Hãng truyền thông NDTV (Ấn Độ) đưa tin, kể từ khi xung đột bùng nổ ở Trung Đông vào ngày 28/2, các quốc gia vùng Vịnh đã thể hiện sự kiềm chế đáng kể, đặc biệt là sau khi máy bay không người lái (UAV) của Iran tấn công nhà máy lọc dầu Ras Tanura của Saudi Arabia và sân bay ở Kuwait City.
Tuy nhiên, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) là quốc gia phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất từ các cuộc tấn công này của Iran.
Trong 17 ngày qua, Iran đã phóng 1.600 UAV, bao gồm cả loại Shahed khét tiếng, gần 300 tên lửa đạn đạo và 15 tên lửa hành trình vào các mục tiêu quân sự và dân sự ở UAE, gây thiệt hại hàng tỷ USD cho nước này từ việc phải phóng tên lửa đánh chặn, cho đến hư hại về cơ sở hạ tầng và tài sản, đồng thời làm ảnh hưởng tới hình ảnh của UAV như một nơi trú ẩn an toàn cho giới thượng lưu.
Các vụ tấn công vào Sân bay quốc tế Dubai - sân bay bận rộn nhất thế giới - đã khiến hãng hàng không Emirates của UAE thiệt hại tới 100 triệu USD/ngày; thị trường hoảng loạn đã khiến các nhà đầu tư mất tới 5 tỷ USD; hoạt động vận chuyển hàng hóa chậm lại tại cảng Jebel Ali gây thiệt hại 500 triệu USD/ngày.
Tính đến nay, 6 người đã thiệt mạng, trong đó có công dân đến từ Pakistan, Nepal và Bangladesh; và hơn 140 người bị thương trong các vụ tấn công của Iran.
Để phòng vệ, UAE đã phóng hàng trăm tên lửa đánh chặn (trong đó có hệ thống THAAD do Mỹ sản xuất) và tự hào về tỷ lệ vô hiệu hóa ấn tượng - hầu hết các báo cáo cho thấy tỷ lệ này trên 92%.
Tuy nhiên, UAE chưa từng phóng bất kỳ tên lửa nào với mục đích trả đũa, mặc dù theo Điều 51 của Hiến chương Liên Hợp Quốc quy định "quyền tự vệ vốn có nếu một cuộc tấn công vũ trang xảy ra nhắm vào một thành viên".
Lý do là gì?
UAE đã khẳng định rõ ràng rằng họ vẫn giữ quyền đó, mặc dù sẽ "ưu tiên lý trí".
Ông Anwar Gargash - cố vấn ngoại giao của Tổng thống UAE Sheikh Mohamed bin Zayed Al Nahyan - phát biểu trên nền tảng X vào ngày 15/3 rằng: "UAE có quyền tự vệ... Tuy nhiên, nước này vẫn tiếp tục ưu tiên lý trí và logic, giữ thái độ kiềm chế và tìm kiếm giải pháp thỏa hiệp."
NDTV dẫn lời một số chuyên gia cho biết, UAE và các quốc gia vùng Vịnh khác đang ngần ngại bị cuốn vào một cuộc xung đột do Tổng thống Mỹ Donald Trump khởi xướng, đặc biệt trong bối cảnh dường như không có lối thoát nào.
Do thiếu lối thoát đó, UAE ngần ngại mạo hiểm thêm nữa với nền kinh tế dễ bị tổn thương, vốn phụ thuộc rất nhiều vào du lịch và xuất khẩu, trước những cuộc tấn công tiếp theo. Hơn nữa, một cuộc đối đầu trực tiếp với Iran sẽ làm leo thang những lo ngại về sự bất ổn về nguồn cung năng lượng qua Eo biển Hormuz, dẫn đến một cuộc khủng hoảng dầu mỏ toàn diện.
Dầu mỏ - với sản lượng khoảng 3,2 đến 4,1 triệu thùng mỗi ngày - chiếm 30-40% GDP và lên đến 60% doanh thu của chính phủ UAE, mặc dù nước này có một nền kinh tế đa dạng.
Do đó, bảo vệ người dân và nền kinh tế là ưu tiên hàng đầu của UAE.
Và việc chỉ tập trung phòng thủ vào thời điểm này cũng cho phép UAE và các quốc gia vùng Vịnh khác không chỉ tiếp tục bảo vệ nền kinh tế của họ (vốn đều phụ thuộc vào dầu mỏ, xuất khẩu và du lịch), mà còn duy trì quan hệ ngoại giao với Tehran và đàm phán, để có thể dẫn tới một kết thúc hòa bình cho cuộc xung đột.
Một nhà phân tích khu vực đã tóm tắt điều này khi nói với tờ The New Arab rằng "tài sản lớn nhất của các quốc gia vùng Vịnh là sự phối hợp nhịp nhàng... kiềm chế thông qua đối thoại, đồng thời tăng cường phòng thủ tập thể".
Theo The New York Times, khi giá dầu tăng vọt lên 100 USD/thùng, các quốc gia đã gấp rút tìm cách giảm thiểu tác động của việc gián đoạn nguồn cung nhiên liệu đột ngột từ Trung Đông. Trong giai đoạn này, Trung Quốc sở hữu hai lợi thế đáng kể.
Một phần đáng kể các phương tiện mới của Trung Quốc sử dụng năng lượng điện. Hơn nữa, nguồn điện này chủ yếu đến từ các nguồn năng lượng trong nước.
Chiến lược dài hạn của Trung Quốc về việc đầu tư hàng trăm tỷ đô la vào xe điện và năng lượng tái tạo trong những thập kỷ qua hiện đang gặt hái thành quả, trong khi các quốc gia khác đang phải vật lộn với những thay đổi mạnh mẽ trên thị trường dầu mỏ. Bắc Kinh đang nỗ lực giảm sự phụ thuộc vào năng lượng nước ngoài bằng cách mở rộng nguồn cung trong nước và đẩy nhanh phát triển các nguồn năng lượng thay thế, bao gồm năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng thủy điện và năng lượng hạt nhân.
Năm ngoái, nhu cầu về dầu tinh chế, xăng và dầu diesel của Trung Quốc đã giảm năm thứ hai liên tiếp. Do đó, các chuyên gia dự đoán rằng mức tiêu thụ dầu khí của Trung Quốc đã đạt đỉnh và quốc gia này không còn dễ bị tổn thương trước những gián đoạn nguồn cung năng lượng nữa.
“So với các quốc gia khác, Trung Quốc có một lượng dự trữ nhất định,” Michel Medan, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu năng lượng Trung Quốc tại Viện Nghiên cứu Năng lượng Oxford. “Sự gián đoạn nguồn cung và tăng giá sẽ không ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả kinh tế của nước này.”
Giá dầu đã vượt mốc 100 USD lần thứ hai trong vòng một tuần giữa những lo ngại ngày càng tăng rằng cuộc xung đột đang diễn ra sẽ làm gián đoạn giao thông ở eo biển Hormuz - một tuyến đường thủy hẹp giữa Iran và Oman và là tuyến đường thương mại quan trọng cho dầu khí.
Các nhà lãnh đạo thế giới đã nhất trí giải phóng một lượng dầu kỷ lục từ kho dự trữ khẩn cấp, và Tổng thống Donald Trump đã nới lỏng các lệnh trừng phạt đối với một số mặt hàng xuất khẩu của Nga, nhưng nỗi lo về tình trạng thiếu hụt nguồn cung vẫn còn đó khi ngày càng nhiều tàu chở dầu và tàu chở hàng trở thành mục tiêu.các biện pháp cực đoanđầu tư 300 tỷ USD để thúc đẩy sự phát triển của các tập đoàn công nghệ cao trong nước và giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu nước ngoài.
Mặc dù một nửa lượng dầu thô vận chuyển bằng đường biển của Trung Quốc đến từ Trung Đông, Bắc Kinh vẫn có đủ khả năng để tránh thực hiện như nhiều quốc gia châu Á khác , như chuyển sang tuần làm việc bốn ngày nhằm tiết kiệm năng lượng.
Trong vài năm qua, Trung Quốc đã chuyển đổi thị trường ô tô lớn nhất thế giới từ xe chạy xăng sang xe điện với tốc độ nhanh hơn bất kỳ nền kinh tế lớn nào khác trên thế giới. Đến năm 2025, doanh số bán xe điện của Trung Quốc sẽ vượt qua tổng doanh số của phần còn lại của thế giới cộng lại.
Trong số các loại xe mới bán ra tại Trung Quốc, một nửa là xe điện hoặc xe hybrid. Theo số liệu mới nhất từ Hiệp hội Ô tô Hành khách Trung Quốc, khoảng một phần ba xe tải hạng nặng mới là xe điện hoàn toàn.
Ngược lại, theo dữ liệu từ Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ, khoảng 22% doanh số bán xe mới tại Mỹ năm 2025 sẽ là xe hybrid hoặc xe điện. Doanh số bán xe điện đã giảm mạnh trong những tháng cuối năm đó sau khi khoản tín dụng thuế liên bang lớn hết hạn.
Mỹ tấn công Iran, giá dầu rung lắc: Trung Quốc bình thản nhờ kế hoạch thai nghén từ hơn 20 năm trước - Ảnh 3.
Đến năm 2025, doanh số bán xe điện của Trung Quốc vượt qua tổng doanh số của phần còn lại của thế giới, tạo ra nhu cầu trên toàn quốc về các trạm sạc. Ảnh: Reuters
Mười năm trước, vị thế dẫn đầu của Trung Quốc trong lĩnh vực xe điện có vẻ khó tin . Vào thời điểm đó, doanh số bán xe chạy bằng nhiên liệu tăng vọt, và nhu cầu xăng dầu tiếp tục leo thang. Nhưng tình hình đã thay đổi sau khi chính phủ đầu tư 300 tỷ USD để thúc đẩy sự phát triển của các tập đoàn công nghệ cao trong nước và giảm sự phụ thuộc vào nhập khẩu nước ngoài.
Theo số liệu của chính phủ, từ năm 2016 đến năm 2022, chính phủ Trung Quốc đã cung cấp hơn 5 tỷ USD tiền trợ cấp trực tiếp cho các nhà sản xuất ô tô để thúc đẩy sự phát triển của xe điện. BYD đã giành được thị phần lớn nhất và vượt qua Tesla vào năm ngoái để trở thành nhà sản xuất xe điện bán chạy nhất thế giới.
Tầm nhìn từ hơn 20 năm trước
Đối với Bắc Kinh, quá trình chuyển đổi sang xe điện và năng lượng tái tạo bắt nguồn từ mối lo ngại lâu dài và dai dẳng về sự dễ bị tổn thương của Trung Quốc trong lĩnh vực năng lượng.
NYT cho biết, kể từ những năm 2000, giới lãnh đạo Trung Quốc đã đặc biệt chú ý đến một eo biển hẹp khác vận chuyển dầu mỏ đến Trung Quốc: Eo biển Malacca. Vào thời điểm đó, tuyến đường thủy ngăn cách Indonesia, Malaysia và Singapore này chiếm 25% thương mại toàn cầu.
Năm 2004, một tờ báo nhà nước Trung Quốc viết: "Không ngoa khi nói rằng ai kiểm soát eo biển Malacca thì sẽ kiểm soát được huyết mạch năng lượng của Trung Quốc."
Vào thời điểm đó, Trung Quốc đã phản ứng bằng cách thiết lập kho dự trữ dầu khẩn cấp và đầu tư vào năng lượng tái tạo. Ngày nay, trong số các nền kinh tế lớn ở châu Á, Trung Quốc là quốc gia ít bị ảnh hưởng nhất bởi sự gián đoạn nguồn cung dầu khí từ Trung Đông.
Trung Quốc là nước mua dầu khí lớn nhất thế giới, trong đó than đá đáp ứng hơn một nửa nhu cầu năng lượng. Dầu khí chiếm khoảng một phần tư, phần còn lại được cung cấp bởi năng lượng hạt nhân và các nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, năng lượng gió và năng lượng thủy điện.
“Việc Trung Quốc thúc đẩy năng lượng tái tạo không phải xuất phát từ những lo ngại về môi trường, mà là do nhu cầu an ninh năng lượng, và cả vai trò của nó như một động lực cho tăng trưởng kinh tế,” Matthias Larsen, một chuyên gia chính sách cấp cao tại Viện Grantham thuộc Trường Kinh tế London, cho biết. “An ninh năng lượng luôn là ưu tiên hàng đầu và là động lực cốt lõi.”
Mặc dù Trung Quốc nhập khẩu ba phần tư lượng dầu mỏ tiêu thụ, nước này vẫn đang tích lũy dự trữ chiến lược với quy mô lớn . Trong hai tháng đầu năm nay, nhập khẩu dầu của Trung Quốc đã tăng 16% so với cùng kỳ năm ngoái.
Hai ngày sau khi Mỹ và Israel phát động các cuộc tấn công vào Iran, Nhân dân Nhật báo, tờ báo chính thức của đảng Cộng sản Trung Quốc, đã ca ngợi sự tiến bộ của Trung Quốc.
Tiêu đề trang nhất của tờ báo tuyên bố: "Đất nước chúng ta đã xây dựng hệ thống năng lượng tái tạo lớn nhất thế giới." Bài báo cũng chỉ ra rằng Trung Quốc sở hữu mạng lưới trạm sạc xe điện lớn nhất thế giới.
Ngay cả với những nỗ lực này, người dân Trung Quốc vẫn không hoàn toàn miễn nhiễm với tác động của giá dầu tăng cao.
Nhiều hộ gia đình Trung Quốc vẫn phụ thuộc vào khí đốt tự nhiên nhập khẩu để sưởi ấm. Các nhà máy Trung Quốc cần các sản phẩm hóa dầu để sản xuất các nguyên liệu thô quan trọng cho chuỗi cung ứng toàn cầu, chẳng hạn như polyester cho ngành may mặc và cao su cho ngành sản xuất lốp xe.
Theo thỏa thuận đó, Ukraine có thể xuất khẩu ngũ cốc, thực phẩm và phân bón qua Biển Đen, và tàu buôn cũng như tàu dân sự sẽ không bị Nga tấn công.
Bà Kallas cho biết đã trao đổi với Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Antonio Guterres về khả năng áp dụng sáng kiến tương tự để mở lại tuyến vận tải qua eo biển đang bị tắc nghẽn do cuộc chiến của Mỹ - Israel với Iran.
Người phát ngôn Liên Hợp Quốc xác nhận có những đề xuất về sáng kiến do Liên Hợp Quốc dẫn dắt liên quan đến eo biển này, nhưng cảnh báo “mức độ rủi ro quá lớn” và tổ chức này sẽ tiếp tục làm việc một cách kín đáo.
Tổng thư ký Guterres dự kiến tới Brussels trong ngày 17/3 để thảo luận với các quan chức châu Âu.
Iran gần như đã phong tỏa Eo biển Hormuz trong bối cảnh cuộc chiến bước sang tuần thứ ba. Nhiều con tàu đã bị tấn công khi đi qua tuyến đường biển hẹp giữa Iran và Oman.
Bà Kallas cho biết việc đóng cửa eo biển là “rất nguy hiểm” đối với nguồn cung năng lượng của châu Á, đồng thời cũng ảnh hưởng đến sản xuất phân bón, có thể dẫn đến thiếu hụt lương thực.
Trong khi đó, một số đồng minh của Mỹ không có kế hoạch ngay lập tức đưa tàu chiến đến eo biển Hormuz, bác bỏ yêu cầu của Tổng thống Donald Trump về hỗ trợ quân sự để giữ tuyến đường biển quan trọng này thông suốt.
Ông Trump kêu gọi các quốc gia hỗ trợ tuần tra eo biển, nhưng Đức, Tây Ban Nha và Ý tuyên bố không tham gia bất kỳ sứ mệnh nào tại vùng Vịnh, ít nhất là vào thời điểm hiện tại.
Một số nước khác thận trọng hơn. Anh và Đan Mạch cho biết sẽ cân nhắc cách hỗ trợ, nhưng nhấn mạnh cần giảm căng thẳng và tránh bị kéo vào chiến tranh.
Bộ trưởng Quốc phòng Đức Boris Pistorius phát biểu tại Berlin: “Ông Donald Trump mong đợi vài chiếc khinh hạm châu Âu có thể làm được gì ở eo biển Hormuz mà Hải quân Mỹ hùng mạnh không thể làm?... Đây không phải là cuộc chiến của chúng tôi, và chúng tôi không khởi xướng nó”.
Người phát ngôn Chính phủ Đức cũng cho biết cuộc xung đột không liên quan đến Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và Đức không có kế hoạch tham gia.
Tây Ban Nha tuyên bố sẽ không làm bất cứ điều gì có thể làm leo thang xung đột. Phó Thủ tướng Ý Matteo Salvini cho rằng đưa tàu chiến vào vùng chiến sự đồng nghĩa với việc tham chiến.
Một số đồng minh của Mỹ đã bác bỏ lời kêu gọi của Tổng thống Donald Trump hôm 16-3 về việc cử tàu chiến hộ tống các tàu chở dầu qua eo biển Hormuz.
Tổng thống Donald Trump cáo buộc các đối tác phương Tây "vô ơn" sau nhiều thập kỷ được Mỹ hỗ trợ.
Cuộc xung đột giữa Mỹ - Israel và Iran đã bước sang tuần thứ ba mà chưa có dấu hiệu kết thúc.
Phát biểu tại một sự kiện ở Nhà Trắng tại Washington, Tổng thống Donald Trump cho hay nhiều nước đã nói với ông rằng họ sẵn sàng giúp đỡ nhưng bày tỏ sự thất vọng với một số đồng minh lâu năm.
"Một số là những nước mà chúng ta đã giúp đỡ trong nhiều năm. Chúng ta đã bảo vệ họ khỏi những mối nguy hiểm bên ngoài nhưng họ lại không mấy hào hứng. Và mức độ hào hứng rất quan trọng đối với tôi” - Tổng thống Donald Trump nói.
Eo biển Hormuz chiến lược, nơi 20% lượng dầu mỏ và khí thiên nhiên hóa lỏng của thế giới đi qua, vẫn bị đóng cửa phần lớn, làm tăng giá năng lượng và gây lo ngại về lạm phát.
Cuộc xung đột đã gây ra những tổn thất kinh tế cho các đồng minh của Mỹ, những nước không được tham vấn trước các cuộc không kích vào Iran.
Một số đối tác của Mỹ, bao gồm Đức, Tây Ban Nha và Ý, cho biết họ chưa có kế hoạch gửi tàu đến eo biển Hormuz, vốn bị Iran phong tỏa bằng máy bay không người lái và thủy lôi.
"Chúng tôi thiếu sự ủy quyền từ Liên hợp quốc, Liên minh châu Âu (EU) hoặc NATO theo yêu cầu của Hiến chương cơ bản. Mỹ và Israel đã không tham khảo ý kiến của Đức trước khi phát động chiến sự” - Thủ tướng Đức Friedrich Merz nói ở Berlin.
Hôm 16-3, Israel thông báo họ đã lập kế hoạch chi tiết cho ít nhất 3 tuần xung đột nữa trong khi oanh tạc các mục tiêu trên khắp Iran.
Israel lập luận họ muốn làm suy yếu khả năng đe dọa của Iran bằng cách tấn công cơ sở hạ tầng tên lửa đạn đạo, các cơ sở hạt nhân và bộ máy an ninh của nước này.
Theo Tel Aviv, không quân Israel đã tấn công các địa điểm liên quan đến chương trình không gian của Iran, bao gồm phá hủy một cơ sở nghiên cứu ở Tehran tham gia phát triển vệ tinh dự kiến phóng vào năm 2024.
Ngược lại, các cuộc tấn công bằng máy bay không người lái của Iran đã tạm thời làm đóng cửa sân bay Dubai và nhắm mục tiêu một cơ sở dầu mỏ quan trọng ở Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE).
Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) đánh tiếng sẽ tấn công các cơ sở công nghiệp của Mỹ ở Trung Đông và kêu gọi những người sống gần các nhà máy thuộc sở hữu của Mỹ rời đi.
Người phát ngôn lực lượng vũ trang Iran, Abolfazl Shekarchi, cũng đe doạ sẽ nhắm mục tiêu vào các cơ sở dầu khí ở bất kỳ nước nào được Mỹ dùng làm bàn đạp tiến hành các cuộc tấn công vào đảo Kharg - trung tâm dầu mỏ chính của Iran.
Quân đội Israel cũng đã tiến vào các khu vực mới ở miền Nam Lebanon, một phần của chiến dịch mở rộng sau khi Hezbollah bắn tên lửa vào Israel để trả đũa vụ ám sát lãnh tụ tối cao của Iran.
Trong một tuyên bố chung, Canada, Pháp, Đức, Ý và Anh cảnh báo rằng bất kỳ "cuộc tấn công trên bộ đáng kể nào của Israel sẽ gây ra hậu quả nhân đạo tàn khốc và có thể dẫn đến một cuộc xung đột kéo dài".
Theo trang The War Zone (TWZ), trích dẫn lời của Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ - Tướng Dan Kaine đã cho biết về thông tin này.
Theo ông Kane, binh lính thuộc Tiểu đoàn 3, Lữ đoàn Pháo binh dã chiến số 18 đã sử dụng tên lửa ATACMS để phá hủy một số tàu mặt nước và 1 tàu ngầm của Hải quân Iran.
Tuy nhiên, loại tàu bị bắn trúng và vị trí chính xác nơi chúng bị phá hủy không được nêu rõ.
Hiện chưa có phiên bản chiến đấu nào của ATACMS được biết đến có khả năng tấn công hiệu quả các mục tiêu hải quân di động. Do vậy, rất có thể tên lửa này đã được sử dụng để tấn công một tàu ngầm đang neo đậu trong cảng.
Phân tích hình ảnh vệ tinh từ kho lưu trữ của Planet Labs cho thấy tính đến ngày 4/3, một trong 3 tàu ngầm diesel-điện lớp Varshavyanka do Nga sản xuất của Iran đã bị đánh chìm tại cảng Bandar Abbas.
Một số tàu ngầm nhỏ lớp Ghadir cũng có thể được nhìn thấy tại căn cứ này trong các hình ảnh chụp ngày 2/3.
Trong một thông điệp video ngày 5/3, Đô đốc Hải quân Mỹ Brad Cooper, người đứng đầu Bộ Tư lệnh Trung tâm (CENTCOM), cũng cho biết: “Tàu ngầm hiện đại nhất của Iran… giờ đã bị thủng một lỗ ở mạn”. Không rõ ông đang ám chỉ tàu ngầm nào, nhưng có thể đó là lớp Varshavyanka bị trúng đạn ở Bandar Abbas.
Vào thời điểm đó, nhiều người cho rằng những phát ngôn của ông ám chỉ đến lớp Fateh - một tàu ngầm chạy bằng động cơ diesel-điện do Iran sản xuất, được đưa vào biên chế Hải quân Iran năm 2019, số phận của nó vẫn chưa được xác nhận.
Ngày 10/3, CENTCOM công bố video cho thấy các cuộc tấn công vào nhiều tàu chiến Iran trên biển và trong cảng, bao gồm cả một chiếc dường như là tàu ngầm mini lớp Ghadir. Chiếc tàu này được cho là đã bị trúng tên lửa AGM-114 Hellfire.
Nhìn chung, Hải quân Iran đang chịu tổn thất đáng kể trong cuộc đối đầu với Hoa Kỳ và Israel. Mới đây có thông tin cho biết vào ngày 10/3, máy bay không người lái của Mỹ đã phá hủy 16 tàu rải thủy lôi của Iran gần eo biển Hormuz.
Ngoài phương tiện trên, các tàu chiến khác của Hải quân Iran cũng bị tấn công bằng vũ khí chính xác. Các đơn vị chiến đấu lớn hơn cũng bị tấn công, bao gồm cả tàu hộ vệ hai thân lớp Shahid Soleimani của Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo - theo dữ liệu hiện có, ít nhất 3 tàu loại này đã bị hư hại hoặc phá hủy.
Báo chí biết rằng việc đánh chìm 3 tàu đã được ghi nhận chắc chắn tại căn cứ Hải quân Iran ở Konarak bao gồm tàu khu trục hạng nhẹ lớp Moudge IRIS Jamaran (76), cũng như tàu hộ vệ lớp Bayandor IRIS Bayandor (81) và IRIS Naghdi.
Ngoài ra, 3 tàu khác, bao gồm tàu phụ trợ Delvar và 3 tàu tuần tra lớp Hendijan cũng được cho là đã bị phá hủy, nhưng hiện chưa có bằng chứng hình ảnh rõ ràng nào xác nhận điều này.
Cuộc đối đầu giữa Israel và Iran từ lâu không chỉ diễn ra trên chiến trường Trung Đông, mà còn mở rộng sang một mặt trận ít được nhìn thấy hơn nhưng không kém phần quyết liệt, đó là mặt trận tình báo.
Các nguồn tin quốc tế gần đây cho biết năm 2026 chứng kiến sự gia tăng mạnh mẽ của các hoạt động gián điệp và phản gián giữa hai quốc gia, cho thấy cuộc đấu trí âm thầm này đã bước vào giai đoạn căng thẳng nhất trong nhiều thập kỷ.
Israel bắn phá Iran trong chiến dịch Operation Fury.
Theo truyền thông Iran và nhiều hãng tin quốc tế, lực lượng an ninh Tehran trong năm 2026 đã bắt giữ hàng chục nghi phạm bị cáo buộc làm việc cho cơ quan tình báo Israel - Mossad . Những người này bị cho là tham gia vào các hoạt động thu thập thông tin quân sự, giám sát các cơ sở hạ tầng chiến lược và hỗ trợ các chiến dịch phá hoại nhằm vào chương trình quân sự của Iran.
Một số nghi phạm còn bị cáo buộc cung cấp thông tin về các cơ sở nghiên cứu tên lửa và hạt nhân, vốn được Tehran xem là những mục tiêu tối mật.
Các vụ bắt giữ cho thấy Iran đang tăng cường đáng kể năng lực phản gián nhằm đối phó với mạng lưới tình báo Israel. Trong nhiều năm qua, Mossad được cho là đã xây dựng một hệ thống điệp viên sâu rộng trong lãnh thổ Iran, từ các nguồn tin địa phương cho đến những mạng lưới hậu cần hỗ trợ các chiến dịch phá hoại. Những hoạt động này từng được cho là liên quan đến hàng loạt vụ tấn công bí mật nhằm vào cơ sở hạt nhân và các nhà khoa học của Iran.
Tuy nhiên, cuộc chiến gián điệp không chỉ diễn ra một chiều. Israel cũng đang phải đối mặt với mối lo ngại ngày càng lớn về hoạt động tình báo của Iran ngay trong lãnh thổ nước này.
Mỹ công bố video tấn công cơ sở quân sự của Iran.
Israel phát hiện mạng lưới gián điệp Iran
Theo các nguồn tin an ninh Israel được truyền thông phương Tây dẫn lại, trong vòng hai năm qua nước này đã phát hiện khoảng 60 công dân bị cáo buộc hợp tác với Iran để thu thập thông tin quân sự. Những người bị nghi ngờ này được cho là đã cung cấp dữ liệu liên quan đến hệ thống phòng thủ, cơ sở hạ tầng chiến lược và các mục tiêu nhạy cảm khác.
Các cơ quan an ninh Israel cho rằng Iran đang tìm cách xây dựng mạng lưới gián điệp ngay trong nội địa nhằm bù đắp cho lợi thế tình báo lâu nay của Mossad . Tehran được cho là đã sử dụng nhiều phương thức tuyển mộ khác nhau, từ tiếp cận trực tuyến cho đến khai thác các mối quan hệ cá nhân và tài chính nhằm lôi kéo người cung cấp thông tin.
Giới phân tích nhận định việc Israel phát hiện hàng chục nghi phạm trong thời gian ngắn cho thấy quy mô hoạt động tình báo của Iran đã tăng đáng kể. Điều này cũng phản ánh một xu hướng mới trong cuộc cạnh tranh giữa hai quốc gia, khi cả hai bên đều tìm cách mở rộng hoạt động gián điệp sâu hơn vào lãnh thổ đối phương.
Một số chuyên gia an ninh Trung Đông cho rằng cuộc chiến tình báo giữa Israel và Iran hiện nay tương tự những cuộc đối đầu trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, khi các cường quốc không chỉ cạnh tranh bằng sức mạnh quân sự mà còn bằng khả năng thâm nhập và phá hoại trong bóng tối.
Mặt trận bí mật của cuộc đối đầu Trung Đông
Trong bối cảnh căng thẳng khu vực ngày càng gia tăng, hoạt động tình báo đang trở thành công cụ quan trọng giúp cả Israel và Iran giành lợi thế chiến lược. Mossad từ lâu được đánh giá là một trong những cơ quan tình báo hiệu quả nhất thế giới, nổi tiếng với các chiến dịch thâm nhập sâu vào lãnh thổ đối phương và những hoạt động bí mật có độ chính xác cao.
Trong khi đó, Iran cũng đã đầu tư mạnh cho các cơ quan an ninh và tình báo của mình, đặc biệt là Bộ Tình báo và lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo. Những cơ quan này được cho là đang mở rộng hoạt động phản gián, cũng như xây dựng mạng lưới tình báo ở nước ngoài nhằm đối phó với Israel.
Các nhà phân tích cho rằng sự leo thang của cuộc chiến gián điệp phản ánh mức độ đối đầu ngày càng sâu sắc giữa hai quốc gia. Khi nguy cơ xung đột trực tiếp luôn hiện hữu, cả Israel và Iran đều xem tình báo là công cụ then chốt để phát hiện sớm các mối đe dọa và tiến hành các chiến dịch bí mật nhằm làm suy yếu đối phương.
Những vụ bắt giữ gián điệp gần đây ở cả hai phía cho thấy cuộc chiến trong bóng tối này đang bước vào giai đoạn quyết liệt. Dù ít khi được công khai chi tiết, các hoạt động tình báo giữa Israel và Iran đang âm thầm định hình cục diện an ninh Trung Đông, nơi mà mỗi thông tin thu thập được có thể ảnh hưởng trực tiếp tới cán cân chiến lược của toàn khu vực.
Trung Quốc đến nay vẫn chưa đưa ra phản hồi trực tiếp trước đề nghị của Tổng thống Mỹ Donald Trump về việc tham gia hỗ trợ mở lại eo biển Hormuz - tuyến vận tải dầu mỏ chiến lược gần như đã bị tê liệt do xung đột với Iran.
Trong bối cảnh khoảng 20% nguồn cung dầu toàn cầu đi qua khu vực này, tình trạng gián đoạn kéo dài đã khiến giá dầu và khí đốt tăng vọt, làm dấy lên lo ngại về một cú sốc năng lượng mới trên phạm vi toàn cầu.
Khi được hỏi về đề nghị của Washington, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lâm Kiếm không trả lời trực tiếp mà chỉ nhấn mạnh mong muốn xung đột sớm kết thúc, đồng thời cảnh báo về những hệ lụy kinh tế nghiêm trọng.
Phản ứng thận trọng này cho thấy Bắc Kinh chưa sẵn sàng tham gia sâu vào một sáng kiến an ninh do Mỹ dẫn dắt, dù nước này là một trong những bên chịu ảnh hưởng lớn nhất nếu tuyến vận tải qua Hormuz tiếp tục bị gián đoạn.
Trong những ngày gần đây, Tổng thống Trump cho biết Mỹ đang thảo luận với khoảng 7 quốc gia nhằm thiết lập một cơ chế phối hợp bảo vệ tuyến hàng hải trọng yếu này. Ông nhấn mạnh các quốc gia phụ thuộc vào nguồn dầu đi qua eo biển Hormuz cần “tự bảo vệ lợi ích của mình”, đồng thời khẳng định Washington sẵn sàng hỗ trợ mạnh mẽ. Dù không nêu cụ thể danh sách, ông cho biết Mỹ đã liên hệ với Trung Quốc và Vương quốc Anh.
Theo dữ liệu của Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), gần 70% lượng dầu thô vận chuyển qua eo biển Hormuz trong năm 2024 được tiêu thụ tại các nền kinh tế châu Á, bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc. Riêng trong quý I/2025, hơn 1/3 lượng dầu đi qua tuyến này được xác định là hướng tới thị trường Trung Quốc. Điều đó cho thấy mức độ phụ thuộc lớn của khu vực châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, vào hành lang năng lượng này.
Song, phản ứng từ các đồng minh của Mỹ cũng khá dè dặt. Bộ trưởng Quốc phòng Đức Boris Pistorius đặt câu hỏi về tính hiệu quả của việc triển khai lực lượng hải quân châu Âu trong khi hải quân Mỹ vốn đã rất mạnh.
Ông nhấn mạnh đây không phải là cuộc chiến do châu Âu khởi xướng. Tại Anh, Thủ tướng Keir Starmer xác nhận đã trao đổi với ông Trump về tình hình Hormuz, nhưng chưa cam kết hành động cụ thể. Hàn Quốc cũng cho biết sẽ cân nhắc kỹ lưỡng và phối hợp với Washington trước khi đưa ra quyết định.
Trong khi đó, Nhà Trắng đang thúc đẩy kế hoạch thành lập một liên minh hải quân đa quốc gia nhằm hộ tống tàu thương mại qua eo biển Hormuz. Theo một số nguồn tin, kế hoạch này có thể được công bố trong thời gian tới, song việc huy động sự tham gia của các đối tác chủ chốt vẫn còn bỏ ngỏ.
Diễn biến căng thẳng tại Hormuz cũng bắt đầu ảnh hưởng đến các tính toán ngoại giao của Washington. Tổng thống Trump cho biết ông có thể trì hoãn chuyến thăm Trung Quốc dự kiến vào cuối tháng nếu chưa rõ lập trường của Bắc Kinh đối với vấn đề an ninh tại eo biển này.
Dự kiến diễn ra từ ngày 31/3 đến 2/4 và bao gồm cuộc gặp với Chủ tịch Tập Cận Bình, chuyến đi này được xem là cơ hội quan trọng để hai bên thảo luận các vấn đề thương mại, công nghệ và an ninh khu vực.
Thủ tướng Bỉ đã kêu gọi EU bình thường hóa quan hệ với Nga để tiếp cận nguồn năng lượng giá rẻ.
“Chúng ta phải bình thường hóa quan hệ với Nga để tiếp cận lại nguồn năng lượng giá rẻ. Đó là lẽ thường tình”, Thủ tướng Bart De Wever phát biểu với tờ báo L'Echo (Bỉ).
“Trong các cuộc thảo luận riêng, các nhà lãnh đạo châu Âu đều đồng ý với tôi, nhưng không ai dám nói thẳng ra. Chúng ta phải chấm dứt xung đột vì lợi ích của châu Âu”, ông De Wever nói trong cuộc phỏng vấn được đăng tải vào cuối tuần qua.
Kể từ khi Nga phát động chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraine đầu năm 2022, EU đã cung cấp hàng trăm tỷ euro viện trợ tài chính và quân sự cho Kiev, đồng thời áp đặt các biện pháp trừng phạt kinh tế đối với Moscow. Chấm dứt nhập khẩu dầu khí từ Nga là trong những trọng tâm của chiến lược.
Tuy nhiên, cuộc chiến giữa Mỹ và Israel với Iran đã đẩy giá dầu và khí đốt tăng mạnh, làm dấy lên các cuộc thảo luận trên khắp châu Âu về nguồn cung năng lượng và cách giảm chi phí cho các hộ gia đình và doanh nghiệp.
Các bộ trưởng ngoại giao EU thảo luận về cuộc chiến ở Ukraine và xung đột ở Trung Đông tại một cuộc họp ở Brussels vào 16/3.
Ông De Wever đã từng bác bỏ kế hoạch của Ủy ban châu nhằm sử dụng tài sản của Nga bị đóng băng ở Bỉ để cho Ukraine vay. Trả lời phỏng vấn, nhà lãnh đạo Bỉ cho biết vừa cung cấp hỗ trợ quân sự cho Kiev, vừa cố gắng làm suy yếu nền kinh tế của Moscow là không khả thi nếu không có Mỹ sát cánh.
“Vì chúng ta không thể gây áp lực lên Nga bằng cách gửi vũ khí cho Ukraine, và không thể bóp nghẹt nền kinh tế Nga nếu không có sự hỗ trợ của Mỹ, nên chỉ còn một phương pháp duy nhất: đạt được thỏa thuận”, thủ tướng nói thêm.
Tuyên bố của ông De Wever vấp phải sự chỉ trích của ngoại trưởng Bỉ Maxime Prévot.
“Chúng ta có nên đối thoại với Nga không? Có. Đó chính là bản chất của ngoại giao: nói chuyện, kể cả với những người mà mình bất đồng quan điểm”, ông Prévot nói. “Nhưng đối thoại không giống với bình thường hóa. Và đó là một sự khác biệt then chốt”.
Ông Prévot nói thêm: “Ngày nay, Nga từ chối sự hiện diện của châu Âu trên bàn đàm phán và vẫn giữ vững những yêu sách cực đoan. Chừng nào điều đó còn tiếp diễn, việc nói về bình thường hóa sẽ phát đi tín hiệu yếu kém và làm suy yếu sự đoàn kết châu Âu mà chúng ta cần hơn bao giờ hết”.
Trong phát biểu vào cuối ngày thứ Hai (17/3), ông De Wever dường như đã làm rõ lập trường của mình. Ông nói với các phóng viên: “Tôi không bảo vệ một đường lối khác với chính phủ của tôi. Rõ ràng là chúng ta không thể nói về việc bình thường hóa quan hệ chừng nào còn có chiến tranh. Tôi đang nói về một kịch bản khả thi, sau chiến tranh, sau một thỏa thuận hòa bình có thể chấp nhận được đối với cả Ukraine và châu Âu”.
“Điều duy nhất tôi muốn nói là tình hình hiện tại, khi châu Âu không ngồi vào bàn đàm phán mà lại phải trả giá cho cuộc chiến, là không thoải mái. Chúng ta sẽ không bỏ rơi Ukraine”.
Khi được hỏi về những bình luận trước đó của ông De Wever, Ủy viên năng lượng EU Dan Jørgensen cho biết: “Chúng tôi đã quyết định trong Liên minh châu Âu rằng chúng tôi không muốn nhập khẩu năng lượng từ Nga. Trước Giáng sinh, chúng tôi đã đưa điều này vào luật”.
“Sẽ là một sai lầm nếu chúng ta lặp lại những gì đã làm trong quá khứ. Trong tương lai, chúng ta sẽ không nhập khẩu dù chỉ một phân tử nào từ Nga”, vị quan chức châu Âu nói thêm.
Thổ Nhĩ Kỳ khẳng định rõ ràng quan điểm trước chiến dịch quân sự Israel - Mỹ nhằm vào Iran.
Tổng thống Recep Tayyip Erdoğan, Bộ Ngoại giao và Ngoại trưởng Hakan Fidan của Thổ Nhĩ Kỳ nhiều lần ra tuyên bố lên án, cảnh báo nguy cơ chiến tranh lan rộng.
Ngay từ ngày 28/2, khi chiến dịch bước vào giai đoạn công khai, ông Erdoğan kêu gọi ngừng bắn và đối thoại để tránh kéo cả khu vực vào vòng xoáy xung đột. Bộ Ngoại giao Thổ Nhĩ Kỳ nhấn mạnh hành động này vi phạm luật pháp quốc tế, đe dọa tính mạng dân thường và khẳng định Ankara sẵn sàng đóng vai trò trung gian hòa giải.
Ngày 2/3, ông Erdoğan tiếp tục chỉ trích các cuộc tấn công là “vi phạm luật pháp quốc tế”, đồng thời cảnh báo hậu quả nghiêm trọng đối với an ninh khu vực và toàn cầu. Ông nhấn mạnh không ai có thể gánh nổi gánh nặng bất ổn kinh tế - địa chính trị do chiến tranh gây ra.
Lo ngại về năng lượng và kinh tế
Ngoại trưởng Thổ Nhĩ Kỳ Hakan Fidan ngày 3/3 cho biết Ankara đang liên hệ với tất cả các bên để tìm giải pháp hòa bình. Ông cảnh báo xung đột có thể ảnh hưởng đến nguồn cung năng lượng, đặc biệt tại eo biển Hormuz - tuyến vận chuyển dầu mỏ toàn cầu.
Thổ Nhĩ Kỳ nhập khoảng 50 tỉ m3 khí mỗi năm, trong đó 14,3 tỉ m3 dưới dạng LNG. Bất kỳ biến động nào cũng có thể gây áp lực lên ngân sách, làm tăng giá nhập khẩu, chi phí sản xuất và lạm phát trong nước.
Nguy cơ bất ổn lan rộng
Ankara lo ngại việc đánh bại Iran bằng vũ lực sẽ phá vỡ cân bằng mong manh của khu vực, mở đường cho hàng loạt cuộc chiến mới từ Iraq, Syria đến Đông Địa Trung Hải.
Thổ Nhĩ Kỳ không coi Iran là đồng minh giá trị, nhưng phản đối kịch bản tan rã Iran vì điều đó sẽ tạo ra “nhà máy hỗn loạn” ngay sát biên giới. Ngày 12/3, ông Fidan cảnh báo nguy cơ nội chiến tại Iran, chia rẽ sắc tộc và tôn giáo, sẽ biến thành vùng bất ổn khổng lồ lan sang Thổ Nhĩ Kỳ.
Chiến tranh đã chạm tới biên giới
Ngày 9-10/3, tên lửa đạn đạo Iran đã xâm nhập không phận Thổ Nhĩ Kỳ và bị NATO đánh chặn. Ankara lập tức phản đối, coi đây là hành động không thể chấp nhận. Ông Fidan khẳng định Thổ Nhĩ Kỳ sẽ có biện pháp bảo vệ nếu tình trạng tái diễn. Điều này cho thấy chiến tranh đã tiến sát lãnh thổ Thổ Nhĩ Kỳ, biến phản đối của Ankara thành hành động tự vệ.
Lo ngại trở thành mục tiêu tiếp theo
Các chính trị gia Israel, trong đó có cựu Thủ tướng Naftali Bennett, đã công khai coi Thổ Nhĩ Kỳ là mối đe dọa mới sau Iran. Ankara nhận định nếu Iran bị đánh bại, vòng áp lực tiếp theo sẽ hướng vào Thổ Nhĩ Kỳ - quốc gia có ảnh hưởng lớn trong khu vực.
Vì vậy, Ankara vừa lên án chiến dịch, vừa tăng cường ngoại giao, đồng thời chuẩn bị phòng thủ để bảo vệ lãnh thổ và lợi ích quốc gia.
Thổ Nhĩ Kỳ nhấn mạnh 3 trụ cột trong lập trường: Pháp lý (vi phạm luật quốc tế), chính trị (gia tăng bạo lực, phá hoại ngoại giao), và kinh tế - chiến lược (đe dọa năng lượng, thương mại, ổn định xã hội).
Ankara coi việc ngăn chặn chiến tranh chống Iran không chỉ là bảo vệ láng giềng, mà còn là bảo vệ tương lai của chính mình.
Diễn Đàn Người Việt Hải Ngoại. Tự do ngôn luận, an toàn và uy tín. Vì một tương lai tươi đẹp cho các thế hệ Việt Nam hãy ghé thăm chúng tôi, hãy tâm sự với chúng tôi mỗi ngày, mỗi giờ và mỗi giây phút có thể. VietBF.Com Xin cám ơn các bạn, chúc tất cả các bạn vui vẻ và gặp nhiều may mắn.
Welcome to Vietnamese American Community, Vietnamese European, Canadian, Australian Forum, Vietnamese Overseas Forum. Freedom of speech, safety and prestige. For a beautiful future for Vietnamese generations, please visit us, talk to us every day, every hour and every moment possible. VietBF.Com Thank you all and good luck.