Nhiều người tưởng rằng uống vitamin là vô hại, nhưng lại quên rằng nếu bị thiếu hoặc dư thừa đều có thể gây ra chứng loạn nhịp tim, làm gia tăng nguy cơ bị đột quỵ dẫn đến tử vong.
Vitamin không còn là dưỡng chất "vô hại"
Trong nhiều năm qua, vitamin luôn được mặc định là nhóm dưỡng chất an toàn, lành tính, có thể bổ sung theo cảm tính mà không cần kê toa bác sĩ.
Từ ở siêu thị, nhà thuốc đến các gói vitamin tổng hợp mang theo khi đi du lịch, ai cũng cả tin rằng chúng là
"thần dược" sẽ giúp cho cơ thể được luôn khỏe mạnh, tăng sức đề kháng và hỗ trợ chống lão hóa.

(Ảnh minh họa)
Tuy nhiên, theo các cuộc nghiên cứu về sinh lý điện học ở cơ tim cho thấy nhịp tim không chỉ phụ thuộc vào hệ thần kinh, mà còn nằm dưới sự phối họp của dòng ion calcium, kali, muối và magnesium qua màng tế bào. Vitamin và khoáng chất tham gia trực tiếp vào việc điều hòa các dòng ion này. Khi nồng độ thay đổi dù rất nhỏ, hệ dẫn truyền điện tim có thể bị rối loạn, dẫn đến chứng loạn nhịp tim.
Rối loạn nhịp tim không chỉ đơn thuần là
"đánh trống ngực" hay bị hồi hộp. Đối với người có bệnh về tim mạch sẳn trong người hoặc người sau tuổi 40, một nhịp tim bất thường kéo dài trong vài giây cũng có thể gây ra huyết khối, làm đột quỵ hoặc bị ngừng tim đột ngột.
"Vitamin không xấu, khoáng chất không độc. Nhưng nếu sử dụng sai cách thì hậu quả sẽ có thể nghiêm trọng hơn nhiều người suy nghĩ. Có bệnh nhân uống vitamin vì muốn được khỏe hơn, nhưng lại phải nhập viện cáp cứu vì bị loạn nhịp tim cấp tính. Do đó, việc bổ sung vitamin không bao giờ là chuyện tùy ý", theo quan điểm của giới y hoc.
Trái tim không chỉ là một dạng
"máy bơm về cơ học". Nó hoạt động dựa trên tín hiệu điện. Mỗi nhịp co bóp là kết quả của sự di chuyển ion (Na⁺, K⁺, Ca²⁺, Mg²⁺) qua màng tế bào cơ tim. Vitamin và khoáng chất thường có ảnh hưởng đến:
- tính ổn định màng tế bào
- hoạt động của các kênh ion
- chuyển hóa năng lượng cơ tim
- phản ứng chống ôxy hóa.
Vì vậy, chỉ cần bị thiếu hoặc dư thừa một vi chất nhỏ, nhịp tim có thể bị hỗn loạn ngay lập tức.
Thiếu hoặc thừa vitamin nhóm B có thể gây ra rối loạn nhịp tim
Theo y học, có 8 vi chất có liên quan trực tiếp đến nguy cơ bị loạn nhịp tim gồm có:
Vitamin B1 (Thiamin), Vitamin B3 (Niacin), Vitamin B12, Acid folic (Vitamin B9), Coenzyme Q10, Vitamin C và E, Vitamin D và Magnesium.
Trong đó,
thiếu Vitamin B1 (Thiamin) sẽ khiến cho tim hoạt động quá sức, gây nhịp tim đập nhanh và bị suy tim. Đối tượng bị thiếu: người uống rượu bia, ăn kiêng low-carb kéo dài, bệnh nhân sau phẫu thuật về tiêu hóa. Biểu hiện: đánh trống ngực liên hồi, bị mệt sau vận động nhẹ, khó thở khi nằm.
Dùng
dư thừa Vitamin B3 (Niacin) dễ gây ra chứng bị giãn mạch cao, bị rung nhĩ và suy tim. Nhiều người tự uống với liều lượng để giúp giảm mỡ máu nhưng lại phải đi nhập viện cấp cứu do bị loạn nhịp tim.
Cả
bị thiếu và dư thừa Vitamin B12 cũng đều nguy hiểm. Nồng độ thấp có liên quan đến chứng bị rung nhĩ, nồng độ cao bất thường làm gia tăng nguy cơ tử vong vì tim mạch.
Bổ sung
Acid folic (Vitamin B9) giúp làm giảm
"homocysteine", loại axit amin tạo ra protein có trong máu, nhưng nếu dùng sai liều có thể sẽ làm rối loạn hấp thu B12, gây ra loạn nhịp tim.
Coenzyme Q10 giúp cho cơ tim sản sinh ra nguồn năng lượng, hỗ trợ giảm bị rung nhĩ, nhưng người có huyết áp thấp hoặc đang uống thuốc chống máu đông không được tự ý uống.
Vitamin C và E có tác dụng chống oxy hóa, giảm tổn thương ở cơ tim. Tuy nhiên, uống với liều cao kéo dài có thể gây ra rối loạn điện thế tế bào. Không nên uống theo kiểu càng nhiều sẽ càng đẹp.
Vitamin D có liên quan trực tiếp đến hoạt động kênh ion calcium. Nếu bị thiếu làm gia tăng nguy cơ bị rung nhĩ, còn nếu dư thừa sẽ gây vôi hóa cơ tim, gia tăng calcium trong máu.
"Vitamin D không phải cứ uống là sẽ được hấp thụ vì cần có ánh nắng và vận động thể lực đi kèm", theo y học khuyến cáo.
Magnesium là khoáng chất quyết định sự ổn định trong nhịp tim. Thiếu magnesium có thể gây ra bị rung nhĩ, ngoại tâm thu, nhịp nhanh thất và xoắn đỉnh, dạng bị rối loạn nhịp tim nguy hiểm, dễ bị ngừng tim đột ngột.
"Trong lâm sàng, magnesium là xét nghiệm bắt buộc ở bệnh nhân bị loạn nhịp tim. Cho bổ sung đúng lúc có thể cứu mạng kịp thời".
Để bổ sung nguồn Vitamin an toàn, giới y tế chuyên môn có đưa ra khuyến cáo như sau:
- nếu cần bổ sung Vitamin nhóm B phải có kết quả từ xét nghiệm máu hoặc từ bác sĩ chỉ định.
- Vitamin C–E chỉ cho bổ sung sau phẫu thuật hoặc bị stress ôxy hóa cao
- Vitamin D cho bổ sung khi chỉ số nồng độ máu thấp;
- Magnesium cho bổ sung khi có dấu hiệu thiếu kém hoặc từ kết quả xét nghiệm máu.
Rối loạn nhịp tim không chỉ đến từ sự căng thẳng hay bệnh có sẳn trong người. Thiếu hoặc dư thừa vitamin và khoáng chất là yếu tố tuy diễn biến âm thầm nhưng khá nguy hiểm.
"Không có loại vitamin nào là an toàn tuyệt đối. Bổ sung phải dựa trên nhu cầu thật, qua kết quả xét nghiệm máu và theo dõi y tế", lời khuyên từ y học có nhấn mạnh.