Phiên điều trần của cộng đồng tình báo Mỹ hé lộ quan điểm không đồng nhất về mức độ đe dọa từ Iran, yếu tố khiến chính quyền Trump phát động chiến dịch tấn công nước này.
Các lãnh đạo tình báo hàng đầu Mỹ, trong đó có Giám đốc Tình báo Quốc gia Tulsi Gabbard, Giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương (CIA) John Ratcliffe, Giám đốc Cục Điều tra Liên bang (FBI) Kash Patel ngày 18/3 ra điều trần công khai trước Ủy ban Tình báo Thượng viện Mỹ.
Mục đích của phiên điều trần là để các thượng nghị sĩ nghe cộng đồng tình báo đánh giá về các mối đe dọa hàng đầu đến an ninh quốc gia Mỹ. Tuy nhiên, nội dung được đề cập chủ yếu là về Iran, trong bối cảnh cuộc chiến với quốc gia Trung Đông này đã bước sang tuần thứ ba và chưa có dấu hiệu sớm chấm dứt.
Từ trái sang: Giám đốc Cục Điều tra Liên bang Kash Patel, Giám đốc Cơ quan Tình báo Quốc phòng James Adam, Giám đốc Tình báo Quốc gia Tulsi Gabbard, quyền chỉ huy Bộ tư lệnh Không gian mạng William Hartman và Giám đốc Cơ quan Tình báo Trung ương John Ratcliffe tại phiên điều trần trước Thượng viện ngày 18/3. Ảnh: AP
Nội dung được chất vấn nhiều nhất là việc Iran có phải là "mối đe dọa cận kề" với Mỹ hay không, yếu tố mà chính quyền Tổng thống Trump sử dụng để phát động chiến dịch tấn công.
Vấn đề này gây nhiều chú ý sau khi Joe Kent, giám đốc Trung tâm Chống khủng bố Quốc gia Mỹ, một trong những trợ lý hàng đầu của bà Gabbard, ngày 17/3 xin từ chức để phản đối chiến sự Iran, cho rằng Tehran không tạo ra "mối đe dọa cận kề" và Washington bị kéo vào xung đột vì áp lực từ Israel.
Trong phát biểu mở đầu, bà Gabbard cho biết chính quyền Iran có thể đối mặt nhiều thách thức hơn khi nền kinh tế suy yếu. Tuy nhiên, nước này cùng các lực lượng ủy nhiệm vẫn "tiếp tục tấn công các lợi ích của Mỹ và đồng minh tại Trung Đông", bất chấp những tổn thất trước và sau khi xung đột bùng phát.
Đáng chú ý, bà Gabbard đã nói chệch khỏi nội dung chuẩn bị sẵn bằng văn bản gửi ủy ban trước phiên điều trần. Bà nói rằng sau khi quân đội Mỹ ném bom các cơ sở hạt nhân của Iran trong mùa hè năm 2025, Tehran đang "cố gắng khắc phục những thiệt hại nghiêm trọng" do chiến dịch này gây ra.
Trong văn bản soạn sẵn trước đó, bà viết rằng Iran "không có nỗ lực khôi phục năng lực làm giàu uranium nào kể từ sau các cuộc không kích của Mỹ". Đánh giá này phần nào trái ngược với quan điểm của Tổng thống Trump rằng Iran "theo đuổi tham vọng hạt nhân và phát triển tên lửa có tầm bắn đến Mỹ, tạo ra mối đe dọa cận kề, buộc Washington phải hành động".
Khi ông Mark Warner, thượng nghị sĩ Dân chủ hàng đầu trong ủy ban, chất vấn về lý do của sự thay đổi trên, Gabbard cho biết bà lược bỏ một số phần vì "thời gian không cho phép". Ông Warner cáo buộc bà Gabbard "cố tình bỏ qua những phần mâu thuẫn với Tổng thống".
Thượng nghị sĩ Dân chủ Jon Ossoff sau đó hỏi những gì trong văn bản có còn phản ánh đúng đánh giá của cộng đồng tình báo hay không, bà Gabbard phản hồi là "có". Ông tiếp tục truy vấn về việc cộng đồng tình báo có đánh giá chương trình hạt nhân của Iran "đã bị phá hủy", như ông Trump nói hồi tháng 6, nhưng những tuần gần đây lại trở thành "mối đe dọa cận kề".
Bà Gabbard không phản hồi trực tiếp vào câu hỏi mà tỏ ra né tránh. "Có hay không?", ông Ossoff nhấn mạnh.
"Cộng đồng tình báo không có trách nhiệm quyết định điều gì đó có phải mối đe dọa cận kề hay không", bà Gabbard phản hồi. "Tổng thống là người duy nhất có thể quyết định mối đe dọa nào được xem là cận kề, không phải cộng đồng tình báo".
Ông Ossoff phản bác, cho rằng việc đánh giá mối đe dọa với an ninh quốc gia chính là nhiệm vụ cốt lõi của các cơ quan tình báo Mỹ.
Trong khi đó, ông Ratcliffe đưa ra cách diễn đạt khác. Ông cho rằng Iran từ lâu đã là mối đe dọa đối với Mỹ và tại thời điểm hiện tại là "mối đe dọa trực tiếp", tránh sử dụng cụm từ "cận kề". Giám đốc CIA thêm rằng Iran là thế lực gây bất ổn tại Trung Đông, "đã được các chính quyền Mỹ tiền nhiệm dung túng, tiếp sức, khiến họ trở thành mối đe dọa như hiện nay".
Khi đọc thông điệp liên bang cuối tháng 2, Tổng thống Trump tuyên bố Iran đang chế tạo tên lửa đạn đạo xuyên lục địa (ICBM) "sẽ sớm vươn tới Mỹ". Nhưng cộng đồng tình báo Mỹ dường như không có chung quan điểm như vậy.
Trong văn bản gửi ủy ban, bà Gabbard nhắc lại một đánh giá trước đó là Iran "có thể sử dụng các công nghệ hiện có thể bắt đầu phát triển một ICBM cấp quân sự trước năm 2035, nếu Tehran thực sự có ý định này". Bà Gabbard nói cộng đồng tình báo sẽ cập nhật đánh giá này trong cuộc xung đột hiện tại.
Khi chủ tịch Ủy ban Tình báo Thượng viện Tom Cotton dẫn các phân tích khác ước tính Iran có thể sở hữu ICBM "đe dọa Mỹ trong 6 tháng", ông Ratcliff từ chối đưa ra khung thời gian cụ thể. Thay vào đó, giám đốc CIA chỉ nói ông Cotton đúng khi đưa ra lo ngại như vậy.
Một số thượng nghị sĩ Dân chủ khác trong ủy ban tìm cách buộc bà Gabbard làm rõ những thông tin bà đã cung cấp cho Tổng thống trước khi chiến sự với Iran nổ ra, bao gồm cả đánh giá về khả năng Iran tấn công hoạt động vận tải hàng hải tại eo biển Hormuz, nhưng không thành công.
"Tôi sẽ không bình luận về việc Tổng thống có hay không hỏi tôi về bất kỳ vấn đề nào", bà Gabbard khẳng định.
Trong khi đó, ông Ratcliffe khẳng định các cơ quan Mỹ đã có sự chuẩn bị cho phản ứng của Iran, nhưng không đi sâu vào chi tiết cụ thể của các đánh giá tình báo.
Các thượng nghị sĩ Cộng hòa đã chất vấn ông John Ratcliffe về khả năng cuộc chiến với Iran làm suy giảm mức độ sẵn sàng của quân đội Mỹ trong việc đối phó với các mối đe dọa từ Nga và Trung Quốc.
Ông Ratcliffe đáp rằng thông tin tình báo được cung cấp trước cuộc tấn công vào Iran là "hoàn hảo". Ông cho rằng dù các cuộc tấn công nhằm vào nhân sự và lợi ích của Mỹ tại Trung Đông sẽ "phải trả giá nhất định", quân đội và cộng đồng tình báo Mỹ vẫn có thể "vừa làm việc này, vừa xử lý việc khác cùng lúc".
Tại phiên điều trần, các quan chức tình báo Mỹ còn đề cập một số đánh giá khác của cộng đồng tình báo Mỹ, như Nga đang chiếm ưu thế trong cuộc xung đột ở Ukraine, cho rằng Mỹ không đối mặt nguy cơ bị nước ngoài can thiệp trong cuộc bầu cử giữa kỳ vào tháng 11.
Bà Gabbard cho biết Nga, Trung Quốc, Triều Tiên, Iran và Pakistan đang nghiên cứu và phát triển các hệ thống tên lửa có thể bắn tới Mỹ.
Sau hơn hai tiếng rưỡi hỏi đáp căng thẳng tại Thượng viện, bà Gabbard cùng các lãnh đạo tình báo Mỹ sẽ tiếp tục điều trần tại Ủy ban Tình báo Hạ viện trong ngày 19/3.
FBI được cho là đang điều tra cựu Giám đốc Trung tâm Chống khủng bố Quốc gia Joe Kent, người vừa từ chức để phản đối chiến sự Iran.
Truyền thông Mỹ ngày 18/3 dẫn nguồn thạo tin cho biết Cục Điều tra Liên bang (FBI) đang điều tra Joe Kent, cựu giám đốc Trung tâm Chống khủng bố Quốc gia, với cáo buộc "làm rò rỉ thông tin mật".
Nguồn tin nói thêm cuộc điều tra được tiến hành trước khi ông Kent tuyên bố từ chức với lý do phản đối chiến sự Iran. FBI chưa đưa ra thông báo chính thức về thông tin này.
Cựu giám đốc Trung tâm Chống khủng bố Quốc gia Joe Kent tại Washington hồi tháng 12/2025. Ảnh: AFP
Hôm 17/3, Kent tuyên bố từ chức, nói rằng "không thể làm trái lương tâm và ủng hộ cuộc chiến đang diễn ra với Iran".
"Họ không phải là mối đe dọa cận kề với đất nước. Rõ ràng chúng ta bước vào cuộc chiến này vì áp lực từ Israel và những tổ chức vận động hành lang quyền lực của họ tại Mỹ", ông cho hay.
Thư ký báo chí Nhà Trắng Karoline Leavitt chỉ trích phát ngôn của ông Kent là "xúc phạm và nực cười".
"Tôi luôn nghĩ ông ấy là một người tốt, nhưng yếu kém về vấn đề an ninh, rất yếu kém. Khi đọc tuyên bố của ông ấy, tôi nhận ra ra việc ông ấy rời khỏi vị trí là một điều tốt, bởi vì ông nói rằng Iran không phải là mối đe dọa", Leavitt nói.
Bộ Tư lệnh Trung tâm Mỹ (CENTCOM) cho biết đã có hơn 200 binh sĩ Mỹ bị thương trong hơn hai tuần chiến sự với Iran, trong đó có 10 người thương nặng. Quân đội Mỹ ghi nhận 7 binh sĩ thiệt mạng trong các cuộc tấn công của Iran. Bên cạnh đó, 6 quân nhân khác tử vong tuần trước khi một máy bay tiếp dầu KC-135 rơi tại Iraq.
Mỹ và Israel đã liên tục tiến hành các cuộc tập kích vào nhiều mục tiêu ở Iran, hạ sát lãnh tụ tối cao Ali Khamenei cùng loạt quan chức cấp cao nước này, cũng như nhắm vào lực lượng Hezbollah ở Lebanon. Giao tranh đến nay đã khiến hơn 2.000 người thiệt mạng, chủ yếu ở Iran và Lebanon.
2 trong 3 tàu LCS của Mỹ được giao nhiệm vụ quét mìn ở Trung Đông đang neo tại Singapore, cách eo biển Hormuz khoảng 5.800 km.
Ảnh đăng trên mạng xã hội hôm 18/3 cho thấy USS Tulsa và USS Santa Barbara, hai tàu chiến đấu ven biển (LCS) lớp Independence của hải quân Mỹ được cấu hình để làm nhiệm vụ rà phá thủy lôi, đang neo tại Singapore thay vì triển khai ở Trung Đông.
Bộ tư lệnh Hải quân Trung tâm (NAVCENT), cơ quan phụ trách hoạt động của hải quân Mỹ tại Trung Đông, cùng ngày cho biết hai chiến hạm đang bảo dưỡng định kỳ và tiếp tế tại Singapore. Cơ quan này hôm 17/3 thông báo USS Tulsa và USS Santa Barbara đã có đợt dừng tiếp tế ngắn tại Malaysia.
Tàu chiến đấu ven biển USS Santa Barbara tại Singapore ngày 18/3. Ảnh: X/Warship Cam
Hải quân Mỹ năm ngoái điều động 3 tàu LCS đến đồn trú ở quân cảng Manama tại Bahrain, nhằm lấp khoảng trống năng lực rà phá thủy lôi sau khi lực lượng này loại biên 4 tàu săn mìn lớp Avenger đã triển khai ở đây hàng thập kỷ.
Chưa rõ tung tích của chiếc thứ ba là USS Canberra, cũng như thời gian cụ thể mà USS Tulsa và USS Santa Barbara rời Trung Đông. Không có chiến hạm nào của Mỹ neo đậu tại Bahrain kể từ hôm 23/2, vài ngày trước khi Mỹ và Israel phát động chiến dịch tấn công Iran.
Joseph Trevithick, biên tập viên của chuyên trang quân sự Mỹ War Zone, chỉ ra rằng cảng Manama của Bahrain đã trở thành mục tiêu hàng đầu trong đòn tấn công trả đũa từ Iran ngay từ khi xung đột bùng phát.
"Điều động chiến hạm tới nơi khác nhìn chung là biện pháp an ninh phòng ngừa. Tuy nhiên, lý do khiến 2 trong 3 tàu LCS không chỉ rời khỏi Trung Đông, mà còn tới tận bên kia bán cầu, trong khi Iran có thể đã rải thủy lôi tại một trong những tuyến hàng hải quan trọng nhất thế giới, vẫn là bí ẩn", Trevithick cho biết.
Hiện không rõ liệu Washington đã tăng cường chiến hạm có khả năng quét mìn tới gần Trung Đông hay chưa. Hải quân Mỹ còn 4 tàu săn mìn lớp Avenger, toàn bộ đều đóng quân tại Nhật Bản và sẽ bị loại biên trong những năm tới.
Thủy lôi là một trong những vũ khí đơn giản nhất nhưng có sức tàn phá khủng khiếp nhất mà hải quân Mỹ từng đối mặt, làm hư hại nhiều tàu chiến hơn bất kỳ phương thức tấn công nào khác kể từ Thế chiến II, theo báo cáo của Viện Hải quân Mỹ.
Điểm hẹp nhất trên eo biển Hormuz chỉ rộng gần 34 km, luồng hàng hải để tàu đi qua càng hẹp hơn, khiến nguy cơ từ thủy lôi trên biển trở nên nghiêm trọng. Tàu thuyền qua đây gần như không có nhiều không gian để cơ động và khả năng va phải các thiết bị nổ này cao hơn.
Hải quân Mỹ tuyên bố lực lượng LCS được thiết kế để thực hiện hai nhiệm vụ then chốt, với hai gói thiết bị và phần mềm có thể hoán đổi cho nhau, gồm tác chiến mặt nước và chống thủy lôi. LCS cũng được đánh giá là chiến hạm có thiết kế hiện đại, giá rẻ, linh hoạt và tối ưu cho nhiệm vụ tuần tra vùng biển nông gần bờ, có giao thông hàng hải nhộn nhịp như ở Trung Đông.
Tuy nhiên, các tàu LCS đã gặp hàng loạt vấn đề về kỹ thuật và độ tin cậy, cũng như thiếu vũ khí để làm nhiệm vụ và dễ tổn thương trước hỏa lực phòng thủ bờ của đối phương. Điều này khiến hải quân Mỹ chỉ tiếp nhận 38 chiếc, thay vì 56 như kế hoạch, và đã loại biên 7 tàu chỉ sau vài năm sử dụng.
Montgomery, cựu chỉ huy nhóm tác chiến tàu sân bay Mỹ, tin rằng hải quân nước này có thể khai thông eo biển Hormuz bằng 4 bước trinh sát, tuần tra, tấn công và hộ tống.
Eo biển Hormuz đã trở thành điểm nóng địa chính trị thế giới kể từ khi xung đột Iran bùng phát hồi cuối tháng 2. Huyết mạch vận chuyển 20% lượng dầu thế giới đang bị bóp nghẹt, khi Iran xem đây như con át chủ bài để đối phó với sức ép quân sự từ Mỹ và Israel.
Khi thị trường năng lượng toàn cầu chao đảo vì hàng loạt tàu dầu nghẽn lại ở Hormuz, Mỹ quyết tâm tìm cách mở cửa eo biển. Nhiều nhà quan sát nhận định đây là bài toán khó của Washington, đặc biệt khi lời đề nghị đồng minh hỗ trợ của Tổng thống Donald Trump không nhận được phản ứng như mong đợi.
Tuy nhiên, chuẩn đô đốc Mark Montgomery, từng là chỉ huy nhóm tác chiến tàu sân bay của hải quân Mỹ, tin rằng hải quân Mỹ có đủ tàu chiến để tự hộ tống các tàu chở dầu qua eo biển, như đã từng làm trong Chiến dịch Earnest Will, khi chiến hạm Mỹ dẫn đường cho các tàu dầu của Kuwait qua eo biển năm 1987-1988.
Eo biển Hormuz, nơi hẹp nhất chưa tới 34 km, có nhiều vách đá lởm chởm dọc bờ biển, có thể giúp Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) ẩn nấp để tiến hành các cuộc tập kích tàu thuyền đi qua. Vũ khí mà họ có thể sử dụng, gồm tàu ngầm không người lái, máy bay không người lái, tên lửa chống hạm và thủy lôi, đủ khả năng gây thiệt hại nặng cho các tàu hàng, thậm chí là chiến hạm.
Đây là lý do các công ty bảo hiểm vận tải ngần ngại cung cấp dịch vụ cho tàu thương mại đi qua tuyến hàng hải này.
Ít nhất 89 tàu đã đi qua eo biển trong giai đoạn 1-15/3, trong đó có 16 tàu chở dầu, theo dữ liệu của công ty dữ liệu hàng hải Lloyd’s List Intelligence. Con số này giảm mạnh so với mức khoảng 100-135 lượt tàu mỗi ngày trước khi chiến sự nổ ra. Hơn 20% tàu trong số đó được cho là có liên hệ với Iran.
Chuẩn đô đốc Mỹ Mark Montgomery. Ảnh: The Times
Montgomery cho rằng hải quân Mỹ đủ sức khôi phục hoạt động vận tải biển ở khu vực này trong tương lai gần bằng kế hoạch 4 bước, mở đầu bằng việc lập một "con mắt không ngủ" để trinh sát, bao gồm máy bay không người lái MQ-9 Reaper và vệ tinh giám sát vịnh Ba Tư để kịp thời phát hiện các lực lượng tấn công của Iran.
"Hiện tại chúng ta có hệ thống giám sát này trên khắp Trung Đông, nhưng nó bị dàn trải quá mỏng. Một khi thực hiện sứ mệnh, tốt hơn hết nên tập trung nguồn lực vào đây, để có thể lập tức vô hiệu hóa kế hoạch tấn công bằng tên lửa, UAV hoặc rải thủy lôi", ông nói.
Những khí tài này có khả năng theo dõi, giám sát liên tục khu vực eo biển Hormuz cũng như dải đất ven biển của Iran, nơi IRGC có thể triển khai lực lượng, khí tài để tiến hành các cuộc tập kích vào tàu thuyền đi qua.
Tiếp theo, chuẩn đô đốc Mỹ cho biết cần triển khai những đợt tuần tra liên tục bằng tiêm kích như F-15, F-16 hay F-18, trang bị Hệ thống Vũ khí Đánh chặn Chính xác Tiên tiến (APKWS).
APKWS có khả năng biến những quả rocket không dẫn đường Hydra 70 đời cũ giá rẻ thành đạn dẫn đường bằng laser thông minh với độ chính xác cực cao, giúp tiêm kích Mỹ đối phó hiệu quả với các cuộc tấn công "bầy đàn" của UAV Shahed từ phía Iran.
Bước thứ ba trong kế hoạch của Montgomery là sử dụng trực thăng vũ trang được triển khai từ tàu khu trục của Mỹ, phóng rocket Hydra tấn công các tàu lặn không người lái Iran, cùng binh sĩ IRGC đang tìm cách rải thủy lôi ở eo biển.
"UAV Shahed khiến tôi lo lắng. Nhưng thứ thực sự có thể đánh chìm cả con tàu thương mại là tàu lặn không người lái, loại vũ khí có thể mang theo hơn 200 kg thuốc nổ. Đó mới là thứ gây tổn thất thực sự", ông nói.
Cuối cùng, ông Montgomery cho hay Mỹ có thể triển khai khoảng 10-14 tàu khu trục để hộ tống các đoàn tàu chở dầu và bắn hạ tên lửa hành trình, UAV của Iran.
Với việc Mỹ đã chi 12 tỷ USD cho cuộc chiến với Iran, Montgomery cho rằng một chiến dịch hải quân để mở cửa vịnh Ba Tư sẽ "chẳng thấm vào đâu so với những gì chúng ta đã chi cho các loại đạn dược dẫn đường chính xác".
Ảnh vệ tinh cho thấy tàu tập trung tại eo biển Hormuz. Đồ họa: WSJ
Ảnh vệ tinh cho thấy tàu tập trung tại eo biển Hormuz. Đồ họa: WSJ
Ông cho hay bản thân "bị sốc" khi thấy Anh không triển khai tàu chiến tới vùng Vịnh để hỗ trợ Mỹ, bởi lực lượng này có những tàu quét mìn hiện đại có thể đối phó hiệu quả với các loại thủy lôi được rải xuống eo biển Hormuz.
"Tôi có mong muốn chúng ta sẽ phối hợp với đồng minh hay không? Có chứ. Nhưng thực tế hải quân Mỹ vẫn làm được việc này. Họ làm được vì chúng ta đã đầu tư xứng đáng cho hải quân", ông nói.
Xung đột tại Trung Đông đã bước sang ngày thứ 19, khiến hơn 2.000 người thiệt mạng và đang làm đảo lộn thị trường năng lượng toàn cầu. Iran đã cho phép một số tàu dầu đi qua eo biển Hormuz, nhưng tuyên bố sẽ đánh chìm bất cứ tàu nào của Israel, Mỹ hay đồng minh xuất hiện tại khu vực.
Tổng thống Mỹ Donald Trump đã kêu gọi NATO cùng một số nước triển khai tàu chiến tới eo biển Hormuz để hỗ trợ Washington khơi thông tuyến hàng hải huyết mạch này. Tuy nhiên, phần lớn các nước đến nay đều từ chối điều tàu theo đề nghị của ông Trump.
Qatar tuyên bố tùy viên quân sự, an ninh và nhân viên dưới quyền ở sứ quán Iran "không được chào đón" và phải rời đi trong vòng 24 giờ.
"Chúng tôi đã trao công hàm cho đại sứ quán Cộng hòa Hồi giáo Iran, thông báo rằng nhà nước Qatar coi tùy viên quân sự, tùy viên an ninh cùng toàn bộ nhân viên làm việc tại hai bộ phận này là những cá nhân không được chào đón, yêu cầu họ rời khỏi lãnh thổ Qatar trong thời hạn tối đa 24 giờ", Bộ Ngoại giao Qatar cho biết hôm nay.
Cơ quan này nhấn mạnh quyết định được đưa ra sau "những hành động tấn công liên tục và mang tính thù địch của Iran nhằm vào Qatar, vi phạm chủ quyền và an ninh của đất nước, đồng thời đi ngược lại quy định của luật pháp quốc tế, Nghị quyết 2817 của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc và các quy tắc quan hệ láng giềng hữu nghị".
Bộ Ngoại giao Qatar khẳng định nước này bảo lưu quyền áp dụng mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ chủ quyền và an ninh, phù hợp với các quy định của luật pháp quốc tế.
Khói bốc lên từ các tòa nhà ở thủ đô Doha của Qatar hôm 5/3. Ảnh: AFP
Giới chức Iran chưa lên tiếng về thông tin.
Sau khi Mỹ, Israel phát động chiến dịch tấn công ngày 28/2, Iran đã tiến hành trả đũa bằng cách phóng tên lửa, máy bay không người lái (UAV) vào lãnh thổ Israel, căn cứ của Mỹ ở Trung Đông và hạ tầng năng lượng trọng yếu tại nhiều nước Vùng Vịnh.
Tại Qatar, Iran đã tiến hành nhiều đợt tấn công nhắm vào các cơ sở năng lượng chiến lược, gây gián đoạn nghiêm trọng đối với hạ tầng và hoạt động kinh tế.
Tập đoàn dầu khí quốc gia QatarEnergy ngày 19/3 xác nhận tên lửa Iran đã đánh trúng khu phức hợp khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) Ras Laffan, khu sản xuất LNG lớn nhất thế giới và nằm cách Doha khoảng 80 km về phía bắc. Bộ Ngoại giao Qatar lên án "cuộc tấn công tàn bạo của Iran nhắm vào Ras Laffan", khẳng định hành động này là "mối đe dọa trực tiếp đến an ninh quốc gia".
Trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông làm đảo lộn dòng chảy dầu mỏ toàn cầu, các nhà sản xuất nhiên liệu Mỹ đang đẩy mạnh nhập khẩu dầu thô từ Venezuela lên mức cao nhất trong hơn một năm qua.
Một nhà máy lọc dầu của tập đoàn dầu khí quốc gia Venezuela ở Puerto La Cruz, bang Anzoategui, Venezuela. Ảnh: France24/TTXVN
Theo dữ liệu từ Chính phủ Mỹ, lượng nhập khẩu dầu thô nặng từ quốc gia Nam Mỹ này đã tăng gấp đôi trong tuần kết thúc vào ngày 13/3 lên mức cao nhất kể từ cuối năm 2024.
Không chỉ Venezuela, lượng dầu nhập khẩu từ Mexico, Brazil, Colombia và Ecuador cũng tăng tổng cộng hơn 1 triệu thùng mỗi ngày trong cùng thời điểm. Nhập khẩu từ Saudi Arabia tăng gần 200.000 thùng/ngày, nhưng lại giảm ở mức tương ứng từ Iraq.
Nguồn cung từ Venezuela gia tăng là một phần trong định hướng của chính quyền Tổng thống Donald Trump nhằm điều chỉnh nguồn cung dầu mỏ, đồng thời thúc đẩy phục hồi kinh tế tại quốc gia Nam Mỹ này.
Trước đó, Mỹ đã cho phép tập đoàn Chevron nối lại hoạt động khai thác dầu tại Venezuela từ tháng 7, khiến lượng dầu xuất khẩu từ nước này tăng gấp đôi trong tháng 2/2026. Ở chiều ngược lại, xuất khẩu dầu thô của Mỹ cũng tăng mạnh khi các khách hàng châu Á và nhiều nhà máy lọc dầu nước ngoài chuyển sang mua dầu Mỹ để thay thế nguồn cung từ Trung Đông. Trong tuần trước, Mỹ xuất khẩu gần 5 triệu thùng dầu mỗi ngày và là mức cao nhất kể từ tháng 9/2025.
Mặc dù kho dự trữ nội địa của Mỹ tăng trong bốn tuần liên tiếp đã phần nào giúp Mỹ an tâm hơn trước các cú sốc nguồn cung, nhưng giá nhiên liệu bán lẻ vẫn chưa thể hạ nhiệt. Hiện nay, giá xăng trung bình tại Mỹ đang tiến gần 4 USD/gallon (1 gallon = 3,78 lít), mức cao nhất kể từ tháng 9/2023, và giá dầu diesel đã vượt ngưỡng 5 USD/gallon, mức cao nhất kể từ cuối năm 2022. Mức giá nhiên liệu cao nhất trong nhiều năm qua đang gây áp lực trực tiếp lên chi tiêu của người tiêu dùng và nền kinh tế Mỹ.
Theo nhận định của CNBC, ứng viên Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) Kevin Warsh muốn hạ lãi suất. Tuy nhiên, các quan chức Fed ngày 18/3 cho thấy điều này có thể còn khó khăn hơn dự kiến nếu ông được xác nhận vào vị trí này trong thời gian tới.
Ông Kevin Warsh. Ảnh: REUTERS/TTXVN
Các quan chức Fed đã nâng dự báo về lộ trình lạm phát và lãi suất trong dữ liệu được công bố ngày 18/3. Điều này phần lớn đã được dự đoán trước do giá dầu tăng mạnh vì chiến tranh Iran. Tuy nhiên, Chủ tịch Fed Jerome Powell cho biết dầu mỏ không phải là yếu tố duy nhất mà các đồng nghiệp của ông đang xem xét.
Theo ông Powell, dự báo lạm phát tăng cao hơn cũng “phản ánh tiến triển chậm mà chúng tôi đang thấy liên quan đến thuế quan”.
Fed công bố khảo sát về kỳ vọng của các quan chức cấp cao đối với lãi suất và nền kinh tế trong tài liệu gọi là Bản Tóm tắt Dự báo Kinh tế (SEP). SEP công bố hôm 18/3 cho thấy dự báo trung vị về một chỉ số lạm phát quan trọng - lạm phát chi tiêu tiêu dùng cá nhân cốt lõi - đã tăng từ 2,5% cho năm 2026 (đưa ra vào tháng 12/2025) lên 2,7% tính đến tháng 3.
Trong khi đó, SEP cũng cho thấy một số quan chức Fed nâng dự báo về lãi suất trong biểu đồ “dot plot” (biểu đồ điểm), thể hiện quan điểm của các thành viên về hướng đi của lãi suất. Biểu đồ tháng 3 cho thấy một số quan chức Fed đã loại trừ khả năng có nhiều lần cắt giảm lãi suất trong năm nay.
Các dự báo này là ẩn danh, nhưng một quan chức Fed trước đây từng công khai ủng hộ cắt giảm lãi suất đã thay đổi lập trường vào tháng 3. Thống đốc Fed Christopher Waller từng phản đối quyết định giữ nguyên lãi suất vào tháng 1 và ủng hộ giảm lãi suất. Tuy nhiên, tại cuộc họp gần nhất, ông Waller đã đồng ý với Powell giữ nguyên lãi suất.
Tất cả những điều này cho thấy ông Warsh có thể sẽ đối mặt với nhiều khó khăn nếu sớm được xác nhận. Warsh muốn cắt giảm lãi suất, phù hợp với yêu cầu của Tổng thống Mỹ Donald Trump đối với ứng viên của mình. Tuy nhiên, Chủ tịch Fed chỉ có 1 trong tổng số 12 phiếu trong ủy ban quyết định lãi suất. Ông sẽ cần thuyết phục các thành viên khác, trong khi có dấu hiệu cho thấy nhiều quan chức Fed đang chuẩn bị lập trường khiến việc cắt giảm lãi suất trở nên khó khăn trước khả năng ông Warsh được bổ nhiệm.
Hai "người khổng lồ" trong lĩnh vực tài trợ thế chấp của Mỹ, Fannie Mae và Freddie Mac, vừa quyết định nới lỏng các yêu cầu về bảo hiểm nhà ở đối với khách hàng vay mua nhà. Động thái này nhằm cắt giảm một trong những "chi phí ẩn" đang ngày càng trở nên đắt đỏ đối với người sở hữu bất động sản tại nền kinh tế lớn nhất thế giới.
Một ngôi nhà treo biển rao bán tại Washington, DC, Mỹ ngày 19/10/2022. Ảnh tư liệu: THX/TTXVN
Cơ quan Tài chính Nhà ở Liên bang Mỹ (FHFA) - đơn vị giám sát Fannie Mae và Freddie Mac - thông báo hai tổ chức này từ nay sẽ chấp nhận các khoản thế chấp từ những chủ nhà chỉ mua loại bảo hiểm cơ bản, với phạm vi bồi thường chỉ bao gồm giá trị hiện tại của mái nhà thay vì toàn bộ chi phí thay mới như trước đây. Chính sách này áp dụng cho cả nhà ở biệt lập và căn hộ chung cư.
Cụ thể, quy định mới cho phép người đi vay sử dụng các gói bảo hiểm nhà ở rẻ hơn. Thay vì bắt buộc mua loại bảo hiểm đắt đỏ chi trả 100% chi phí xây mới mái nhà như trước đây, khách hàng giờ có thể chọn gói bảo hiểm chỉ bồi thường theo giá trị hiện tại của mái nhà (đã trừ đi mức độ cũ hỏng).
Lựa chọn này giúp người dân giảm bớt số tiền đóng bảo hiểm hàng năm, nhưng bù lại họ sẽ phải tự bỏ nhiều tiền túi hơn để bù đắp chi phí sửa chữa nếu chẳng may nhà bị hư hỏng. Ngoài ra, giới chức Mỹ cũng nới lỏng một số quy định kỹ thuật khác về bảo hiểm chung cư, giúp người mua căn hộ dễ dàng tiếp cận các khoản vay mua nhà thông thường hơn.
Sự thay đổi trên dự kiến sẽ mang lại tác động lớn do hiện khoảng 70% trong tổng các khoản vay thế chấp tại Mỹ đều được bán lại cho Fannie Mae và Freddie Mac. Vì vậy, người muốn mua nhà đó phải tuân thủ nghiêm ngặt các hướng dẫn về bảo hiểm do hai "ông lớn" này đặt ra.
Trong những năm gần đây, chi phí bảo hiểm nhà ở tại Mỹ đã tăng phi mã. Nguyên nhân đến từ giá nhà leo thang, chi phí nhân công và vật liệu xây dựng đắt đỏ, cộng hưởng với việc biến đổi khí hậu làm gia tăng cường độ và mức độ nghiêm trọng của các thảm họa thiên nhiên.
Tốc độ tăng giá bảo hiểm nhà ở tại Mỹ đã vượt xa mức lạm phát chung và dự kiến sẽ chưa dừng lại. Theo ước tính của nền tảng bảo hiểm trực tuyến Insurify, phí bảo hiểm trung bình trong năm 2025 đã tăng vọt 12% lên mức 2.948 USD/năm. Con số này dự kiến sẽ tăng thêm 4% trong năm 2026.
Diễn Đàn Người Việt Hải Ngoại. Tự do ngôn luận, an toàn và uy tín. Vì một tương lai tươi đẹp cho các thế hệ Việt Nam hãy ghé thăm chúng tôi, hãy tâm sự với chúng tôi mỗi ngày, mỗi giờ và mỗi giây phút có thể. VietBF.Com Xin cám ơn các bạn, chúc tất cả các bạn vui vẻ và gặp nhiều may mắn.
Welcome to Vietnamese American Community, Vietnamese European, Canadian, Australian Forum, Vietnamese Overseas Forum. Freedom of speech, safety and prestige. For a beautiful future for Vietnamese generations, please visit us, talk to us every day, every hour and every moment possible. VietBF.Com Thank you all and good luck.