» Super News |
Cảnh báo đáng sợ về cuộc chiến của Mỹ và đồng minh với Iran
New Tab ↗
|
Cựu chuyên gia tình báo quân đội Israel cảnh báo chiến dịch quân sự của Mỹ và Israel nhằm ngăn Iran phát triển vũ khí hạt nhân có thể phản tác dụng và khiến Tehran tăng tốc chương trình chế tạo bom hạt nhân.
Iran có thể từ bỏ chiến lược “ngưỡng hạt nhân”
Ông Danny Citrinowicz, cựu lãnh đạo bộ phận nghiên cứu Iran thuộc Cục Tình báo Quân đội Israel, cho rằng các cuộc tấn công phủ đầu của Mỹ và Israel có thể khiến Tehran quyết định từ bỏ chiến lược “ngưỡng hạt nhân” kéo dài nhiều thập kỷ để tiến thẳng tới việc chế tạo vũ khí hạt nhân.

Ảnh vệ tinh chụp cơ sở hạt nhân Natanz của Iran, ngày 7/3/2026. Ảnh: Vantor/Reuters
Theo ông Citrinowicz, trong nhiều năm Iran theo đuổi chiến lược phát triển năng lực hạt nhân ở mức đủ để có thể chế tạo bom, nhưng không thực sự sản xuất vũ khí. Chiến lược này nhằm tạo ra khả năng răn đe đối với Mỹ và Israel, đồng thời vẫn duy trì lập trường chính thức phản đối vũ khí hạt nhân theo sắc lệnh tôn giáo được ban hành năm 2005.
Tuy nhiên, các cuộc tấn công quân sự gần đây của Mỹ và Israel nhằm vào Iran đã khiến chiến lược đó bị đặt dấu hỏi.
Trong hai tuần qua, Mỹ và Israel đã tiến hành chiến dịch không kích quy mô lớn nhằm vào các mục tiêu quân sự và hạt nhân của Iran, trong khi Tehran đáp trả bằng các cuộc tấn công tên lửa và máy bay không người lái vào nhiều mục tiêu trong khu vực Trung Đông.
Theo ông Citrinowicz, mục tiêu của Mỹ và Israel là làm suy yếu khả năng phát triển vũ khí hạt nhân của Iran. Tuy nhiên, các cuộc tấn công này có thể khiến Tehran cảm thấy bị đe dọa và quyết định đẩy nhanh chương trình hạt nhân.
“Điều tôi lo ngại là cuộc chiến này sẽ không ngăn Iran sở hữu bom hạt nhân, mà ngược lại có thể thúc đẩy họ tăng tốc kế hoạch đó”, ông Citrinowicz nhận định.
Theo chuyên gia này, Iran hiện đứng trước hai lựa chọn: từ bỏ hoàn toàn chương trình hạt nhân hoặc tăng tốc tiến tới chế tạo bom hạt nhân. Trong bối cảnh bị tấn công quân sự và chịu áp lực lớn, khả năng Iran chọn phương án thứ hai là rất đáng lo ngại.
Đàm phán hạt nhân thất bại vì thiếu lòng tin
Ông Citrinowicz cho rằng các cuộc đàm phán hạt nhân giữa Mỹ và Iran trước khi chiến tranh bùng phát đã thất bại do hai bên thiếu lòng tin và hiểu sai ý định của nhau.
Trong các cuộc thương lượng, Iran vẫn khẳng định quyền làm giàu urani, song từng đề xuất không tích trữ lượng urani được làm giàu. Theo ông Citrinowicz, đề xuất này có thể giúp ngăn Iran tiến tới chế tạo vũ khí hạt nhân, đồng thời cho phép Tehran duy trì chương trình hạt nhân dân sự.
“Nếu Mỹ và Israel muốn ngăn Iran chế tạo bom hạt nhân, và đó thực sự là điều mà phía Iran đã đề nghị, thì kiểu thỏa thuận này không phải là một lựa chọn tồi”, ông Citrinowicz nói, lưu ý rằng nó cũng sẽ bao gồm một chế độ thanh tra, vì vậy mọi việc sẽ không chỉ đơn thuần dựa vào việc tin tưởng Tehran.
Tuy nhiên, Mỹ cho rằng việc nới lỏng trừng phạt để đổi lấy thỏa thuận như vậy sẽ giúp củng cố chính quyền Iran.
“Thỏa thuận có thể ngăn Iran chế tạo bom, nhưng lại củng cố chính quyền của họ. Trong khi hành động quân sự có thể làm suy yếu chế độ, nhưng lại khiến họ quyết tâm hơn trong việc sở hữu vũ khí hạt nhân”, ông Citrinowicz nói. Chuyên gia Israel cũng cho rằng, rất khó để giải quyết tình huống tiến thoái lưỡng nan như vậy do lòng tin giữa 2 bên ở mức rất thấp.
“Phía Iran đã đồng ý đàm phán 2 lần và cả 2 lần Mỹ và Israel đều tấn công họ. Vì vậy tôi không nghĩ chúng ta sẽ lại thấy tiến trình hòa giải do Oman làm trung gian trong thời gian tới”, ông Citrinowicz nói, đề cập đến cuộc đàm phán Mỹ-Iran năm 2025 diễn ra trước cuộc chiến 12 ngày hồi tháng 6/2025 cũng như cuộc đàm phán trước cuộc tấn công ngày 28/2 vừa qua.
Kho urani làm giàu cao - vấn đề then chốt
Theo ông Citrinowicz, một trong những yếu tố quyết định đối với mục tiêu ngăn chặn Iran phát triển vũ khí hạt nhân là số urani làm giàu cao mà Tehran đang nắm giữ.
Các đánh giá cho thấy Iran đang lưu trữ khoảng 440 kg urani làm giàu cao tại một cơ sở hạt nhân ở Isfahan. Đây là lượng vật liệu đã trải qua phần lớn các bước cần thiết để có thể nâng lên cấp độ sử dụng cho vũ khí.
“Nếu cuộc chiến nhằm ngăn Iran chế tạo bom hạt nhân nhưng số urani này không bị thu giữ hoặc kiểm soát, thì không thể nói đã đạt được thành công chiến lược”, ông Citrinowicz nhận định.
Ông Citrinowicz cho rằng Mỹ và Israel có ưu thế quân sự không thể phủ nhận so với Iran, nhưng việc thu giữ lượng urani nói trên sẽ cực kỳ khó khăn về mặt quân sự, bởi nó được cất giữ sâu dưới lòng đất và được bảo vệ chặt chẽ. Ngay cả khi kho urani này bị thu giữ, Iran vẫn còn lượng urani làm giàu ở mức thấp hơn, cùng với kiến thức và công nghệ để tiếp tục chương trình hạt nhân trong tương lai.
Khó đạt được chiến thắng chiến lược
Theo ông Citrinowicz, rất khó dự đoán diễn biến của cuộc chiến hiện nay, nhưng ông cho rằng kịch bản khả thi nhất – nếu không có diễn biến kịch tính nào khác – là Tổng thống Mỹ Donald Trump sẽ đơn phương tuyên bố chiến thắng. Dù vậy, ngay cả khi Mỹ và Israel tuyên bố chiến thắng quân sự, điều đó cũng không đồng nghĩa với việc chương trình hạt nhân Iran bị xóa bỏ hoàn toàn.
“Nếu chiến tranh kết thúc ngay lúc này, có thể sẽ có những thành công về mặt tác chiến, nhưng chúng có thể bị xói mòn theo thời gian nếu Iran tiếp tục tái thiết chương trình hạt nhân”, ông Citrinowicz nói. Theo ông, không bên nào có thể thực sự tuyên bố chiến thắng hoàn toàn trong cuộc xung đột hiện nay.
Chuyên gia Israel cũng cho rằng Iran khó chấp nhận một lệnh ngừng bắn đơn phương nếu không có các đảm bảo an ninh, bởi Tehran muốn tránh tình huống bị tấn công lặp lại trong tương lai.
“Người Iran không muốn một cuộc chiến kéo dài, nhưng họ muốn tạo ra một thực tế mới để Mỹ và Israel không thể tấn công họ vài tháng một lần”, ông Citrinowicz nhận định.
Theo ông, việc chỉ dựa vào biện pháp quân sự có thể không đủ để giải quyết vấn đề hạt nhân Iran, đã đến lúc Mỹ và Israel cần cân nhắc những giải pháp khác mang tính lâu dài hơn.
VietBF@ sưu tập
|
|
0 Replies | 134 Views |
Mar 14, 2026 - 9:10 AM - by pizza
|
Tàu khu trục Mỹ phóng tên lửa “quý như vàng” hạ gục tên lửa Iran trên không phận NATO
New Tab ↗
|
Tàu khu trục USS Oscar Austin của Mỹ đã phóng tên lửa SM-3 đánh chặn tên lửa đạn đạo Iran trên bầu trời Thổ Nhĩ Kỳ. Loại tên lửa phòng thủ này có giá vô cùng đắt đỏ.

Hải quân Mỹ đã sử dụng tên lửa SM-3 ba lần để bảo vệ không phận Thổ Nhĩ Kỳ trong hai tuần qua.
Các tàu khu trục của Hải quân Mỹ hoạt động tại phía đông Địa Trung Hải đã phóng tên lửa đánh chặn SM-3 (Standard Missile-3) – một trong những hệ thống đánh chặn hiện đại và đắt đỏ nhất của Mỹ – để bảo vệ không phận NATO trước các tên lửa đạn đạo từ Iran.
Hôm 13/3, tàu khu trục lớp Arleigh Burke USS Oscar Austin đã phóng ít nhất một tên lửa đánh chặn SM-3 để bắn hạ một tên lửa đạn đạo của Iran trong không phận Thổ Nhĩ Kỳ, một quan chức quốc phòng nói với hãng Business Insider.
Theo vị quan chức này, đây là lần thứ ba kể từ ngày 28/2 – khi Mỹ và Israel bắt đầu tấn công Iran – một tàu khu trục của Hải quân Mỹ sử dụng SM-3 để bắn hạ tên lửa Iran trong không phận Thổ Nhĩ Kỳ. Quan chức này yêu cầu giấu tên để thảo luận về các diễn biến quân sự.
Trước đó, Bộ Quốc phòng Thổ Nhĩ Kỳ cho biết các hệ thống phòng không và phòng thủ tên lửa của NATO triển khai tại phía đông Địa Trung Hải đã đánh chặn tên lửa Iran. Không có thương vong, mặc dù mảnh vỡ rơi xuống thành phố Gaziantep ở miền Nam Thổ Nhĩ Kỳ.
Thổ Nhĩ Kỳ là nơi đặt nhiều căn cứ quan trọng của Mỹ và NATO, bao gồm các căn cứ không quân Incirlik và Konya. Một cuộc tấn công của Iran vào các cơ sở này có thể kích hoạt sự leo thang nghiêm trọng trong cuộc chiến đã lan rộng khắp Trung Đông.
Hiện USS Oscar Austin là một trong ba tàu khu trục Mỹ đang triển khai tại phía đông Địa Trung Hải. Việc sử dụng tên lửa SM-3 diễn ra trong bối cảnh các chiến dịch phòng không rộng lớn trên khắp Trung Đông. Mỹ và các đồng minh trong khu vực đã bắn hạ hàng nghìn tên lửa và máy bay không người lái của Iran kể từ khi chiến dịch “Epic Fury” bắt đầu cách đây chưa đầy hai tuần.
Tên lửa SM-3 sử dụng phương tiện tiêu diệt động năng (kinetic kill vehicle) để phá hủy các tên lửa tầm ngắn đến tầm trung trong giai đoạn giữa hành trình của chuyến bay. Khác với nhiều hệ thống đánh chặn khác của Hải quân Mỹ, SM-3 có thể tiêu diệt mục tiêu ngoài không gian.
Loại tên lửa này được trang bị trên các tàu khu trục lớp Arleigh Burke và tuần dương hạm lớp Ticonderoga.
Có nhiều biến thể SM-3, được sản xuất bởi tập đoàn quốc phòng Mỹ RTX Corporation và – đối với biến thể mới nhất – bởi Mitsubishi Heavy Industries của Nhật Bản.
Các tàu khu trục Mỹ lần đầu tiên sử dụng SM-3 trong chiến đấu vào tháng 4/2024 để bảo vệ Israel trước một cuộc tấn công tên lửa của Iran. Hải quân Mỹ tiếp tục phóng loại tên lửa này vào tháng 10 cùng năm sau một đợt tấn công khác từ Tehran.
Tuy nhiên, các tên lửa đánh chặn này không hề rẻ. Biến thể SM-3 Block IB được ước tính có giá khoảng 10 triệu USD mỗi quả, trong khi phiên bản mới hơn SM-3 Block IIA có giá khoảng 28 triệu USD.
Hiện vẫn chưa rõ Hải quân Mỹ đã sử dụng bao nhiêu tên lửa SM-3 trong các trận đánh tại Trung Đông. Theo học thuyết phòng thủ tên lửa, quân đội thường phải phóng ít nhất 2 tên lửa đánh chặn cho mỗi mục tiêu, do đó chi phí cho các vụ đánh chặn mới nhất trên bầu trời Thổ Nhĩ Kỳ có thể đã rất lớn.
Trong những năm gần đây, lãnh đạo Hải quân Mỹ đã cảnh báo rằng nước này đang tiêu thụ tên lửa SM-3 với tốc độ đáng báo động. Các quan chức quân sự cho biết Mỹ cần nhiều tên lửa đánh chặn hơn nữa để đối phó các mối đe dọa ở Thái Bình Dương, đặc biệt là từ Trung Quốc và kho tên lửa đạn đạo của nước này.
VietBF@ sưu tập
|
|
0 Replies | 129 Views |
Mar 14, 2026 - 9:15 AM - by pizza
|
80 năm dưới đáy biển: Mỹ tìm lại hài cốt binh sĩ Thế chiến II trên “tàu địa ngục” Nhật Bản
New Tab ↗
|
Lầu Năm Góc triển khai chiến dịch trục vớt lớn nhất nhằm tìm lại hài cốt binh sĩ Mỹ trên tàu Oryoku Maru bị chìm năm 1944 ở vịnh Subic.

Lầu Năm Góc đã triển khai một trong những chiến dịch trục vớt dưới nước lớn nhất từ trước đến nay nhằm tìm lại hài cốt binh sĩ Mỹ từ con tàu Oryoku Maru, bị đánh chìm tại vịnh Subic năm 1944.
Họ đã sống sót sau sự sụp đổ của Bataan, chịu đựng nhiều năm bị quân đội Nhật giam cầm, rồi bị dồn chật cứng trong khoang tàu ngột ngạt của một con tàu vận tải đang trên đường đưa họ sang Nhật để lao động cưỡng bức. Nhưng sau đó, bom của Mỹ đã đánh trúng con tàu. Suốt 80 năm qua, có tới khoảng 250 người trong số họ vẫn nằm lại dưới đáy vịnh Subic ở Philippines.
Giờ đây, Lầu Năm Góc đang quay lại để đưa họ trở về.
Tháng 2 vừa qua, Cơ quan Kiểm kê Tù binh và Quân nhân Mất tích thuộc Bộ Quốc phòng Mỹ (DPAA) đã khởi động một chiến dịch mà họ gọi là một trong những nỗ lực trục vớt lớn nhất và phức tạp nhất từ trước tới nay. Chiến dịch do DPAA dẫn đầu, phối hợp cùng Hải quân Mỹ và chính phủ Philippines. Các quan chức cho biết nhiệm vụ này cũng thể hiện mối liên minh chặt chẽ giữa Mỹ và Philippines, cùng cam kết chung trong việc xác định số phận các quân nhân còn mất tích.
“Nhà ngục nổi”
Ban đầu, Oryoku Maru là một tàu chở khách dân sự. Sau vụ tấn công Trân Châu Cảng, tàu bị hải quân Nhật trưng dụng và biến thành một trong những “tàu địa ngục” khét tiếng trong chiến tranh - những tàu chở hàng bị nhồi nhét quá tải để vận chuyển tù binh Đồng minh tới các trại lao động.
Theo Bộ Chỉ huy Lịch sử và Di sản Hải quân Mỹ, điều kiện trên tàu vô cùng khắc nghiệt. Các khoang tàu chẳng khác gì những nhà ngục nổi, nơi tù binh gần như không có không khí, không gian hay ánh sáng; họ cũng bị thiếu nhà vệ sinh, thức ăn và nước uống.
Ngày 13/12/1944, lính canh Nhật Bản đã dồn 1.619 tù binh chiến tranh - phần lớn là những người sống sót sau Cuộc hành quân tử thần Bataan - xuống các khoang tàu chật chội, không thông gió khi con tàu rời cảng Manila để hướng tới Nhật Bản.
Hai ngày sau, các máy bay ném bom bổ nhào của Hải quân Mỹ từ tàu sân bay USS Hornet và USS Cabot đã tấn công con tàu tại vịnh Subic, mà không hề biết trên tàu có tù binh.
Khoảng 286 tù binh được ghi nhận đã thiệt mạng hoặc mất tích. Khoảng 1.000 người sống sót bơi được vào bờ, nhưng rất ít người vượt qua được những gì xảy ra sau đó - thêm những “tàu địa ngục”, thêm các trại giam, và thêm nhiều trận bom.
Khi chiến tranh kết thúc, chính quyền Mỹ chỉ xác nhận được 128 người sống sót.
Chiến dịch trục vớt đầy thách thức
Xác tàu nằm cách bờ khoảng 550 yard (gần 500 m), ở độ sâu tối đa khoảng 90 feet (khoảng 27 m). Tuy không quá sâu, việc tiếp cận lại rất khó khăn.
Tầm nhìn dưới nước kém do gần cửa một con sông, cộng với việc xác tàu từng bị đánh nổ có chủ ý cách đây nhiều thập kỷ để đảm bảo an toàn cho các tàu thương mại đi qua, đã khiến nơi này trở thành một khối thép rối rắm mà các thợ lặn phải di chuyển hết sức cẩn trọng.
“Chiến dịch này thể hiện cam kết trang nghiêm của chúng tôi trong việc mang lại lời giải đáp đầy đủ nhất có thể cho các gia đình và cho đất nước”, Đại úy Barrett Breland của Lục quân Mỹ, trưởng nhóm nhiệm vụ, cho biết.
“Chúng tôi thực hiện trách nhiệm này với lòng trắc ẩn và sự chính trực. Thành công của nhiệm vụ phụ thuộc vào sự hợp tác chặt chẽ và sự tôn trọng tuyệt đối dành cho những người đã ngã xuống”.
Một đội gồm 15 thợ lặn chuyên môn, làm việc trên tàu cứu hộ USNS Salvor, đã bắt đầu giai đoạn đầu của chiến dịch vào tháng Hai. Hoạt động dự kiến kéo dài đến tháng Tư, nhưng toàn bộ nỗ lực trục vớt có thể mất nhiều năm.
Hành trình tìm lại những người mất tích
Chiến dịch này là một phần trong nỗ lực rộng lớn của Mỹ nhằm tìm kiếm hơn 81.000 quân nhân vẫn còn mất tích từ Thế chiến thứ hai.
Đối với những gia đình đã chờ đợi suốt nhiều thập kỷ, đây không chỉ là một nhiệm vụ mang tính lịch sử. Sau 80 năm, nó có thể là khởi đầu cho câu trả lời mà họ đã chờ đợi quá lâu.
VietBF@ sưu tập
|
|
0 Replies | 116 Views |
Mar 14, 2026 - 9:19 AM - by pizza
|
Đầu đạn phân mảnh từ tên lửa đạn đạo Iran dội xuống Israel: Thách thức mới với Mỹ và Israel
New Tab ↗
|
Video từ phi công Israel cho thấy tên lửa đạn đạo Iran thả nhiều đầu đạn khi tấn công. Công nghệ mới của Tehran đang gây thách thức lớn cho hệ thống phòng thủ Mỹ và Israel.

Phi công Israel quay lại cảnh các đầu đạn con từ tên lửa đa đầu đạn của Iran rơi xuống Israel. Ảnh: MW.
Đoạn video do một phi công chiến đấu Israel công bố khi bay qua không phận nước mình trong chiến dịch không kích đang diễn ra nhằm vào Iran đã ghi lại rõ ràng cảnh một tên lửa đạn đạo Iran thả các đầu đạn con trong lúc tấn công Israel.
Dù trước đây từng xuất hiện một số hình ảnh về tên lửa thả đầu đạn con, đoạn video lần này đặc biệt rõ nét, cho thấy những bước tiến trong công nghệ tên lửa của Iran đang tạo ra thách thức mới cho hệ thống phòng thủ tên lửa của Israel và Mỹ.
Trong khi các loại tên lửa đạn đạo Iran đời cũ như Shahab-3, được đưa vào biên chế từ thập niên 1990 sau khi nhận chuyển giao công nghệ từ Triều Tiên, chỉ mang một đầu đạn, thì các dòng tên lửa mới ngày càng phổ biến việc tích hợp nhiều phương tiện tái nhập khí quyển (multiple reentry vehicles).
Những loại tên lửa hạng nặng hơn như Khorramshahr-4 có thể mang số lượng đầu đạn đặc biệt lớn.
Việc mang theo các đầu đạn con mang lại nhiều lợi thế. Nó cho phép tên lửa Iran áp đảo hệ thống phòng thủ tên lửa vốn đã bị quá tải của Israel và Mỹ, đồng thời tấn công các mục tiêu trên phạm vi rộng hơn.
Những loại tên lửa này chỉ được sử dụng với số lượng hạn chế khi Iran tiến hành các đợt tấn công nhỏ hơn nhằm vào Israel vào tháng 6/2025, nhưng trong các cuộc giao tranh hiện nay bắt đầu từ 28/2, chúng đã được ghi nhận xuất hiện thường xuyên hơn nhiều.
Tuy vậy, các tên lửa Iran mang phương tiện lướt siêu vượt âm (hypersonic glide vehicle) – cụ thể là Fattah-2 – hiện chỉ có thể mang một phương tiện duy nhất.
Iran vẫn chưa phát triển được loại tên lửa tương tự mẫu mới của Nga là Oreshnik, có khả năng mang nhiều phương tiện lướt siêu vượt âm và tấn công nhiều mục tiêu khác nhau bằng các đầu đạn có thể tái định mục tiêu độc lập (MIRV).
Đây nhiều khả năng sẽ là bước phát triển tiếp theo của ngành công nghiệp quốc phòng Iran, có thể được thực hiện với sự hợp tác của Triều Tiên, nếu cuộc chiến hiện tại kết thúc mà không dẫn tới thất bại hoàn toàn của Iran.
Israel đã áp đặt chế độ kiểm duyệt cực kỳ nghiêm ngặt đối với việc ghi hình thiệt hại do các cuộc tấn công bằng tên lửa đạn đạo gây ra trên lãnh thổ nước này. Trong quá khứ, quân đội Israel thậm chí từng gây nhiễu các vệ tinh thương mại để ngăn chúng quan sát các căn cứ không quân sau khi xuất hiện các cáo buộc rằng những cuộc tấn công của Iran đã gây thiệt hại lớn.
Tuy vậy, các nhà báo có mặt tại hiện trường cho biết các cuộc tấn công bằng tên lửa của Iran đã gây thiệt hại trên diện rộng tại nhiều thành phố lớn.
Những tên lửa có khả năng xuyên phá mạnh, bao gồm cả các loại mang phương tiện lướt siêu vượt âm, đã có thể phá hủy các hầm trú ẩn và boongke ngầm kiên cố, vốn được lực lượng vũ trang cũng như người dân Israel sử dụng rất nhiều.
Tình trạng thiếu hụt tên lửa đánh chặn chống tên lửa đạn đạo, cùng với việc không thể gây thiệt hại đáng kể cho kho tên lửa đạn đạo của Iran trên mặt đất, đã trở thành những thách thức lớn đối với nỗ lực chiến tranh của Mỹ và Israel.
Mỹ thậm chí đã phải rút các hệ thống phòng thủ tên lửa từ nhiều khu vực trên thế giới, bao gồm cả các hệ thống THAAD được triển khai tại Hàn Quốc, để tăng cường phòng thủ cho Israel.
Ngoài Israel, các cuộc tấn công bằng tên lửa đạn đạo của Iran được cho là đã đánh trúng ít nhất 17 cơ sở quân sự của Mỹ trên khắp Trung Đông.
Việc không thể ngăn chặn hoàn toàn thiệt hại do các cuộc tấn công tên lửa gây ra được cho là một trong những yếu tố chính khiến Mỹ phải tìm cách thúc đẩy một lệnh ngừng bắn.
Ngay sau khi Mỹ và Israel mở màn chiến dịch quân sự, Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) đã phá hủy radar cảnh báo sớm AN/FPS-132 duy nhất của Mỹ được triển khai bên ngoài lãnh thổ nước này, đặt tại Qatar.
Iran cũng phá hủy hai radar AN/TPY-2 thuộc hệ thống THAAD tại Jordan và UAE, cùng nhiều hệ thống radar có giá trị thấp hơn.
Điều này khiến Israel cùng các đơn vị Lục quân và Hải quân Mỹ đang bảo vệ lãnh thổ Israel phải phụ thuộc rất nhiều vào dữ liệu cảnh báo sớm hạn chế từ các radar tại Thổ Nhĩ Kỳ, cũng như từ các máy bay cảnh báo sớm E-3 AWACS của Không quân Mỹ đang bay tuần tra trên khu vực.
Việc phá hủy mạng lưới radar mặt đất bên ngoài Thổ Nhĩ Kỳ và Israel được cho là đã tăng hiệu quả đáng kể cho các cuộc tấn công của Iran, khi rút ngắn thời gian để binh sĩ và dân thường Israel tìm nơi trú ẩn.
VietBF@ sưu tập
|
|
0 Replies | 116 Views |
Mar 14, 2026 - 9:23 AM - by pizza
|
Mỹ treo thưởng lớn để truy bắt các tướng lĩnh Iran, gây chia rẽ nội bộ
New Tab ↗
|
Bằng cách treo thưởng lớn, Mỹ gửi tới các lãnh đạo Iran thông điệp mạnh mẽ rằng họ có thể bị truy lùng toàn cầu, đồng thời củng cố cáo buộc IRGC là tổ chức khủng bố.

Bộ Ngoại giao Mỹ thông báo treo thưởng 10 triệu USD để bắt giữ 6 quan chức và 4 chỉ huy Lực lượng Vệ binh cách mạng Hồi giáo Iran. Ảnh: Dongfang.
Bộ Ngoại giao Mỹ đã treo thưởng số tiền lớn để truy bắt các lãnh đạo Iran và quan chức quân sự cấp cao.
Xung đột ở Trung Đông vẫn tiếp diễn. Ngày 13/3 theo giờ địa phương, Bộ Ngoại giao Mỹ tuyên bố treo thưởng 10 triệu USD để truy bắt 10 lãnh đạo và quan chức quân sự cấp cao của Iran, trong đó có tân lãnh tụ tối cao Mujtaba Khamenei và Thư ký Hội đồng An ninh Quốc gia Tối cao Ali Larijani.
Ngoài ra, trong danh sách các quan chức, tướng lĩnh Iran bị truy nã còn có 4 sĩ quan cấp cao của Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) nhưng không được nêu tên tuổi cụ thể; bao gồm: Thư ký Hội đồng Quốc phòng, cố vấn của lãnh tụ tối cao, Giám đốc quân sự của Văn phòng Lãnh tụ Tối cao và Chỉ huy của IRGC.
Bộ Ngoại giao Mỹ cho biết những người bị truy nã này trực tiếp chỉ huy Lực lượng Vệ binh Cách mạng Iran, lực lượng mà Mỹ cáo buộc đã “lên kế hoạch, tổ chức và thực hiện các hoạt động khủng bố trên toàn cầu”.
Việc treo thưởng này nằm trong chương trình “Rewards for Justice Program” (Chương trình khen thưởng vì công lý), là chương trình treo thưởng của Bộ Ngoại giao Mỹ nhằm khuyến khích người dân trên toàn thế giới cung cấp thông tin về khủng bố quốc tế, tội phạm an ninh và các mối đe dọa đối với Mỹ
Mục tiêu của việc treo thưởng lần này nhằm khuyến khích người trong nội bộ Iran cung cấp thông tin xác định vị trí lãnh đạo và tướng lĩnh IRGC, phá vỡ mạng lưới chỉ huy của Lực lượng vũ trang Iran.
Chiến thuật này từng được Mỹ dùng trong chiến tranh Iraq (2003), truy lùng lãnh đạo al-Qaeda và truy tìm các hacker và khủng bố quốc tế.
Giới quan sát cho rằng, ngoài mục tiêu tình báo, động thái này của Mỹ còn có các ý nghĩa như gây chia rẽ nội bộ Iran nếu có người tiết lộ thông tin để lấy tiền hoặc tị nạn và tạo áp lực chính trị. Ngoài ra Mỹ muốn gửi thông điệp rằng các lãnh đạo Iran không an toàn, họ có thể bị truy tìm trên toàn cầu; tuyên truyền quốc tế, Mỹ muốn củng cố lập luận rằng IRGC là tổ chức khủng bố.
VietBF@ sưu tập
|
|
0 Replies | 129 Views |
Mar 14, 2026 - 9:28 AM - by pizza
|
Mỹ tổng không kích Kharg, dọn đường cho khả năng đổ bộ, Iran đứng trước kịch bản “đốt đảo” nếu thất thủ
New Tab ↗
|
Trong lịch sử chiến tranh hiện đại, nhiều trận đánh quyết định không nằm ở những thành phố lớn, mà ở những hòn đảo nhỏ – nơi giữ mạch máu kinh tế của cả một quốc gia. Đảo Kharg ngoài khơi Iran chính là một nơi như thế. Chỉ dài khoảng tám cây số, nhưng lại là cửa ngõ xuất khẩu phần lớn dầu thô của Iran ra thế giới. Vì vậy, khi Washington bắt đầu nói tới khả năng tấn công và vô hiệu hóa các cơ sở quân sự trên đảo này, giới quan sát quân sự lập tức đặt câu hỏi: liệu Hoa Kỳ có tiến thêm một bước – đổ bộ chiếm đảo Kharg?
Trump tuyên bố không kích đảo Kharg – bước dọn đường cho một chiến dịch lớn hơn?
Ngày 13-3, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump bất ngờ công bố rằng không quân Mỹ đã tiến hành các cuộc không kích vào những mục tiêu quân sự trên đảo Kharg, bao gồm các cơ sở phòng không, trạm radar và một số vị trí quân sự được cho là thuộc lực lượng Vệ binh Cách mạng Iran. Theo lời ông Trump, chiến dịch này nhằm “loại bỏ những mối đe dọa đối với lực lượng Mỹ và bảo vệ tự do hàng hải trong khu vực”. Tuy nhiên, giới phân tích quân sự cho rằng các cuộc tấn công này còn mang một ý nghĩa khác: dọn đường cho khả năng đổ bộ sau đó. Việc phá hủy hệ thống phòng không và làm tê liệt các căn cứ quân sự trên đảo sẽ khiến Kharg trở nên dễ bị tổn thương trước một chiến dịch đổ bộ của Thủy quân lục chiến Mỹ trong tương lai gần. Nói cách khác, cuộc không kích ngày 13-3 có thể chỉ là màn mở đầu cho một ván cờ lớn hơn, nơi hòn đảo dầu mỏ giữa vịnh Ba Tư trở thành mục tiêu chiến lược tiếp theo.
Tàu USS Tripoli và lực lượng đổ bộ đang trên đường

Theo các nguồn tin quân sự, nhóm tàu đổ bộ của Mỹ với tàu chủ lực là USS Tripoli đang được điều động tới vùng Vịnh. Đây là tàu tấn công đổ bộ lớp America của Hải quân Hoa Kỳ, có khả năng mang theo hàng nghìn lính Thủy quân lục chiến, trực thăng tấn công, máy bay F-35B và các phương tiện đổ bộ tốc độ cao.

Nếu lực lượng này xuất phát từ xa, việc di chuyển và tập kết lực lượng có thể mất khoảng 10 đến 20 ngày trước khi sẵn sàng cho một chiến dịch đổ bộ thực sự.

Trong thành phần thủy thủ và lính trên tàu, theo truyền thống lâu năm của quân đội Mỹ, có không ít quân nhân gốc Việt phục vụ. Ước tính hơn mười người lính Mỹ gốc Việt có thể đang ở trên con tàu này – thuộc cả Hải quân và Thủy quân lục chiến. Họ là thế hệ con cháu của cộng đồng người Việt tại California, Texas và nhiều tiểu bang khác, những người đã chọn con đường quân ngũ để phục vụ quốc gia.

Nếu chiến dịch đổ bộ diễn ra, họ có thể là một phần của lực lượng đầu tiên tiến vào đảo Kharg – một nhiệm vụ nguy hiểm nhưng mang ý nghĩa chiến lược rất lớn.

“Lính chiến không hỏi nơi mình tới là đâu, chỉ biết khi quốc gia gọi thì lên đường.” Câu nói ấy dường như đúng với những người lính trẻ mang hai dòng máu Việt – Mỹ.
Vì sao đảo Kharg quan trọng đến vậy?
Đảo Kharg nằm trong vịnh Ba Tư, cách bờ biển Iran khoảng 25 km. Đây là trung tâm xuất khẩu dầu lớn nhất của Iran, nơi phần lớn dầu thô từ các mỏ ở miền tây nam được dẫn qua hệ thống đường ống ra các bến cảng trên đảo.

Nhiều báo cáo năng lượng cho biết tới 85–90% dầu xuất khẩu của Iran đi qua Kharg. Vì vậy, trong chiến lược quân sự, Kharg được xem như “van khóa kinh tế” của Iran.

Nếu đảo này bị chiếm hoặc bị vô hiệu hóa lâu dài, Iran sẽ mất nguồn thu ngoại tệ quan trọng nhất – vốn là nền tảng để duy trì ngân sách nhà nước, nhập khẩu hàng hóa và chi trả cho bộ máy quân sự.

Nói cách khác, đánh vào Kharg giống như “đánh vào tim kinh tế”.
Phòng thủ của Iran trên đảo Kharg: mạnh ở chỗ “giữ cửa”, yếu ở chỗ khó chịu đòn lâu
Nhìn vào các mục tiêu mà Mỹ vừa đánh trúng trên đảo Kharg, có thể phác ra khá rõ bộ khung phòng thủ của Iran tại đây: đảo này không chỉ là một bến dầu, mà còn có hệ thống phòng không, căn cứ hải quân, tháp kiểm soát sân bay và hạ tầng trực thăng phục vụ cả mục tiêu quân sự lẫn bảo vệ hoạt động dầu khí. Reuters xác nhận Kharg là đầu mối xuất khẩu dầu lớn nhất của Iran, còn AP và Wall Street Journal dẫn thông tin từ phía Iran cho biết các đòn đánh của Mỹ đã nhắm vào trận địa phòng không, căn cứ hải quân, tháp điều khiển sân bay và nhà chứa trực thăng trên đảo.

Điều đó cho thấy lực lượng phòng thủ Kharg có lẽ được tổ chức theo kiểu phòng thủ điểm trọng yếu: không cần một quân số quá lớn, nhưng phải có đủ mắt thần, pháo chắn và lực lượng phản ứng nhanh để giữ cho đảo không bị tập kích bất ngờ. Điểm mạnh của mô hình này là Iran có thể dùng Kharg như một “pháo đài bảo vệ cảng dầu”, kết hợp phòng không tầm gần, đơn vị hải quân đồn trú và phương tiện trực thăng để tuần tra, chuyển quân hoặc ứng cứu các cơ sở ngoài khơi. Nhưng điểm yếu cũng rất rõ: đây là một hòn đảo nhỏ, cách bờ biển Iran khoảng 26 km, nên khi đối phương khống chế được bầu trời và vùng biển chung quanh thì lực lượng trên đảo sẽ dễ bị cô lập.

Nói ngắn gọn, Kharg phòng thủ tốt trước các đòn quấy phá nhỏ, nhưng khó trụ lâu trước một chiến dịch không–hải quy mô lớn. Nếu Mỹ tiếp tục đánh theo trình tự “mù mắt radar, bẻ gãy phòng không, chặn cảng, cắt tiếp viện”, thì lực lượng Iran trên đảo sẽ buộc phải dựa vào phản kích từ đất liền, tên lửa bờ biển, xuồng cao tốc và UAV nhiều hơn là sức tự giữ của riêng đồn trú Kharg. Chính vì vậy, đòn không kích vừa rồi có ý nghĩa rất quan trọng: nó không chỉ phá vài mục tiêu quân sự, mà còn thử luôn câu hỏi lớn hơn — Iran còn giữ được Kharg đến đâu nếu chiến sự leo thang thêm một nấc nữa?
Kịch bản đổ bộ có thể diễn ra như thế nào?
Trong học thuyết chiến tranh đổ bộ của Mỹ, một chiến dịch chiếm đảo thường diễn ra theo ba bước.
Bước đầu tiên là không kích và phá hủy phòng không. Các radar, bệ tên lửa và căn cứ quân sự trên đảo sẽ bị đánh phá để làm tê liệt khả năng phòng thủ.
Bước thứ hai là phong tỏa khu vực xung quanh đảo bằng tàu chiến và máy bay. Điều này nhằm ngăn lực lượng Iran tiếp viện từ đất liền.
Bước thứ ba mới là đổ bộ bằng trực thăng và phương tiện đổ bộ. Lính Thủy quân lục chiến sẽ chiếm sân bay, bến cảng và các cơ sở dầu mỏ quan trọng.

Vì Kharg là một hòn đảo nhỏ, một số chuyên gia cho rằng nếu phòng thủ Iran suy yếu, toàn bộ đảo có thể bị kiểm soát chỉ trong 24 đến 48 giờ.
Iran sẽ phản kháng ra sao?
Tuy nhiên, chiếm đảo Kharg không phải là nhiệm vụ dễ dàng.
Iran có nhiều phương tiện để phản công:
– xuồng tấn công nhanh của lực lượng Vệ binh Cách mạng
– tên lửa chống hạm đặt dọc bờ biển
– máy bay không người lái
– thủy lôi trên vùng biển xung quanh đảo

Các xuồng cao tốc của Iran từng được thiết kế cho chiến thuật “bầy đàn”, lao vào tàu chiến hoặc tàu vận tải của đối phương với tốc độ cao. Chỉ cần một vài cuộc tấn công thành công cũng có thể gây thiệt hại nặng cho lực lượng đổ bộ.

Ngoài ra, Iran còn có thể tấn công các căn cứ Mỹ tại Iraq, Kuwait hay Qatar, đồng thời gây sức ép lên tuyến hàng hải tại eo biển Hormuz – nơi vận chuyển khoảng một phần năm lượng dầu của thế giới.

Nếu điều đó xảy ra, cuộc xung đột có thể lan rộng ra toàn khu vực Trung Đông.
Nếu Iran mất Kharg, kinh tế sẽ ra sao?
Trường hợp đảo Kharg bị chiếm hoặc bị phá hủy cơ sở hạ tầng, xuất khẩu dầu của Iran chắc chắn sẽ giảm mạnh.
Iran vẫn còn một vài con đường khác để xuất dầu, nhưng quy mô nhỏ hơn nhiều.

Một hướng là cảng Jask ở biển Oman, được xây dựng trong những năm gần đây nhằm tạo lối ra ngoài vịnh Ba Tư. Tuy nhiên công suất của cảng này hiện vẫn chưa thể thay thế hoàn toàn Kharg.
Một số đảo dầu nhỏ khác như Lavan hay Sirri cũng có khả năng xuất khẩu, nhưng năng lực hạn chế.

Iran có thể tìm cách vận chuyển dầu bằng đường bộ sang các nước láng giềng hoặc bán thông qua mạng lưới trung gian, song những phương thức đó chỉ mang tính tạm thời và không thể thay thế hệ thống xuất khẩu dầu quy mô lớn.
Nếu Kharg bị tê liệt lâu dài, nguồn thu dầu – vốn chiếm phần lớn ngân sách Iran – sẽ bị suy giảm nghiêm trọng.
Giả thiết “tự sát chiến lược”: nếu Iran thấy sắp mất Kharg, họ có thể tự tay đốt hòn đảo dầu mỏ này hay không?
Trong một kịch bản cực đoan, nếu Tehran tin rằng đảo Kharg sắp rơi vào tay đối phương và không còn khả năng giữ vững, Iran hoàn toàn có thể tính tới một phương án mang tính “tự sát chiến lược”: phá hủy chính những gì mình không muốn để lọt vào tay Mỹ. Giả thiết ấy không phải vô cớ, bởi Kharg hiện là đầu mối sống còn của dầu mỏ Iran, xử lý khoảng 90% lượng dầu thô xuất khẩu, có sức chứa cỡ 30 triệu thùng, và đầu tháng Ba được cho là đang chứa khoảng 18 triệu thùng. Nếu toàn bộ hệ thống bồn chứa, cầu cảng, đường ống, trạm bơm và hạ tầng kỹ thuật trên đảo bị châm lửa hoặc cho nổ đồng loạt, hậu quả sẽ không chỉ là một đám cháy lớn, mà có thể là một thảm họa năng lượng và môi trường cấp vùng: hàng triệu thùng dầu cháy dữ dội trong nhiều ngày, khói đen phủ kín vịnh Ba Tư, nước biển bị ô nhiễm nặng, bến cảng và thiết bị bốc dỡ bị phá hủy, khiến chính hòn đảo trở nên vô dụng với bất cứ lực lượng nào chiếm được nó. Reuters và AP đều cho biết Mỹ hiện mới đánh vào mục tiêu quân sự trên Kharg và vẫn chưa phá hạ tầng dầu mỏ; điều đó cho thấy bản thân phần dầu khí trên đảo là “con bài lớn” mà cả hai phía đều hiểu giá trị chiến lược của nó.

Nếu kịch bản ấy xảy ra, thiệt hại với Iran cũng sẽ vô cùng nặng nề, gần như theo kiểu “thà đập bỏ còn hơn để mất”. Iran có thể giữ được thế “không cho đối phương hưởng lợi ngay”, nhưng đổi lại sẽ tự cắt vào mạch máu kinh tế của mình. Vì Kharg là cảng nước sâu đặc biệt quan trọng, đủ sức tiếp nhận tàu dầu cỡ lớn mà bờ biển đất liền không dễ thay thế, nên việc đốt sạch đảo đồng nghĩa với việc Tehran tự bóp nghẹt nguồn thu ngoại tệ chủ lực trong ngắn hạn. Các lối thay thế như Jask ở biển Oman, hoặc những điểm nhỏ hơn như Lavan và Sirri, đều tồn tại nhưng khó lòng hấp thụ nhanh vai trò áp đảo của Kharg; Reuters cũng lưu ý rằng chỉ riêng việc Kharg bị đánh hỏng đã có thể lấy đi tới 2 triệu thùng/ngày khỏi thị trường toàn cầu. Nói cách khác, nếu Iran thực sự chọn phương án “đốt đảo”, thì đó sẽ là quyết định kiểu tiêu thổ chiến lược: làm Mỹ khó dùng đảo, nhưng đồng thời cũng tự biến một tài sản quốc gia thành biển lửa, đẩy nền kinh tế Iran vào cú sốc lớn hơn, và có thể khiến cả thị trường dầu thế giới chao đảo dữ dội.
|
|
1 Reply | 1,461 Views |
Mar 14, 2026 - 9:31 AM - by Gibbs
|
3 thói quen tưởng rất bình thường nhưng mang lại vận may cho gia đình, nhiều người làm mà không để ý
New Tab ↗
|
Những thay đổi nhỏ trong lối sống đôi khi lại tạo ra khác biệt lớn theo thời gian. Chỉ cần duy trì vài thói quen đơn giản trong sinh hoạt hàng ngày, nhiều người tin rằng vận may và cơ hội tài chính cũng dễ tìm đến hơn.
Vì sao những thói quen nhỏ mỗi ngày có thể ảnh hưởng đến tài lộc?
Trong cuộc sống, nhiều người cho rằng vận may và tài lộc không chỉ đến từ những quyết định lớn mà còn hình thành từ những thói quen nhỏ lặp lại mỗi ngày. Khi duy trì lối sống tích cực và ngăn nắp, con người thường cảm thấy thoải mái hơn trong suy nghĩ và dễ tập trung vào công việc, từ đó tạo điều kiện thuận lợi để nắm bắt cơ hội.
Một trong những thói quen được nhắc đến là giữ không gian sống gọn gàng và sạch sẽ. Môi trường sống ngăn nắp giúp tinh thần nhẹ nhàng, suy nghĩ rõ ràng hơn và làm việc hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, việc bắt đầu ngày mới sớm và có kế hoạch cụ thể cũng giúp mỗi người chủ động hơn trong công việc và cuộc sống.
Ngoài ra, quản lý tiền bạc và chi tiêu hợp lý là yếu tố quan trọng để xây dựng nền tảng tài chính ổn định. Khi hiểu rõ cách sử dụng tiền và duy trì những thói quen tích cực mỗi ngày, con người có thể dần cải thiện cuộc sống và tạo ra nhiều cơ hội tốt hơn cho tương lai.
VietBF@ sưu tập
|
|
0 Replies | 171 Views |
Mar 14, 2026 - 9:35 AM - by pizza
|
Ngôi làng rùng rợn khiến nhiều người sợ hãi ở Mỹ: Cư dân mất tích, người ở lại hóa điên
New Tab ↗
|
Từng là một cộng đồng nhỏ hình thành từ thế kỷ XVIII, nơi đây sau đó dần bị bỏ hoang và gắn liền với hàng loạt câu chuyện rùng rợn về lời nguyền của dòng họ Dudley.
Ngôi làng ma giữa rừng
Trong nhiều năm qua, những người yêu thích khám phá các địa điểm bí ẩn luôn bị cuốn hút bởi câu chuyện về một ngôi làng bị cho là “bị nguyền rủa” ở bang Connecticut (Mỹ), nơi cư dân từng biến mất một cách khó hiểu. Trải qua hàng thế kỷ, Dudleytown vẫn được nhắc đến như một vùng đất chất chứa những giai thoại tâm linh và các sự kiện kỳ lạ chưa có lời giải.
Lời nguyền gắn với dòng họ Dudley
Nằm ở khu vực hẻo lánh phía tây bắc Connecticut, dưới chân những dãy núi rậm rạp, Dudleytown ngày nay chỉ còn lại dấu tích của một cộng đồng nhỏ từng tồn tại trong quá khứ. Những ngôi nhà đã biến mất theo thời gian, nhưng vùng đất nơi ngôi làng tọa lạc vẫn còn đó, phủ đầy rừng cây và những câu chuyện truyền miệng.

Edmund Dudley được cho là khởi phát lời nguyền cho dòng họ.
Khu vực này ban đầu thuộc về Thomas Griffis – một trong những người định cư đầu tiên vào đầu thập niên 1740. Đến năm 1747, Gideon Dudley cùng hai người em trai chuyển tới sinh sống, từ đó cái tên Dudleytown ra đời. Nhiều câu chuyện dân gian cho rằng chính dòng họ Dudley đã mang theo một “lời nguyền” khiến ngôi làng về sau liên tiếp gặp tai ương.
Theo các giai thoại, nguồn gốc của lời nguyền bắt đầu từ nước Anh vào năm 1510, khi Edmund Dudley – một nhân vật có thế lực trong gia tộc – bị xử chém đầu vì liên quan đến âm mưu chống lại vua Henry VIII. Từ đó, người ta tin rằng dòng họ Dudley phải gánh chịu vận rủi kéo dài qua nhiều thế hệ.
Những biến cố trong gia đình Dudley càng khiến câu chuyện trở nên ly kỳ. Con trai Edmund là John Dudley từng cố giành quyền lực bằng cách sắp xếp cho con trai mình, Guilford Dudley, kết hôn với Công nương Jane Grey – người kế vị ngai vàng nước Anh.
Tuy nhiên, kế hoạch thất bại, Jane Grey cùng các thành viên gia đình Dudley bị xử tử. Sau đó, nhiều biến cố khác xảy ra khiến danh tiếng của dòng họ này gắn liền với những câu chuyện xui rủi.
Một số hậu duệ của gia tộc Dudley sau đó di cư sang Tân thế giới. Con cháu của họ cuối cùng định cư tại Connecticut và lập nên Dudleytown. Theo truyền thuyết, lời nguyền của dòng họ cũng theo họ đến vùng đất mới này.
Sự suy tàn bí ẩn của ngôi làng
Sau khi ba anh em nhà Dudley đến sinh sống, nhiều gia đình khác cũng chuyển tới và cộng đồng dần hình thành. Nhờ phát hiện quặng sắt và nguồn gỗ dồi dào, Dudleytown từng có giai đoạn phát triển khá ổn định, cung cấp than củi cho các lò luyện kim ở khu vực lân cận.
Tuy vậy, ngôi làng vẫn khá nhỏ bé. Nơi đây không có cửa hàng, trường học, nhà thờ hay nghĩa trang riêng. Người dân phải di chuyển đến các thị trấn lân cận để mua nhu yếu phẩm. Theo bản đồ năm 1854, thời điểm đông nhất Dudleytown cũng chỉ có khoảng 26 gia đình sinh sống.
screenshot-1773456985-1773457019.png  Làng Dudleytown hoang tàn nhuốm màu huyền bí.
Cùng với sự phát triển ngắn ngủi ấy, nhiều câu chuyện kỳ lạ bắt đầu xuất hiện. Một số cư dân được cho là rơi vào trạng thái mất trí nhớ, có người mất tích một cách bí ẩn. Abiel Dudley – một người có vị thế trong cộng đồng – được cho là đã mất hết tài sản và dần trở nên lú lẫn. Trong những năm cuối đời, ông thường lang thang và nói về “những sinh vật lạ trong rừng”.
Một người hàng xóm của ông là William Tanner cũng được kể lại là có những biểu hiện tương tự, thường nhắc đến các sinh vật kỳ lạ xuất hiện vào ban đêm.
Sau Nội chiến Mỹ, Dudleytown dần suy tàn khi nhiều gia đình rời đi. Đến đầu thế kỷ 20, bác sĩ William Clarke – một chuyên gia y khoa tại New York – mua lại hàng trăm hecta đất tại khu vực này, bao gồm cả Dudleytown, để xây dựng nơi nghỉ dưỡng mùa hè.
Vợ chồng ông sống yên bình tại đây cho đến năm 1918, khi một bi kịch xảy ra. Sau một chuyến công tác ngắn ngày trở về, Clarke phát hiện vợ mình rơi vào trạng thái hoảng loạn và mất kiểm soát tinh thần. Không lâu sau, bà qua đời trong hoàn cảnh bi thảm. Sự việc này càng khiến danh tiếng “bị nguyền rủa” của Dudleytown lan rộng.
Ngôi làng ma giữa rừng
Sau những biến cố liên tiếp, những cư dân cuối cùng cũng rời bỏ Dudleytown. Ngôi làng dần bị bỏ hoang, chỉ còn lại các bức tường đá, nền nhà cũ và những hố đất từng dùng làm hầm trữ thực phẩm.
Ngày nay, những con đường từng tấp nập chỉ còn là lối mòn xuyên qua rừng. Khu vực này gần như không thay đổi nhiều so với hàng trăm năm trước: rừng cây rậm rạp, núi non bao quanh và bầu không khí tĩnh lặng đầy bí ẩn.
Chính sự hoang vắng cùng những câu chuyện truyền miệng qua nhiều thế hệ đã khiến Dudleytown trở thành một trong những “ngôi làng ma” nổi tiếng nhất nước Mỹ, tiếp tục khơi gợi trí tò mò của những người yêu thích các hiện tượng huyền bí.
VietBF@ sưu tập
|
|
0 Replies | 623 Views |
Mar 14, 2026 - 9:41 AM - by pizza
|
Nữ y tá "tử thần" bị kết tội giết 7 trẻ sơ sinh và vụ án gây tranh cãi suốt nhiều năm
New Tab ↗
|
Lucy Letby, cựu y tá tại khoa chăm sóc trẻ sơ sinh của Bệnh viện Countess of Chester, bị kết án tù chung thân vì sát hại 7 trẻ sơ sinh và âm mưu làm hại 10 em khác. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia cho rằng vụ án vẫn còn gây tranh cãi khi các cáo buộc phần lớn dựa trên bằng chứng gián tiếp và suy luận chuyên môn.
Lucy Letby trở thành một trong những kẻ sát hại nhiều trẻ em nhất trong lịch sử Vương quốc Anh khi bị kết tội giết 7 trẻ sơ sinh vào tháng 8/2023. Bản án khiến dư luận nước Anh chấn động và thu hút sự quan tâm lớn của truyền thông.
Gần đây, bộ phim tài liệu The Investigation of Lucy Letby phát hành ngày 4/2 tiếp tục khơi lại vụ án. Bộ phim tiết lộ nhiều đoạn video từ camera gắn trên người cảnh sát trong lúc bắt giữ nữ y tá, cùng các cuộc phỏng vấn chuyên gia liên quan đến những bằng chứng của vụ án.
Những cái chết bí ẩn trong khoa sơ sinh
Lucy Letby làm y tá tại khoa chăm sóc trẻ sơ sinh của Bệnh viện Countess of Chester, thuộc hạt Cheshire, từ năm 2011 đến tháng 7/2016. Công việc của cô là chăm sóc các trẻ sinh non hoặc có vấn đề sức khỏe cần theo dõi đặc biệt. Theo công tố viên Nick Johnson, trước tháng 1/2015 số ca tử vong tại khoa sơ sinh của bệnh viện này tương đương với các bệnh viện khác. Tuy nhiên, trong thời gian Lucy làm việc tại đây, số trẻ sơ sinh tử vong và số ca suy giảm sức khỏe nghiêm trọng tăng đáng kể.
Ông Johnson cho biết các chuyên gia tư vấn đã xem xét những trường hợp tử vong này. Họ cho rằng các cái chết không thể giải thích bằng nguyên nhân y khoa thông thường và kết luận chúng có liên quan đến hành động của Lucy Letby. Lucy bị buộc tội giết 7 trẻ sơ sinh, gồm 5 bé trai và 2 bé gái, đồng thời âm mưu giết thêm 10 trẻ khác trong giai đoạn 2015–2016. Theo cáo buộc, một số trẻ tử vong sau khi bị cung cấp quá nhiều sữa, oxy, insulin hoặc chất lỏng.

Lucy Letby. Ảnh: SWNS
Trong số các nạn nhân có hai em bé thuộc ca sinh ba. Đứa trẻ còn lại trong bộ ba cũng từng rơi vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng và công tố viên cho rằng Lucy đã hai lần cố gắng sát hại em bé này. Đứa trẻ sau đó được đưa ra khỏi bệnh viện theo yêu cầu của cha mẹ và hồi phục nhanh chóng. Công tố viên cho rằng việc em bé hồi phục sau khi rời bệnh viện là một chi tiết đáng chú ý.
Theo lập luận của bên công tố, một số trẻ sơ sinh đã bị tấn công nhiều lần trước khi tử vong. Công tố viên Johnson nói với bồi thẩm đoàn rằng sự suy giảm sức khỏe nhanh chóng của 17 trẻ liên quan không phải là “thảm kịch tự nhiên xảy ra”. Ông cũng cho biết Lucy thường có mặt trong ca trực khi tình trạng của các em bé trở nên tồi tệ. Đây được xem là một trong những điểm trùng hợp quan trọng được trình bày trước tòa.
Trong lời khai tại tòa, cha mẹ của một bé gái cho biết con họ đã sống sót sau ba lần bị tấn công. Họ tin rằng Lucy đã cố ý cho bé uống quá nhiều sữa và cung cấp lượng oxy quá mức. Theo lời khai của gia đình, điều này dẫn đến tổn thương não không thể phục hồi. Bé gái sau đó mắc chứng bại não gây liệt tứ chi.
Một trường hợp khác được nêu tại tòa liên quan đến một trẻ sơ sinh khi y tá phụ trách đang nghỉ giải lao. Theo bác sĩ Dewi Evans, đứa bé dưới sự chăm sóc của Lucy đã được cho uống lượng sữa nhiều hơn rất nhiều so với chỉ định.
Bác sĩ Evans cho rằng việc cho ăn quá mức đó không thể là tai nạn. Ông nhận định đây là hành động cố ý gây hại.
Điều tra, xét xử và những tranh cãi về bằng chứng
Bác sĩ Ravi Jayaram, bác sĩ cấp cao tại bệnh viện Cheshire, làm chứng rằng ông từng báo cáo nghi ngờ về Lucy cho ban quản lý bệnh viện vào năm 2015 và 2016. Tuy nhiên, theo lời ông, những cảnh báo này đã bị phớt lờ trong nhiều tháng. Ông Ravi kể rằng từng nhìn thấy Lucy đứng cạnh một trẻ sơ sinh bị tuột ống thở. Trong khi nồng độ oxy trong máu của em bé giảm dần, Lucy không có hành động can thiệp.
Vị bác sĩ sau đó đã can thiệp để cứu em bé. Tuy nhiên, đứa trẻ qua đời ba ngày sau đó.
Cảnh sát hạt Cheshire mở cuộc điều tra về các vụ án mạng vào tháng 5/2017 sau khi nhận được thông tin về hành vi đáng ngờ của Lucy. Kể từ đó, Lucy bị bắt giữ ba lần vì nghi ngờ liên quan đến các vụ tử vong. Cô bị bắt lần đầu vào năm 2018 và lần thứ hai vào năm 2019 nhưng đều được thả. Lần bắt giữ thứ ba diễn ra vào tháng 11/2020.
Trong đoạn video từ camera gắn trên người cảnh sát, Lucy bật khóc khi cảnh sát đến nhà bố mẹ và bắt giữ cô trong phòng ngủ. Khi nhà chức trách thông báo các cáo buộc, Lucy đã yêu cầu được bế mèo cưng. Cô hét lên với bố mẹ rằng: “Bố mẹ biết con không làm điều đó mà!”. Mẹ của Lucy sau đó đáp lại rằng: “Mẹ biết con không làm. Chúng ta biết”.
Trong cuộc thẩm vấn ban đầu với cảnh sát, Lucy vừa khóc vừa nói rằng cô luôn cố gắng hết sức vì các em bé. Cô khẳng định mình chỉ muốn chăm sóc các bệnh nhi. Phiên tòa xét xử Lucy bắt đầu vào tháng 10/2022 tại Tòa đại hình Manchester. Cựu y tá phải đối mặt với 22 cáo buộc liên quan đến 7 cái chết và cáo buộc âm mưu giết 10 trẻ sơ sinh khác.
Lucy tuyên bố mình vô tội trước tòa.
Bên công tố trình bày các ghi chú viết tay được tìm thấy trong nhà Lucy. Trong đó có đoạn Lucy mô tả bản thân là “người độc ác khủng khiếp” và nói rằng “đã cố ý giết họ”. Tuy nhiên, một số ghi chú khác lại thể hiện lời khẳng định vô tội của Lucy. Trong đó cô viết: “Tôi không làm gì sai và họ không có bằng chứng, vậy tại sao tôi phải trốn tránh?”.
Tháng 4/2023, công tố viên trình lên bồi thẩm đoàn hình ảnh nhật ký của Lucy. Trong đó có các chữ cái đầu của tên những đứa trẻ mà cô bị cáo buộc sát hại. Một tài liệu khác cũng được đưa ra trước tòa, ghi tên một số em bé cùng dòng chữ được cho là của Lucy: “Tôi không biết liệu tôi có giết chúng hay không. Có thể là có. Có thể tất cả là do tôi”.
Các đồng nghiệp cũ của Lucy cũng ra làm chứng về những hành vi bất thường. Một người cho biết sức khỏe của một bé gái sơ sinh đã suy giảm nhanh chóng khi ở dưới sự chăm sóc của Lucy. Người giám sát của Lucy khai rằng từng thấy cô dành nhiều thời gian cho một em bé sinh non dù không được phân công chăm sóc. Em bé này sau đó đột ngột suy yếu và qua đời.
Trong trường hợp khác, mẹ của một trẻ sơ sinh nặng chưa đến 1,4 kg nói rằng bà thấy con trai mình trong tình trạng nguy kịch và chảy máu ở miệng. Khi bà bày tỏ lo lắng, Lucy đã nói: “Tin tôi đi, tôi là y tá”.
Tháng 5/2023, Lucy ra làm chứng để tự bào chữa và nói với bồi thẩm đoàn rằng cô không hề có ý định gây hại cho bất kỳ em bé nào trong thời gian làm việc tại bệnh viện. “Tôi ở đó để chăm sóc các em bé chứ không phải để gây hại”, Lucy nói và khẳng định mình không làm điều gì trái với nguyên tắc nghề nghiệp.
Lucy cũng cho rằng cái chết của các em bé có thể liên quan đến vấn đề hệ thống đường ống nước của bệnh viện. Theo lời khai của cô, nước thải chưa qua xử lý thường chảy ra từ bồn rửa và tràn ra sàn nhà. Theo Lucy, điều này khiến phòng bệnh bị nhiễm bẩn và nhân viên không thể rửa tay đúng cách.
Trong phần tranh luận cuối cùng vào tháng 6/2023, công tố viên Johnson cho rằng Lucy đã sử dụng phương pháp tiêm không khí vào mạch máu để gây hại cho ít nhất 12 nạn nhân. Ngày 18/8/2023, bồi thẩm đoàn tuyên Lucy có tội với 15 trong số 22 cáo buộc sau phiên tòa kéo dài 10 tháng.
Tháng 7/2024, Lucy nhận 15 án tù chung thân tương ứng với các tội danh. Thẩm phán tuyên bố cô phải ngồi tù suốt phần đời còn lại và không được áp dụng các điều khoản giảm án. Sau bản án, Lucy đã hai lần kháng cáo nhưng đều không thành công.
Tuy vậy, vụ án vẫn gây tranh cãi.
Luật sư của Lucy, Mark McDonald, cho rằng các ghi chú viết tay được tìm thấy trong nhà cô đã bị hiểu sai. Trong phim tài liệu The Investigation of Lucy Letby, ông nói rằng Lucy viết những dòng tiêu cực đó theo lời khuyên của nhà trị liệu.
Một điểm khác được luật sư phản bác là việc số ca tử vong tăng đột biến được cho là có liên quan trực tiếp đến Lucy. Ông cho rằng số ca tử vong giảm sau khi Lucy rời bệnh viện nhưng cùng lúc khoa sơ sinh cũng giảm quy mô.
Bác sĩ John Gibbs, người từng được thuê làm chuyên gia tư vấn điều tra sự gia tăng số ca tử vong tại bệnh viện Chester, ban đầu bày tỏ lo ngại về Lucy. Sau đó ông làm chứng tại phiên tòa và nói rằng tất cả các ca tử vong bất thường đều xảy ra trong ca trực của Lucy. Tuy nhiên, trong bộ phim tài liệu, bác sĩ John nói rằng dù vẫn giữ quan điểm của mình, ông vẫn có cảm giác băn khoăn rằng liệu họ có bắt nhầm người hay không.
Một chuyên gia khác được phỏng vấn là Tiến sĩ Shoo Lee, bác sĩ chuyên khoa sơ sinh người Canada đã nghỉ hưu và từng làm việc tại Đại học Toronto. Ông cho biết sau này mới biết rằng nghiên cứu của mình đã được sử dụng để góp phần kết tội Lucy.
Năm 1989, Shoo Lee viết một bài báo học thuật phân tích sự đổi màu da của trẻ sơ sinh liên quan đến tắc mạch khí. Công tố viên đã sử dụng nghiên cứu này để lập luận rằng Lucy tiêm không khí vào cơ thể các nạn nhân. Tuy nhiên, ông Lee cho rằng nghiên cứu của mình đã bị xuyên tạc.
Ông nói rằng những mô tả về màu da của các em bé trong hồ sơ vụ án không phù hợp với dấu hiệu của tắc mạch khí. Theo ông, những mô tả đó phù hợp hơn với tình trạng thiếu oxy. Tiến sĩ Lee cho rằng việc hiểu sai nghiên cứu khoa học có thể dẫn đến một bản án sai.
“Tôi rất lo lắng. Một phụ nữ trẻ có thể phải ngồi tù suốt đời và chết trong tù vì nguyên nhân sai lầm”, ông nói.
VietBF@ sưu tập
|
|
0 Replies | 123 Views |
Mar 14, 2026 - 9:45 AM - by pizza
|
Cả nhà bới 10 tấn rác tìm túi vàng
New Tab ↗
|
Trung QuốcGia đình 8 người ở Giang Tây phải thức trắng đêm, lục tung 10 tấn rác để tìm lại túi vàng trị giá 1,5 triệu tệ (5,2 tỷ đồng) bị người nhà vứt nhầm.
Sáng 8/3, một phụ nữ ở huyện Hoành Phong, thành phố Thượng Nhiêu mang theo chiếc túi chứa hơn 1 kg vàng thỏi và trang sức, trị giá khoảng 1,5 triệu tệ về nhà cất giữ. Tuy nhiên, trong lúc dọn dẹp, chị gái cô đã nhầm lẫn chiếc túi này là đồ bỏ đi và ném thẳng vào thùng rác.
Một số miếng vàng trong túi bị vứt nhầm được tìm thấy sau khi bới 10 tấn rác tại bãi tập kết rác, huyện Dặc Dương,Trung Quốc, chiều 8/3. Ảnh: Sohu
Phát hiện sự việc vào buổi trưa cùng ngày, chủ nhân số tài sản hoảng hốt báo cảnh sát. Trích xuất camera giám sát, lực lượng chức năng xác định chiếc xe rác gom đồ của khu phố vừa di chuyển đến bãi tập kết tại huyện Dặc Dương lân cận.
Chiều cùng ngày, cả gia đình tức tốc đến bãi rác, kịp thời chặn ba xe tải chuẩn bị vào lò đốt. Sau khi khoanh vùng, đội vệ sinh xác định chiếc túi nilon chứa vàng có khả năng cao nằm trong thùng xe thứ hai hoặc thứ ba.
Cảnh sát và ban quản lý bãi rác đã hỗ trợ đổ toàn bộ chất thải từ các xe này xuống một bãi đất trống. Tám thành viên trong gia đình trang bị đồ bảo hộ, bắt đầu cuộc tìm kiếm gian nan từ chập tối đến rạng sáng hôm sau.
"Việc kiểm tra từng đống rác giống như một ván cược. Mùi hôi thối bốc lên nồng nặc khiến chúng tôi vô cùng mệt mỏi nhưng không ai dám dừng tay", người phụ nữ kể lại.
Cuối cùng, kỳ tích đã xuất hiện khi họ tìm thấy nguyên vẹn chiếc túi chứa toàn bộ số vàng nằm sâu trong đống rác của xe tải thứ hai.
Nhận lại tài sản, gia đình đã làm cờ lưu niệm gửi tặng cảnh sát và nhân viên môi trường để bày tỏ lòng biết ơn. Đại diện bộ phận vệ sinh môi trường huyện Hoành Phong cho biết việc nỗ lực hỗ trợ người dân giảm thiểu tổn thất tài sản là trách nhiệm của đơn vị.
Sự cố vứt nhầm tài sản giá trị vào thùng rác không hiếm gặp. Tại Việt Nam, hồi đầu năm 2026, trên chuyến tàu SE5 hành trình Hà Nội - TP HCM, một nữ hành khách để trang sức trong giấy ăn cũng bị người thân vứt nhầm. Rất may, trưởng tàu cùng các tiếp viên đã lập tức phong tỏa rác toa số 9 và bới tìm thành công gói trang sức dưới đáy thùng rác nhà vệ sinh.
VietBF@ sưu tập
|
|
0 Replies | 114 Views |
Mar 14, 2026 - 9:59 AM - by troopy
|
|