuz
Không chỉ các cuộc tấn công bằng tên lửa và máy bay không người lái (UAV) của Iran, điều thực sự gây áp lực lên Tổng thống Mỹ Donald Trump và Bộ Chiến tranh Mỹ là việc đóng cửa eo biển Hormuz .
Trước chiến tranh, khoảng 20 triệu thùng dầu, tương đương 1/5 tiêu thụ toàn cầu, đi qua eo biển Hormuz mỗi ngày. Nhưng từ khi xung đột bắt đầu ngày 28/2, Iran đã nhắm mục tiêu vào các tàu di chuyển qua tuyến đường thủy này và về cơ bản đóng cửa tuyến đường, gần đây chỉ cho phép một số ít tàu chở dầu từ các quốc gia “thân thiện” đi qua.
Một số báo đưa tin, Iran đã thu tới 2 triệu USD từ một số tàu để đảm bảo an toàn khi đi qua eo biển Hormuz.
Vị trí và quyền kiểm soát của Iran đối với eo biển đã đẩy giá dầu và khí đốt toàn cầu tăng cao, tạo thêm áp lực buộc Mỹ phải mở lại tuyến đường.
Đáp lại, Mỹ đã tấn công các mục tiêu quân sự trên đảo Kharg - trung tâm xuất khẩu dầu của Iran, cách bờ biển khoảng 32 km.
Cuộc tấn công làm dấy lên suy đoán rằng Washington có thể tìm cách chiếm hòn đảo này - ý tưởng mà Tổng thống Trump từng nhắc tới trong một cuộc phỏng vấn năm 1988 với báo Anh The Guardian từ rất lâu trước khi ông bước vào chính trường.
Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng, động thái như vậy mang lại ít lợi ích và thậm chí có thể phản tác dụng.
Ông Mahmoudian cho rằng, nếu Mỹ cố chiếm Kharg, nơi xử lý khoảng 90% xuất khẩu dầu của Iran, thì Iran thậm chí có thể không chiến đấu tại đó.
“Iran không có lý do gì để chiến đấu với Mỹ trên hòn đảo đó vì họ không có cơ hội chiến thắng. Thay vào đó, họ có thể để Mỹ chiếm đảo rồi tấn công họ tại đó”, ông nói. “Vấn đề tương tự cũng tồn tại với các đảo ở eo biển Hormuz như Qeshm, Hormuz và Larak. Bất kỳ chiến dịch nào của Mỹ ở đó cũng sẽ gặp vấn đề tương tự”.
Điều này cũng được ông Farzin Nadimi, một nhà phân tích tại Viện Washington (Mỹ), một tổ chức có lập trường chống Iran và ủng hộ Israel, thừa nhận.
Trong cuộc phỏng vấn với podcaster Iran Bozorgmehr Sharafedin, ông Nadimi nói: “Việc chiếm đóng quân sự đảo Kharg là không thực tế và không hợp lý. Ngay cả khi chiếm được các đảo của Iran, việc giữ chúng cũng sẽ rất khó”.
Các chuyên gia cũng cảnh báo rằng việc chiếm Kharg có thể khiến giá dầu tăng cao hơn nữa. “Mỹ có thể chiếm đảo và ngăn dòng chảy dầu từ Iran, nhưng điều đó sẽ gây tổn hại thị trường năng lượng toàn cầu. Việc loại bỏ khoảng 1,5 triệu thùng dầu/ngày của Iran sẽ lại đẩy giá lên”, ông Alex Vatanka, chuyên gia cao cấp tại Viện Trung Đông ở Washington, nói.
Ngoài Kharg, Iran có 42 hòn đảo ở vùng biển phía Nam, trong đó 18 đảo có người ở và 24 đảo không có người.
Đảo lớn nhất là Qeshm, trải dài dọc eo biển Hormuz, rộng khoảng 1.500 km², lớn hơn cả Bahrain và Singapore, và chỉ cách đất liền Iran 2 km.
Ba đảo khác, Tunb Lớn, Tunb Nhỏ và Abu Musa, đặc biệt nhạy cảm. Thường được gọi là “ba đảo”, chúng cũng bị Các Tiểu vương quốc Ảrập Thống nhất (UAE) tuyên bố chủ quyền. Điều này làm dấy lên khả năng Mỹ có thể chiếm chúng và bàn giao cho UAE.
Tuy nhiên, chuyên gia Vatanka cảnh báo điều này có thể tạo ra vấn đề lâu dài cho quốc gia vùng Vịnh này. “Có thể Mỹ muốn làm điều gì đó có lợi cho UAE, nhưng UAE phải cân nhắc kỹ liệu họ có muốn các hòn đảo đó trong hoàn cảnh như vậy hay không”, ông nói.
Ông Vatanka cho rằng, về lâu dài, “điều đó sẽ trở thành điểm căng thẳng và xung đột với phần còn lại của Iran trong nhiều thập kỷ”.
Cả hai chuyên gia Vatanka và Mahmoudian đều cho rằng, nếu Mỹ chiếm đảo, mục tiêu có thể là chính trị, cụ thể là tạo đòn bẩy đàm phán và buộc Iran nhượng bộ để đổi lại việc trả lại lãnh thổ.
Các nguồn tin cấp cao Iran trước đây nói với Middle East Eye rằng, Tehran sẽ đáp trả bất kỳ cuộc xâm lược trên bộ nào bằng cách tấn công mạnh vào UAE, quốc gia mà họ coi là đồng lõa với Mỹ và Israel.
Đánh chiếm bờ biển phía Nam
Bờ biển phía Nam của Iran kéo dài hơn 1.800 km từ gần Abadan (giáp Iraq) tới Vịnh Gavater gần biên giới Pakistan. Nó chạy qua các tỉnh Khuzestan, Bushehr, Hormozgan và Sistan-Baluchestan, bao phủ bờ phía bắc vùng Vịnh, eo biển Hormuz và Biển Oman.
Chiều dài lớn của bờ biển có thể khiến Iran khó phòng thủ mọi điểm, nhưng đồng thời cũng tạo thách thức tương tự cho lực lượng xâm lược.
Ông Mahmoudian cho rằng, nếu Mỹ mở chiến dịch trên bộ vượt ra ngoài các đảo, bờ biển có thể là mục tiêu then chốt để siết kiểm soát eo biển Hormuz, đặc biệt vì khu vực này gần các căn cứ Mỹ trong vùng Vịnh.
“Đối với tấn công trên bộ, quân đội cần gần căn cứ để đảm bảo hậu cần, đưa quân mới vào và chuyển thương binh ra khỏi tiền tuyến”, ông Mahmoudian nói.
Ông cũng lưu ý ưu thế hải quân của Mỹ trong khu vực. “Hải quân Mỹ hiện chiếm ưu thế ở Vịnh Ba Tư, và lực lượng triển khai là lính thủy đánh bộ được huấn luyện cho tác chiến đổ bộ”, ông nói.
Tuy nhiên, chuyên gia Mahmoudian cảnh báo rằng, ngay cả chiến dịch hạn chế cũng có thể nhanh chóng leo thang. “Giả sử mục tiêu là kiểm soát một phần bờ biển gần eo biển Hormuz. Bạn có thể chiếm được bờ biển, nhưng lực lượng sẽ liên tục bị tấn công”, ông nói. “Để bảo vệ họ và thiết lập phòng tuyến, bạn sẽ phải tiến sâu vào nội địa. Khi đó, việc kiểm soát leo thang trở nên rất khó”.
Quy mô rộng lớn của Iran một lần nữa trở thành yếu tố then chốt.
Ông Nadimi cho biết Iran vẫn duy trì các cuộc tấn công bất chấp nhiều tuần bị Mỹ và Israel không kích. Các bệ phóng tên lửa phân tán khắp đất nước, còn UAV và vũ khí khác được cất giữ trong các cơ sở ngầm.
“Iran vẫn đang phóng tên lửa dùng nhiên liệu lỏng”, ông nói. “Những loại này cần bệ phóng lớn phải chuẩn bị ngoài trời, và Iran làm được điều đó nhờ lãnh thổ rộng lớn”.
Iran có diện tích hơn 1,4 triệu km², là quốc gia lớn thứ 17 thế giới. Nước này cũng có hai sa mạc lớn: Dasht-e Kavir và Lut.
Iran có hơn 390 ngọn núi cao trên 2.000 m, trong đó 92 ngọn cao trên 4.000 m. Đỉnh cao nhất Trung Đông, núi Damavand cao khoảng 5.700 m, cũng nằm tại đây.
Ông Vatanka cho rằng, những đặc điểm địa lý này có lợi cho Iran trong chiến tranh trên bộ, so sánh với cuộc xâm lược Iraq năm 2003 của Mỹ. “Iran lớn gấp khoảng bốn lần Iraq, nghĩa là mục tiêu phân tán trên diện tích rộng hơn nhiều”, ông nói.
“Địa hình đồi núi, và chúng ta biết Iran đã dành nhiều năm đặt khí tài quân sự trong lòng đất. Ngoài ra, Iran đã chuẩn bị lâu dài cho kịch bản này và có khả năng đối phó tốt hơn nhiều so với Tổng thống Iraq Saddam Hussein năm 2003”, chuyên gia Vatanka nhận định.
Các cơ sở hạt nhân của Iran, mục tiêu chính của Israel và Mỹ, cũng nằm sâu trong núi, khó tiếp cận và dễ phòng thủ.
Tấn công từ khu vực người Kurd
Một kịch bản khác là tấn công từ phía Tây, qua dãy núi Zagros và các khu vực người Kurd gần biên giới Iraq và Thổ Nhĩ Kỳ.
Ngay từ đầu cuộc chiến Mỹ-Israel nhằm vào Iran, một số ý kiến cho rằng các nhóm vũ trang người Kurd Iran tại Iraq có thể được sử dụng làm lực lượng trên bộ.
Đến nay, các nhóm này vẫn tránh tham chiến trực tiếp. Tuy nhiên, tại một hội nghị trực tuyến ở Đại học Tel Aviv ngày 19/3, chỉ huy của PJAK và PAK đã bày tỏ quan tâm hợp tác với Israel.
Dù vậy, các chuyên gia cho rằng kịch bản này khó mang lại kết quả như Washington mong muốn.
Theo ông Mahmoudian, Mỹ sẽ hỗ trợ trên không trong khi lực lượng Kurd tác chiến mặt đất. “Mỹ nhiều khả năng sẽ đưa lực lượng Kurd tiến lên trước vì họ quen địa hình”, ông nói. “Họ sẽ đảm nhận phần khó nhất, chiến đấu ở địa hình hiểm trở và vượt dãy Zagros, trong khi quân Mỹ theo sau”.
Ông cảnh báo chiến lược này sẽ khiến lực lượng Kurd chịu tổn thất nặng nề do sự hiện diện quân sự mạnh của Iran trong khu vực.
Tháng trước, Middle East Eye đưa tin, Iran đã điều nhiều quân tới khu vực dưới vỏ bọc tập trận, chuẩn bị cho chính kịch bản này.
Ông Vatanka cũng nghi ngờ khả năng duy trì chiến dịch của các nhóm Kurd, vốn được trang bị không đầy đủ và thiếu lực lượng quy mô lớn.
“Họ có thể dựa vào yểm trợ trên không của Mỹ và Israel, nhưng sẽ phải chấp nhận tổn thất lớn”, ông dự đoán. “Khi tiến sâu vào khu vực đa số người Ba Tư, tình hình sẽ còn khó khăn hơn”.
Ông Vatanka kết luận: “Tôi không thấy lực lượng Kurd Iran từ Iraq có thể tiến vào Iran và tiến tới tận Tehran. Họ đơn giản không có năng lực đó”.
Chiến lược của Mỹ là gì?
Chiến lược và mục tiêu của Mỹ trong cuộc chiến vẫn chưa rõ ràng.
Nếu mục tiêu là thay đổi lãnh đạo Iran, như Mỹ và Israel từng tuyên bố khi bắt đầu chiến tranh ngày 28/2, thì nhiều tuần không kích và ám sát các nhân vật quân sự, chính trị vẫn chưa làm lung lay cấu trúc quyền lực của nước này.
Nếu mục tiêu là gây áp lực buộc Tehran đàm phán, thì cho đến nay chưa có bằng chứng rõ ràng, thậm chí còn khiến lãnh đạo Iran cứng rắn hơn.
Các chuyên gia cũng cảnh báo rằng bất kỳ sự chiếm đóng nào cũng có thể củng cố chủ nghĩa dân tộc Iran.
Trong lịch sử, Cộng hòa Hồi giáo Iran cho thấy họ không đàm phán khi lãnh thổ bị chiếm đóng.
Ông Mahmoudian dẫn chứng chiến tranh Iran-Iraq giai đoạn 1980-1988, khi Iraq chiếm một số thành phố nhỏ, cảng Khorramshahr và bao vây Abadan. “Trong chiến tranh Iran-Iraq, chúng ta thấy Iran không đàm phán khi lãnh thổ bị chiếm”, ông nói. “Trong năm đầu, khi Iraq chiếm Khorramshahr và bao vây Abadan, Iraq đề nghị đàm phán. Iran từ chối chừng nào lãnh thổ còn bị kiểm soát”.
Ông Vatanka đồng tình, cho rằng cách tiếp cận của Mỹ thiếu một chiến lược nhất quán. Ông lưu ý rằng ý tưởng “thay đổi chế độ”, được Tổng thống Trump và Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu nhắc tới lúc đầu, đã nhanh chóng bị lãng quên.
“Không có đại chiến lược cho thay đổi chế độ . Chiến lược đó chỉ là hy vọng người dân Iran nổi dậy và lật đổ chính quyền”, ông Vatanka nói. “Đó không phải là chiến lược, mà là hy vọng”.
Địa hình hiểm trở và kho vũ khí dồi dào của Iran có thể là tử địa cho lực lượng bộ binh nước ngoài xâm nhập. Minh họa: Thái An.
|
|
0 Replies | 460 Views |
Apr 07, 2026 - 3:52 PM - by therealrtz
|
|