
"Sống chung với lũ" (thành ngữ miền tây Nam bộ)
Tháng chín năm 1980, nước lên. Ở Tháp Mười, nước lũ về không lên từ từ mà tràn qua bờ kênh như ai lén đổ cả thau nước ra. Chỉ sau một đêm, cái sân trạm xá đã ngập hơn mắt cá, ba gian nhà thành ba cái cù lao.
Bác sĩ An mới ra trường, về công tác được 3 năm, râu mọc lởm chởm vì cả tuần chưa cạo. Anh trực 24/24. Chị Mười là hộ sinh kỳ cựu từ trước 75, tóc đã điểm bạc. Điện cúp từ hôm trước, máy nổ thì chạch cà ạch cà đụi vì vô nước. Toàn trạm xá chỉ còn bốn cây đèn dầu, một xuồng ba lá cột ở bậc thềm, và giàn loa phát toàn tiếng ếch nhái kêu như vỡ chợ.
Mười giờ đêm, mưa vẫn xối xả. Cửa sau có tiếng gõ mạn xuồng. Một người đàn ông ướt sũng, đội nón lá rách, hì hục đẩy xuồng vào tận hiên: "Bác sĩ ơi, vợ tui sắp đẻ, mà nước ngập tới nóc nhà, không đi đâu được!"
Trên xuồng là một cô gái chừng hai mươi, bụng to vượt mặt, nhăn nhó vì đau, bên cạnh, bà mẹ chồng ôm cái túi vải đựng mấy bộ đồ trẻ con. Nước trong xuồng lấp xấp.
Chị Mười nhìn An: "Đẻ trên xuồng không được đâu, kéo lên giường đi."
Nhưng giường nào cũng lé đé nước. Cuối cùng, họ trải mấy tấm ván lên hai cái bàn khám, thành một cái "giường" cao khỏi nước.
An soi đèn dầu. Cô gái tên Lành, con của xã đội phó, mang thai con so, đã đau bụng từ chiều. Khám nhanh, cổ tử cung mở trọn, đầu lọt thấp, nhưng tim thai yếu, chỉ còn 90 lần/phút, nhịp không đều.
"Nước ối xấu rồi, phải kẹp ra liền," chị Mười nói nhỏ. Không có máy hút, không có forceps. An nhớ lại bài học ở Sài Gòn: "Khi không có gì, dùng tay mình."
Anh rửa tay bằng nước chín rồi cồn, xỏ găng. Chị Mười giữ đèn, ánh sáng vàng chao theo mưa tạt. Ngoài kia, nước dâng thêm, tràn vào tận mép ván.
An luồn tay, xoay nhẹ đầu bé. Mỗi lần rặn của Lành, nước dưới sàn lại sóng sánh. Mồ hôi An nhỏ xuống nhòe cả mắt. "Ráng đi... ráng một hơi nữa, em, một hơi nữa thôi!"
Đứa bé ra tím ngắt, không khóc. Dây rốn quấn hai vòng. Chị Mười cắt rốn, An dốc ngược bé, vỗ lưng, hút nhớt bằng miệng qua ống cao su - cách làm của những năm không có máy. Một giây, hai giây, ba giây dài như cả một mùa nước. Rồi một tiếng ọ ẹ bật ra, yếu nhưng rõ.
Bà mẹ chồng òa khóc, chắp tay vái lia lịa cái đèn dầu. Bà nghĩ ông bà đang đứng đó ngó, phò hộ cho cháu mình? Lành kiệt sức, nằm thở dốc, nước mắt trộn mồ hôi.
Chưa kịp mừng, máu từ mẹ trào ra xối xả. Băng huyết. Lại băng huyết. An rủa thầm trong bụng - mùa nước nổi năm nào cũng thiếu vitamin K, sản phụ ăn toàn cá linh, rau mác, không có gì cầm máu.
"Ép tử cung!" - vẫn câu nói cũ. An leo hẳn lên miếng ván, quỳ trên giường, dùng cả trọng lượng người ép xuống bụng Lành. Chị Mười chạy đi lấy ống ergotamine cuối cùng trong tủ - khỏi coi đát, kệ, có còn hơn không.
Mười phút ép liên tục, tay An run bần bật. Máu chậm lại, rồi cũng ngừng. Lành mở mắt, thều thào: "Con tui... còn sống hả bác sĩ?"
Mừng hết lớn.
An gật, không nói nổi. Anh đặt đứa bé da đỏ hỏn lên ngực mẹ. Ngoài hiên, mưa vẫn còn rơi trên mặt nước mênh mông.
Ai cũng nhễ nhại. Chị Mười lôi từ trong tủ ra nồi cơm nguội nấu từ trưa, còn đúng bốn chén, với một dĩa mắm kho quẹt và mấy con cá linh kho lạt - phần ăn trực.
Họ ngồi ngay trên giường, chân thả xuống nước, cùng nhau ăn dưới ánh đèn dầu. Cơm nguội, mắm mặn, cá linh mềm rục xương. Lành không ăn được, bà mẹ chồng vừa bế cháu vừa và cơm ăn ngon lành.
Người chồng, nãy giờ im lặng, bỗng nói: "Mùa nước năm nay lúa nhà tui mất trắng, nhưng trời cho đứa con gái. Tui đặt tên nó là con Thủy, bác sĩ coi được hông?"
An cười, lần đầu sau nhiều giờ căng thẳng: "Thủy là nước mà. Nước lên thì ngập, nhưng nước cũng mang cá về...Tên đó hay chớ."
Ăn xong, An ra hiên, múc một gáo nước lụt rửa tay. Nước đục ngầu phù sa. Anh nhìn ra đồng - mênh mông trắng xóa, chỉ thấy mấy ngọn tràm nhô lên xa xa. Trạm xá lúc này như một hòn đảo nhỏ chỉ chực chìm lỉm giữa biển cả mênh mông
Chị Mười đến ngồi cạnh An, đưa cho anh ly trà nóng rót từ bình thủy: "Mỗi mùa nước, mình lại đỡ thêm vài đứa. Tụi nó lớn lên cũng đâu nhớ mình là ai, nhưng mình sẽ nhớ hoài.."
An gật. Năm 1975 anh làm quen với ánh đèn dầu. Năm 1978 anh học ăn cơm độn rồi cũng quen. Năm 1980, giữa mùa nước nổi, anh học cách đỡ đẻ trên mấy miếng ván kê giữa một biển nước, trong ánh đèn chao nghiêng. Rồi cũng quen.
Đêm hôm đó, An ghi vào sổ trực, mực nhòe đi vì giấy ẩm: "12/9/1980. Sản phụ Nguyễn Thị Lành, 20t, sinh con so, ngạt, băng huyết. Mẹ tròn con vuông. Đặt tên bé Thủy."
Rồi anh viết vào cuốn nhật ký treo trên vách, viết cho riêng mình: Nước nổi không làm chết bà con Tháp Mười. Chỉ làm người ta gần nhau hơn. Đêm nay, ăn cơm nguội với cá linh trên mặt nước, mà ngon lạ lùng - có lẽ vì đó là bữa cơm của những người vừa cùng nhau giữ được một mầm sống, giữa mùa nước dâng.
VietBF@sưu tập