
Năm 1980, tôi 24 tuổi, y sĩ mới ra trường ba tháng, được phân công về Trạm xá xã Phước Long, Giồng Trôm, Bến Tre. Cả trạm chỉ có hai người: tôi và chị Hai nữ hộ sinh. Điện không có, thuốc men dụng cụ cũng rất hạn chế.
Khoảng 8 giờ tối, nước sông Hàm Luông bắt đầu lớn. Trăng non mờ sau những đám mây, gió chướng thổi lồng lộng trên sông. Tôi đang ngủ gà ngủ gật trên ghế bố thì có tiếng đập cửa dồn dập.
"Bác sĩ ơi! Cứu mạng! Con Tám nhà tui nó giựt, sùi bọt mép!"
Ông Sáu Lành ướt như chuột lột, giọng lạc đi. Phía sau là thằng nhỏ chừng 12 tuổi, run cầm cập. Tôi chụp cái ống nghe, chân xỏ vội đôi dép tổ ong.
Con Tám 18 tuổi, mới cưới được hai tháng. Nghe đâu nó bị sốt, đái rát mấy ngày, ra tiệm mua thuốc về uống. Không biết thuốc gì, uống xong nửa tiếng thì lăn ra co giật, người tím tái.
Tôi rọi đèn pin. Đồng tử giãn, nhưng còn phản xạ. Mạch nhanh, nhẹ. Huyết áp không đo được. Sốc phản vệ. Hôm đó, adrenalin ở trạm xá chỉ còn đúng hai ống. Tôi rút một ống tiêm bắp đùi. Nhưng người con Tám cứ lả dần.
"Phải chuyển lên Bệnh viện tỉnh ngay, không là chết," tôi nói. Mặt ông Sáu tái mét.
Đêm hôm, đường bộ từ xã ra thị xã Bến Tre phải vòng qua hai cái cầu dừa dài hơn hai chục mét và vô số cầu khỉ, đi mất 4-5 tiếng. Chỉ còn đường sông. Nước đang lớn, ghe máy đi một mạch tới bến bệnh viện tỉnh chỉ chừng 50 phút. Tôi hỏi:
"Chú Tư nhà che có ghe máy không chú Sáu?"
"Có chiếc ghe máy đuôi tôm. Để tui năn nỉ ổng coi sao."
"Sao cũng được. Đi càng sớm càng tốt."
Ngày ấy dân quê người ta sống với nhau rất thân tình. Sẵn sàng giúp nhau mọi lúc mọi nơi.
Chú Tư cởi trần, đóng mỗi cái quần đùi, lật đật đẩy ghe ra khỏi ụ, giựt máy. Chiếc ghe máy đuôi tôm mui lá, nổ xành xạch.
Chúng tôi khiêng con Tám xuống. Nó nằm thượt trên tấm chiếu, mẹ nó ngồi ôm đầu, tóc tai rối bời, khóc không ra tiếng. Tôi quỳ một bên, một tay giữ ven truyền, tay kia bắt mạch liên tục, mắt ngó coi nó còn thở không. Dịch truyền là chai glucose 5% cuối cùng của trạm, không còn loại nào khác.
Ghe rời bến một lúc thì máy khục khặc. Sông nước đen ngòm, hai bên dừa nước xào xạc. Nước lớn, sóng vỗ mạn ghe ộp oạp. Bóng tối bao trùm tất cả, không phân biệt được đâu là nước là trời, đâu là bến đâu là bờ.
Qua khỏi Vàm, con Tám lên cơn co giật rồi mạch lại yếu đi. Còn ống adrenalin, tôi chích luôn. Miệng lẩm bẩm: "Ráng lên em, ráng lên. Sắp tới rồi." Lúc đó tôi cũng không biết phải vái trời hay vái ai nữa. Sách vở nói sốc phản vệ tỷ lệ tử vong cao lắm nếu không được cấp cứu đầy đủ kịp thời. Mà trên ghe này chỉ có thằng y sĩ mới ra trường, cây đèn pin và không còn ống thuốc chống sốc nào. Lúc này con Tám nó mà ngáp ngáp thì chỉ còn nước ép tim, hô hấp miệng qua miệng.
Đến đoạn sông gần tới bệnh viện, máy khục khặc rồi tắt ngúm. Chú Tư mặt cắt không còn hột máu, nhảy xuống sông lặn hụp kiểm tra chân vịt. "Chết cha... chân vịt bị quấn mớ lục bình!"
Mười phút trôi qua như mười năm. Tôi lấy chiếc chiếu còn lại trên ghe đắp cho con Tám, người nó lạnh như nước đá. Mẹ nó ngất đi, tỉnh lại cứ gọi "Tám ơi con ơi". Tôi nhìn đồng hồ: 9 giờ 25. Mạch con Tám càng lúc càng yếu. Tôi gào to át tiếng gió:
"Mấy chú ơi, bơi tay đi! Bơi đại đi!"
Chú Tư, ông Sáu vớ lấy cây dầm, cắm đầu bơi. Gần tới bờ, tôi cũng quăng dép, nhảy xuống phụ đẩy ghe. Nước lớn ngập tới ngực, lạnh thấu xương. Đá, mảnh sành ven sông cứa lòng bàn chân rát buốt, nhưng lúc đó sao không thấy đau.
Ghe cập bến Bệnh viện tỉnh là 10 giờ kém. Tôi ẵm con Tám chạy chân đất vô phòng cấp cứu máu dưới chân loang ra:
"Cấp cứu! Sốc phản vệ!"
Kíp trực chạy ra, chuyển con Tám lên băng ca đẩy ào vô khoa .
Tôi ngồi bệt xuống hành lang vì mệt, lúc đó mới để ý thấy hai bàn chân rách bươm, máu trộn với bùn. Chị điều dưỡng mang ra đôi dép, tôi lắc đầu. Ngồi đó chờ.
3 giờ sáng, bác sĩ trực đi ra, vỗ vai tôi: "Nó qua rồi. Mày dữ thiệt. Đi chân đất chuyển bệnh còn đẩy ghe cấp cứu."
Tôi không cười nổi nhưng nhẹ cả người.
Sau này tôi học lên bác sĩ, đi học chuyên khoa, rồi thành bác sĩ khoa Hồi sức bệnh viện tỉnh. 40 năm trôi qua, tôi đã trực đêm cấp cứu hồi sức cho hàng ngàn ca, nhưng chưa đêm nào dài như đêm cấp cưu chuyển bệnh bằng ghe máy năm đó. Chưa lần nào tôi thấy rõ được cái lằn ranh sống chết nó mỏng manh đến vậy, chỉ cách nhau một cái khục khặc máy nổ, hay một ống adrenalin cuối cùng.
Bây giờ thỉnh thoảng về lại cái trạm y tế xã năm ấy, tôi vẫn ra bến sông cũ. Bến giờ đã tráng xi măng, ghe máy đuôi tôm giờ thay bằng tàu làm du lịch. Nhưng nhắm mắt lại, tôi vẫn nghe tiếng máy khục khặc, tiếng dầm quẫy nước, và tiếng chân đất của thằng y sĩ trẻ bồng bệnh nhân chạy trên đường nhựa, phía sau là sự sống của một người con gái mười tám tuổi.
Có những ký ức, nó không nằm trong sổ sách hồ sơ, nó nằm trong lòng bàn chân, mỗi bước đi là một lần nhắc nhở: làm thầy thuốc, có khi dù đi chân đất vẫn phải cố chạy đua với tử thần.
VietBF@sưu tập