Hồi năm 1949, Hoài Thanh có cho xuất bản một quyển sách ở liên khu 10, nói về Truyện Kiều [1]. Để khen Nguyễn Du tả Kiều hay, ông có đem những đoạn Đồ Chiểu tả Nguyệt Nga ra so sánh, nêu lên các chỗ dở mà cười. Chuyện đó dễ, là vì so với Truyện Kiều thì Lục Vân Tiên kém xa. Nhưng có điều Hoài Thanh lại nhân đó giảng giải luôn rằng sở dĩ Đồ Chiểu kém như thế là vì sáng tác trong chế độ phong kiến suy tàn: “sức sống phong kiến đã quá khô héo không còn đủ cho văn nghệ phong kiến tạo nên được những con người sống thực”. Lối giảng giải ấy không ổn. Bởi vì thời đại Nguyễn Du nào có hơn gì thời Đồ Chiểu? Chính Hoài Thanh, ở một đoạn về thân thế Nguyễn Du cũng nói rằng: “Nguyễn Du sinh năm 1765. Kể từ Lê Lợi đánh quân Minh dựng nước đến bấy giờ đã có hơn ba trăm năm. Sau ba trăm năm ấy chế độ phong kiến ở nước ta đã suy vi đến cực độ”. Một người ở vào thời “phong kiến quá khô héo” với một người ở vào thời “phong kiến suy vi đến cực độ” thì có ai may mắn gì hơn ai đâu? Sao lại đem chi chuyện đó để giải nghĩa cái dở cho đâm vào sự mâu thuẫn buồn cười?
Ngoài Hoài Thanh ra, nhiều người khác cũng nghĩ ngợi về cái dở trong văn Đồ Chiểu. Phan Văn Hùm nhận rõ rằng: “Xem Ngư tiều vấn đáp, xem Dương Từ – Hà Mậu, nhất là xem tác phẩm rất dung thường của tiên sinh là quyển Lục Vân Tiên, ta sẽ thấy những chỗ bơ thờ, lạt lẽo, sống sượng, lúng túng, vụng về, không có chút gì văn vẻ cả” [2]. Cái dở trong văn chương mà cũng khiến cho người băn khoăn suy nghĩ và đi tìm nguyên nhân cắt nghĩa thì là một sự lạ. Phan Văn Hùm cắt nghĩa rằng người ta đọc văn Đồ Chiểu là bởi chuộng người có tiết tháo hơn là vì nghệ thuật, còn Đồ Chiểu cũng chỉ muốn viết sách để bày tỏ chí khí và dạy đời chứ không cốt làm văn chương. Ông Phan cho rằng giá ông Đồ mà chịu “phí thêm thì giờ, thao luyện văn thể, thì tiên sinh quyết cũng làm nên văn thanh thoát”.
Ông Hà Như Chi cũng đoán thế: “Nguyễn Đình Chiểu nếu muốn tài hoa mỹ lệ thì cũng rất có thể tài hoa mỹ lệ”3 như ai!
Người ta có cảm tưởng rằng ông Phan và ông Hà lại cũng quá mến trọng tiết tháo của cụ Đồ Chiểu, nên không ngừng lại ở một nhận xét khách quan, mà còn tìm cách biện bạch che chở khuyết điểm của cụ Đồ. Luận điệu hai ông thoạt nghe thật kỳ cục. Phàm người ta xét văn thường chỉ nhận cho là hay hay dở, chứ gặp văn dở mà dám đoán thêm rằng đó là tại tác giả không muốn viết hay thì người phê bình đi có quá xa! Vả lại viết văn để răn đời, tỏ chí, giải bày tâm sự, thì xưa nay biết bao nhiêu người đã làm như thế, có phải đó là lý do để viết ra văn dở đâu? Nói ngay về Nguyễn Du, người ta cũng cho rằng người viết Truyện Kiều chẳng qua là muốn ký thác một tâm sự, chứ đâu phải cốt hăm hở “phí thì giờ, thao luyện văn thể”, chăm chỉ làm ra tác phẩm văn chương để đời, vậy mà cứ thành văn hay.
Tuy nhiên, luận điệu của hai ông Phan và Hà thoạt tiên nghe kỳ cục mà ngẫm nghĩ vẫn có chỗ lý thú. Người ta tự hỏi có chăng một hạng tác giả “rất có thể tài hoa mỹ lệ” mà không chịu khó làm ra tài hoa mỹ lệ, “quyết cũng làm nên văn thanh thoát” mà không chịu khó làm ra văn thanh thoát? có chăng một hạng tác giả tánh tình xuề xòa dễ dãi quá như vậy? — E rằng cũng có! Nhiều người kể lại trước đây không bao lâu ở Sài Gòn nữ sinh trung học tóc thề cứ ngang nhiên mặc áo bà ba đội nón cối đi học, mà ngay mới hồi trước phong trào di cư vừa rồi phụ nữ miền Nam phục sức cũng giản dị, xuềnh xoàng hơn bây giờ nhiều lắm. Sự chú ý chăm chút đến một màu quai nón, đến hình dáng đôi guốc, đến một kiểu tay áo, cổ áo, không phải là bản tính của họ. Phụ nữ đã vậy, nói gì đàn ông! Mà người ta đã dễ dãi như thế trong sự làm đẹp bản thân thì người ta cũng rất có thể dễ dãi về quan niệm cái đẹp trong văn chương. Trong thái độ thưởng thức cuộc sống, chúng ta còn nhiều dịp thấy người miền Nam tránh mọi sự cầu kỳ. Chỉ ở Bắc mới có người ăn uống kiểu cách như Tản Đà và luận bàn về cách ăn kỹ lưỡng như Tản Đà, mới có kẻ đi nếm đủ thức ăn ở “Hà Nội 36 phố phường” rồi viết thành sách, mới có người tinh tế đến nỗi đất nước chia đôi, cách xa quê hương lâu rồi mà vẫn nhớ rõ mùi vị từng “miếng ngon Hà Nội”. Như thế cũng là vì miếng ăn ở miền ngoài nấu nướng thật là công phu khéo léo. Còn như ở trong này cách nấu nướng thường thường giản dị, nhiều khi chỉ nướng hay luộc, ít gia vị: món ăn như lươn, ếch, thịt bò v.v... ít bị chế biến làm mất hương vị thiên nhiên. Nghe tên một món ăn như món “bò bụng” người ta đã thấy cái tâm lý không có chút nào kiểu cách của người thực khách trong Nam. Ở Sài Gòn Chợ Lớn, theo lời một số người sành ăn uống, không có tiệm nào chế được bình trà ngon, vì rất ít khi gặp hạng khách thích nhắp từng hớp trà tỉ mỉ.
Ở cái nơi có một tập quán sinh sống, có một thái độ thưởng ngoạn dễ dãi như vậy, một tác giả không khắt khe với hình thức câu văn mình viết ra cũng là tự nhiên. Nhưng ta đã gợi đến tánh xuề xòa chung cho cả miền Nam thì tức là ta không muốn nói riêng về “một tác giả” nữa rồi. Thực vậy, không riêng gì ở Đồ Chiểu, đọc văn của Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của trước kia, của Hồ Biểu Chánh, Phú Đức... sau này, người ta cũng thấy đặc tính ấy.
Những khuyết điểm hình thức của câu văn ở trong Nam còn có lý do khác, mà ông Thanh Lãng nói rất đúng “... các nhà văn miền Bắc, có lẽ vì uyên thâm nho học hơn, nên khi viết văn đã chịu sức tác động của văn chữ Hán rất mạnh: câu văn đặt dài, cân xứng, đối chác và điểm xuyết nhiều Hán tự. Ngược lại, lối văn trong Nam là một lối văn đơn sơ, mộc mạc, dùng hầu toàn chữ nôm; cách đặt câu có vẻ cục cằn, vắn tắt, không xét gì đến cân xứng, đối chác”4. Vả lại theo tình trạng văn học chung thì đến thế kỷ thứ 19 nền văn học quốc âm của ta đã phát triển đến độ cực thịnh, kỹ thuật thi ca Việt Nam đã đạt đến độ rất cao, nhưng thuở ấy miền Nam là đất mới khai phá, việc học hành thi cử bắt đầu chưa bao lâu, người miền Nam tham dự vào hoạt động văn học còn mới mẻ quá, nên cùng là tác giả một thời đại mà nhà văn miền Bắc có cái lợi được sử dụng một ngôn ngữ đã thuần thục hơn.
Nhưng điều chúng ta chú ý đến lần này không phải là ảnh hưởng đậm hay lạt của Hán học, hoặc quá khứ văn học lâu dài hay ngắn ngủi, mà là một vài yếu tố tâm lý nó làm ra cá tính của Miền Nam cùng với ảnh hưởng của cá tính ấy trong văn học. Bởi vì từ đây về sau chắc chắn ảnh hưởng đó càng ngày càng quan trọng thêm nhiều.
Vừa dễ dãi xuề xòa, người Việt miền Nam vừa mau mắn hoạt bát. Giọng văn của các tác giả trong Nam có một vẻ gì rất khỏe khoắn, nhanh nhẹn. Cho đến cách xây dựng cốt truyện cũng thế. Truyện của Đồ Chiểu, tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, cách kết cấu không có gì là chặt chẽ khéo léo, không tỏ ra tốn nhiều công phu, nhưng bao giờ cũng linh động. Ở những tác giả lớp sau như Bình Nguyên Lộc và Sơn Nam, kỹ thuật đã điêu luyện hơn nhiều, cốt truyện và lối viết văn vẫn giữ đặc tính truyền thống đó. Người câu chấp sẽ trách Bình Nguyên Lộc ở chỗ ông cho bốn cô gái ông Nam Thành trong Đò dọc nối tiếp nhau xuống thang gác trình diện anh Long, rồi hai cô nối nhau đi tự tử, rồi lại ba cô nối tiếp nhau đi lấy chồng. Chuyện gì chuyện nấy xảy ra rụp rụp. Tác giả như tuồng hơi lơ đãng, không quan tâm mấy đến sự sắp đặt cuộc đời của các cô. Nhưng sự lơ đãng đó lại có vẻ tài hoa, phóng khoáng, nghịch ngợm. Nếu Bình Nguyên Lộc chăm chút nhân vật mình hơn, “có trách nhiệm” hơn chút nữa, ông sẽ mất cái thái độ thảnh thơi khinh khoái nhẹ nhàng rất đẹp đẽ ấy đi. Hồi 1956-1957 (?), trong tạp chí Nhân loại, Sơn Nam có đăng mỗi kỳ một cái truyện nhỏ về phong tục ở miền quê Nam phần [5], truyện nào cũng lý thú và xây dựng một cách giản dị dễ dàng. Người đọc có cảm tưởng tác giả viết khoẻ như bỡn. Vì thế mà đọc càng thấy lý thú. Chính vì không thấy công phu bố trí xếp đặt nên mỗi cảnh đời, mỗi câu chuyện, mỗi nhân vật mang vào trong truyện còn nguyên vẻ linh động như chưa rời khỏi khung cảnh sinh hoạt ngoài trời đất bao la. Người ta nghĩ đến những con cá ăn câu vừa giật lên khỏi mặt nước, còn tươi sống dãy đành đạch!
Nhưng “anh hoa phát tiết ra ngoài” rực rỡ cũng là điều không tốt. Những người hoạt bát nhanh nhẹn thường thiếu đi sự thâm trầm sâu sắc. Người lanh lợi có thể chỉ nhìn qua một thoáng là đã nhận xét tâm lý kẻ khác rất nhanh chóng, sở trường của họ không phải ở chỗ triền miên trong sự suy tưởng sâu xa về những hoạt động rắc rối của tâm giới. Chúng ta không gặp ở miền Nam những tác giả như Nguyễn Tuân, suy nghĩ tẩn mẩn dài dòng suốt đôi ba mươi trang tùy bút vì một ngọn gió giục lên đường, hay một tác giả phân tích tỉ mỉ một trường hợp tâm lý do dự như Thạch Lam trong ‘Sợi tóc’. Tỉ mỉ không phải là tính người miền trong. Ở ngoài đời xuề xòa là một đặc điểm tâm lý quý hóa: những người tính tình như thế, ta nên tìm đến mà giao thiệp. Nhưng nhân vật tiểu thuyết không cần gần gũi kẻ tốt bụng! Những kẻ hay xoi bói khó chịu nhất, hay tìm tòi khai quật những hắc ám giấu giếm kỹ trong tâm hồn nhất, lại là những kẻ có công tác thành đối với họ, làm cho họ mau có hình dáng bản sắc, mau “nên người”. Cho nên sự cạn cợt của cụ Đồ Chiểu đã hại Lục Vân Tiên nhiều lắm khi chàng thanh niên đó gặp gái đẹp lần đầu. Chàng hô “khoan khoan” không cho Nguyệt Nga xuống xe; chàng ngoảnh mặt làm ngơ không nhìn trâm; nghe cô gái xin làm thơ thì:
“Vân Tiên ngó lại rằng: Ừ,
Làm thơ cho kíp một giờ chớ lâu”.
Giọng điệu của chàng hách quá! Người thanh niên văn võ toàn tài ấy chỉ vì chỗ tâm lý thiếu tế nhị mà bị người đời sau chê cười, nhạo báng mãi. Tôi chắc nếu chàng biết được những lời chế giễu của Hoài Thanh thì chàng sẽ oán trách cụ Đồ Chiểu vô cùng vì cái tính hời hợt của cụ.
Không sở trường về những phân tích tâm lý sâu xa tinh tế, tác phẩm các nhà văn miền Nam quyến rũ bằng sự hoạt động. Đò dọc là một quyển truyện tâm lý, nhưng mà các tình tiết luôn luôn diễn tiến nhanh nhẹn bất ngờ. Chúng ta chê Hồ Biểu Chánh cạn cợt, kể chuyện chỉ phác qua lớt phớt tâm lý các nhân vật, không chịu ngừng lại phân tích cho tử tế. Nhưng giới bình dân trong Nam lấy làm thú một phần ở chỗ động tác trong truyện biến chuyển nhanh thoăn thoắt. Cũng không phải tình cờ mà Phú Đức viết một pho truyện dài như Châu về Hợp Phố, nhìn vào trang nào trong đó cũng toàn những hoạt động hoa cả mắt. Đọc xong một tác phẩm của miền Nam rồi đọc tới Lửa thiêng của Huy Cận hay Quê hương của Nguyễn Tuân chẳng hạn, người ta có cảm tưởng đang đi dạo giữa buổi mai đẹp dưới trời xanh, ánh nắng nhấp nháy trên muôn hoa lá, bướm bay chim hót tưng bừng xung quanh, bỗng lạc chân bước vào một con đường tĩnh mịch, hơi tối và lạnh, một nơi yên lặng, thuận tiện cho sự trầm ngâm suy tưởng nhưng dẫn ta tách lìa ra xa cuộc sống náo nhiệt.
Nhân nói về sự hoạt động tôi nghĩ đến quang cảnh những đường phố ở trong Nam. Sự thật thì một người từ Trung từ Bắc vào, vừa đi quá Nha Trang đã để ý đến hiện tượng ấy. Quán ăn ở các thành phố miền trong thực là rộn rịp đông đúc, thường khi tràn ra đến ngoài lề đường. Người trong này thường ăn ở quán, kéo cả gia đình và bạn bè ăn uống ở quán, trong khi người miền ngoài thích khung cảnh ấm cúng yên tịnh thân mật trong nhà. Dẫu khi đến quán, người Trung người Bắc cũng muốn tìm một chỗ khuất và yên tịnh một chút. Trái lại người Nam không ngần ngại mà có vẻ còn thích những quán lộ thiên sát bên đường đi. Cuộc sống mỗi người ở miền ngoài thu rút vào dưới mái gia đình, cuộc sống trong này cứ tràn ra ngoài xã hội rộng lớn náo nhiệt.
Bản tính hiếu động nên nhà văn miền Nam có thể kể một nỗi vui, nỗi khổ đau, một cơn tức giận, thịnh nộ, nhưng lại không hay diễn tả cái thứ buồn uể oải, thứ buồn nó ngấm trong điệu thơ lục bát của toàn quyển Kiều như là một cảm giác tê mỏi ngấm khắp gân cốt, tản mác khắp châu thân của một người mệt nhọc. Nguyệt Nga cũng có lúc khổ đến tự tử, nhưng không có khi ngồi như Kiều ở lầu Ngưng Bích “buồn trông” chân trời mặt bể. Mà dẫu có đứng trước cảnh đó chắc Nguyệt Nga cũng không tự hỏi cái câu:
“Hoa trôi man mác biết là về đâu?”
“Hoa trôi về đâu” thì không có gì đặc biệt. Nhưng thêm vào bốn chữ “man mác, biết là” tác giả làm cho giọng nói dịu dàng thấm một nỗi buồn mênh mông tiêu cực vô hạn.
Hạng người nào trong đời cũng có thể gặp hoàn cảnh bi đát để đau đớn. Nhưng buồn rầu nhẹ nhàng vì một cảnh “Bèo giạt về đâu hàng nối hàng”
hay vì một cảnh “đèo cao quán chật”, một cảnh “trời rộng nhớ sông dài”, thì hạng người đó phải trầm tĩnh lắm. Chỉ có những tâm hồn quen với quạnh hiu cô tịch mới hay có những xúc động như thế. Người miền Nam thích sự hoạt động quá. Cái hay của họ phải tìm về một hướng khác.
Chẳng hạn nhờ tính hoạt động, nhờ trí óc lanh lợi bén nhạy luôn luôn nảy bật ra sáng kiến mới mẻ, gần như nhà văn nào trong Nam cũng có một sức sáng tác thật dồi dào, đó chẳng phải là một ưu điểm cho các tác giả miền ngoài ao ước sao? Người ta nói nhiều đến sự nghiệp đồ sộ phi thường của Trương Vĩnh Ký: con người minh mẫn sắc bén và rất hoạt động ấy, trong sự tìm tòi khảo sát đã nhảy băng từ sinh vật học tây phương đến triết học đông phương, từ văn chương bình dân Việt Nam đến sách vở kinh điển La Mã, Hy Lạp, đang lúi húi nghiên cứu về con bọ rầy bỗng đi dịch và chú thích tứ thư ngũ kinh, đang kể chuyện đời xưa “bụng làm dạ chịu” bỗng đi làm tự điển và viết sử. Vừa bằng ngoại ngữ, vừa bằng tiếng nước nhà, tác giả đó đã để lại một sự nghiệp trước tác ghê gớm về số lượng. Sau này viết tiểu thuyết mà được nhanh được nhiều như Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Phú Đức v.v... các nhà văn có tiếng ở miền ngoài cũng ít ai bằng.
Viết được như vậy tất nhiên họ có trí tưởng tượng phong phú lắm. Trí tưởng tượng ấy thừa sức để vẽ ra những cảnh tượng ly kỳ, bày ra những câu chuyện lạ lùng quái đản, nhưng đôi khi có hơi ngây thơ, khó tin. Nếu muốn bới tìm những chỗ sơ hở vô lý trong các cốt truyện của Hồ Biểu Chánh và ngay đến của Bình Nguyên Lộc nữa cũng không khó gì. Họ bay đuổi theo sự tưởng tượng phơi phới mà ít quan tâm đến chi tiết lắm.
Giỏi tưởng tượng thì tội gì chẳng đặt chuyện ma! Bởi thế chuyện ma quỷ cũng có, mà chuyện đánh nhau cũng có vô số. Đánh bắn nhau thì kịch liệt dữ dội có thừa, nhưng khung cảnh không có gì rùng rợn bí hiểm lắm đâu. Ma quỷ thì vẫn biến hóa đủ cách tài tình nhưng không lấy gì làm khủng khiếp. Đọc Trại Bồ Tùng Linh của Thế Lữ người ta thấy rờn rợn tuy rằng người con gái trong truyện vẫn nguyên là một người con gái thường từ đầu đến cuối, không biến ra mặt xanh, lè ra lưỡi đỏ lần nào: cái ma trong truyện chỉ là một khung cảnh ma, một không khí ma mà thôi. Gần đây Phong Ngạn viết Tân Liêu Trai, (lại cũng một tên sách nhắc đến Bồ Tùng Linh). Ở đây ma nhiều hơn, biến hóa ly kỳ hơn, nhưng toàn quyển truyện không thể bảo là đem đến cho ai một cảm tưởng sợ hãi nào. Trái lại, có thể coi đó là những mẩu chuyện vui. Ông Phong Ngạn kể thoăn thoắt một lát, xem chừng người đọc hơi lo lắng, ông đã vội vàng cười xòa bảo ngay cho biết là nói dối cho vui đấy thôi. Tôi đã bảo người Miền Nam thực đáng tìm đến mà kết thân! Có muốn nát người một chút mà chơi họ cũng không nát được: họ nhanh nhẹn, dí dỏm, nhẹ tính, cạn cợt quá. Trong tâm hồn họ không có chút hắc ám nào, nên làm sao họ hình dung ra được một cảnh âm u, nặng nề tử khí, ghê rợn. Sơn Nam nhắc tích cũ ở miền Hậu Giang không thiếu gì chuyện hùm thiêng rắn dữ, chuyện hoang đường ma quỷ, nhưng cũng không nhắm gây ra cảm giác kinh sợ hãi hùng. Câu văn ngăn ngắn nhẹ nhàng, Sơn Nam kể lúc nào cũng có nụ cười trên môi, làm cho ma quỷ trông có vẻ ngộ nghĩnh hơn là hung ác, cảnh âm ti sáng sủa lên nhiều lắm. Ma cọp ở rừng Cà Mau của Sơn Nam không giống ma cọp ở rừng núi Bắc Việt của Lan Khai chút nào. Cái khác đó không phải bởi ma cọp khác loài mà bởi người khác tính.