News Library Technology Giải Trí Portals Tin Sốt Home

Go Back   VietBF > Other News|Tin Khác > Member News | Tin thành viên

Số bài trả lời (Reply's) : 547   -   Số người đă xem (Viewers) : 68039
Reply
Page 54 of 55 « First 4445253 54 55
 
Thread Tools
Old 02-12-2020   #531
hoanglan22
hoanglan22's Avatar
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Apr 2011
Posts: 8,615
Thanks: 6,789
Thanked 11,730 Times in 5,441 Posts
Mentioned: 437 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 3752 Post(s)
Rep Power: 20
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8
Reputation: 65459
Default Từ Trung Tâm 3 TMNN qua Quang Trung đến Đồng Đế-Nha Trang



Sau khi tŕnh giấy tờ và hoàn tất mọi thủ tục tại Pḥng Tuyển mộ Nhập ngũ Quân vụ thị trấn Sàig̣n-Gia định, chúng tôi được chỉ định lên xe GMC không có mui che đậu sẵn ở trước cửa. Mỗi xe chở 30 tân binh, đoàn xe trực chỉ đi đến Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập ngũ.

Xe đi trở lại về hướng chợ Ḥa Hưng, qua chợ Ông Tạ, đến ngả tư Bảy Hiền, rồi thẳng đường đi Quang Trung.

Tôi ngồi yên lặng trên băng xe phía sau, nh́n những quang cảnh sinh hoạt quen thuộc của đường Lê văn Duyệt, con đường mà tôi đă lớn lên với tuối học tṛ của những buổi trưa nắng, buổi chiều mưa…Tôi mở mắt to nh́n lại một lần chót, trước khi tôi rời xa khung cảnh thân thương quen thuộc ấy.

Xe cộ vẫn tấp nập ồn ào, con đường vẫn xôn xao như ngày nào.

Thấy đoàn xe chở tân binh đi ngang qua, dân chúng hai bên đường vẫy tay chào tạm biệt. Tôi nghe tiếng la ó từ trên xe của những người bạn tân binh vẫy tay chào lại, nhất là mỗi khi xe đi qua mặt các cô thiếu nữ đang đi xe đạp, xe gắn máy …

Trung Tâm 3 Tuyển Mộ Nhập ngũ
Đoàn xe rẽ vào cổng Trung Tâm 3 Tuyễn Mộ Nhập Ngũ và đi theo con đường quanh co dọc theo các dăy nhà, trại làm việc. Xe ngừng lại. Chúng tôi được lệnh xuống xe, xếp hàng ngồi chồm hỗm chờ các cán bô Trung Tâm sắp xếp công việc. Sau khi được các Cán bộ Trung Tâm 3 cấp phát quân trang tạm thời, đọc cho ghi số quân, trời đă gần nửa đêm, chúng tôi được các cán bộ TT3 dẫn đi đến các barrack để t́m chổ nghỉ lưng tạm, chờ sáng hôm sau làm việc tiếp.

Giường ngủ là hai dăy nền xi măng, chiều ngang khoảng 2m5, xây cao hơn mặt nền nhà khoảng 0.5m, song song theo hai bên vách của barrack, chạy dài từ cửa trước cho đến cửa sau. Chính giữa barrack treo cái bóng đèn tỏa ánh sáng lờ mờ, như thiếu hơi điện. Mọi người trưng dụng những quân trang tạm thời vừa mới được cấp phát, trải ra trên nền xi măng để nằm tạm qua đêm.

Đêm đầu tiên bắt đầu cuộc đời lính, được nếm mùi đời có chút hơi “bụi”, tôi cảm thấy khó ngủ v́ đông đảo người ồn ào và khói thuốc lá bay mù mịt.

Tôi nằm trăn trở, xoay ḿnh qua lại, cố dỗ giấc ngủ. Những h́nh ảnh của thành đô cứ ẩn hiện chập chờn trước mắt. H́nh ảnh của gia đ́nh, của bạn bè, của người yêu, người chưa yêu, h́nh ảnh phố xá tấp nập, h́nh ảnh căn pḥng nhỏ của tôi có kê chiếc bàn vuông và kệ sách đựng đủ loại sách báo....

Buổi sáng ngày kế tiếp, các Tân Binh tập hợp xếp hàng dài, ngồi xếp bằng bẹp xuống đất, được các cán bộ của Trung Tâm 3 phát cho một xấp giấy có in sẵn các mẫu khai lư lịch, t́nh trạng sức khỏe v.v…
Ngồi chờ nghe các cán bộ giải thích, chỉ dẫn nầy nọ, nọ kia…Nắng lên, bắt đầu cảm thấy nóng nực, mồ hôi rịnh trên trán, hai chân tê mỏi, tôi muốn duỗi chân ra một cái cho thoải mái…mà không duỗi ra được!

Trung Tâm 3 TMNN 1972

Mặt trời đă lên đến đỉnh đầu, chúng tôi mới được tan hàng. Mọi người tụ năm tụm ba đứng đầy dưới những tàng cây Bá Đậu dọc theo hai bên con đường đi vào dẫy nhà lợp tôn dung làm chổ làm việc cho các cán bộ của Trung Tâm. Kẻ đi t́m nước uống, người ngồi ph́ phà nhả khói …

Buổi chiều, chúng tôi được di chuyển sang một khu trại nhà tập thể, bên trong có để sẵn hơn 200 chiếc giường chồng hai tầng bằng gỗ, cũ kĩ. Chúng tôi được lệnh tạm trú tại đó, chờ đến khi có lệnh mới.

Một bồn nước được xe kéo đến, mọi người xúm nhau bu quanh để chờ hứng nước vào chiếc b́nh bằng nylon cá nhân, có h́nh dạng như cái gối nhỏ, chứa khoảng 5 lít nước. Cảnh chen lấn, hổn độn vô trật tự. Tôi đứng nh́n thấy mà chán! Không hiểu tại sao dân ḿnh ǵ ǵ cũng dành giựt nhau, từ ăn uống ở các nhà hàng quán, cho tới các nơi giải trí chen lẫn nhau, xô đẩy nhau mua vé xem ciné, xem đại nhạc hội . .

Tôi đứng chờ cho bớt người dành giựt để hứng một ít nước cho vào chiếc b́nh nylon chứa nước của tôi, nhưng hết đợt nầy lại đến đợt khác, người người cứ tiếp tục giành giật. Nh́n thấy có nhiều anh đă lấy nước xong rồi, c̣n trở lại cởi áo ra tắm tại chổ, nước chảy tràn ngập ra sân…Chán nản, tôi bỏ đi sang Câu Lạc Bộ bên kia con đường, mua một ly cà phê đá và một gói thuốc lá ngồi nhấm nháp.

Tôi nhả khói, nh́n sang bên kia xem thiên hạ đang chen lấn, dành giựt la chí chóe.

Uống xong ly cà phê, ph́ phà vài điếu thuốc lá, tôi đi trở về căn pḥng tập thể. Định ngả lưng ngủ một giấc, nhưng bên trong quá nóng nực, lại ồn ào và nực mùi khói thuốc. Tôi cũng hút thuốc lá lai rai, nhưng c̣n không chịu nỗi được với mùi khói thuốc dầy đặc nên đi ra ngoài, ngồi dựa lưng nơi gốc cây Bá Đậu có cành lá trải rộng và thiu thiu ngủ.

Mặt trời xế bóng, cán bộ Trung tâm 3 phát loa phóng thanh gọi tập hợp và có người hướng dẫn xuống nhà Bàn (pḥng ăn)lấy thức ăn. Trong nhà tập thể đă nóng vậy, mà nhà Bàn c̣n nóng hơn!

Tôi đứng chờ đến phiên ḿnh lấy thức ăn, mồ hôi chảy đẩm ướt mặt mày, quần áo. Nhà Bàn phất lên mùi hôi v́ thiếu sạch sẽ. Ngửi mùi thôi.. là thấy đă muốn nhợn ói. Tôi không biết một lát nữa đây, thức ăn sẽ như thế nào?

Tôi chỉ lấy cơm thôi, không lấy thức ăn v́ mùi cá tanh quá! Cơm nấu trong cái chảo to, có bỏ vitamine trên mặt màu hơi vàng. Trở lại Câu Lạc Bộ để mua thức ăn và ly trà đá uống để “chửa lửa”, tôi ngồi ĺ bên đó cho đến chập tối, khi có lệnh tập hợp mới trở về.

Chiều tắt nắng, không khí dịu bớt hơi nóng. Sau khi tập hợp xong, tôi t́m chổ t́ểu tiện và tắm “dă chiến” một phát cho khỏe người, xong trở lại chiếc giường chồng hai tầng nằm mắm mắt.. để đó mà nghe chung quanh đầy những âm thanh không được êm dịu. .

Buổi sáng hôm sau, thiên hạ thức dậy ồn ào ở bồn chứa nước để rửa mặt, đánh răng. Một vài người xô đẩy, gây gổ dành đến phiên ḿnh trước. Tôi dùng lượng nước c̣n lại ở trong b́nh dùng làm gối kê đầu để rửa mặt, chớ không đến bồn chứa nước.

8 :30 sáng, tập hợp. Mỗi người được phát cho một khúc bánh ḿ dài chừng 6 inches và một ít đường cát trắng để ăn với bánh ḿ. Sau đó cán bộ Trung Tâm đọc tên từng người lên nhận giấy phép cho về. Tôi không được phép về, v́ bữa khai trong phiếu sức khỏe, mắt bị cận thị, nên họ giữ tôi lại chờ chở sang bệnh viện Cộng Ḥa khám mắt.

Tất cả được về phép, chỉ c̣n khoảng 50 người ở lại chờ đi khám bệnh. Nh́n thấy thiên hạ đi phép mà tôi thèm thuồng. Mới xa nhà, xa thành phố có mấy hôm, tôi tưởng chừng như cả tháng…Tôi nhớ nhà vô cùng, nhớ phố phường, nhớ người yêu..khoắc khoải trong ḷng.

Khu nhà tập thể vắng lặng, không tiếng ồn ào, không mùi khói thuốc lá. Bọn người ở lại chờ đi khám sức khỏe được tắm rửa no nê. Buổi tối, tôi sang Câu Lạc Bộ ngồi uống cà phê, khói lửa, nghe nhạc đến khuya mới về ngủ.

Ba ngày kế tiếp, mỗi buổi sáng thức dậy tập họp, có xe GMC đậu chờ sẳn chở sang nhà thương Cộng Ḥa khám mắt. Xe chạy ngang qua các khu dân cư đang sinh hoạt, thấy không khí vui làm sao.. Nh́n những cặp t́nh nhân trẻ đang chở nhau trên xe gắn máy qua lại trông mà thấy phát thèm. Tôi liên tưởng đến ḿnh của những ngày tháng cách nay hơn một tuần lễ, nữa tháng, ḿnh cũng hạnh phúc được làm tài xế như vậy, rồi chợt tiếc nuối cho những ngày tháng đă vụt qua mau..

Đám người đi phép trở lại, hôm sau được gọi tên, mang quân trang lên xe GMC chờ sẵn đưa sang Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung thụ huấn Giai đoạn I Khóa Sinh Dự Bị Sĩ Quan. Cứ mỗi ngày, ngày nào cũng có người đi.

Năm 1972 là năm Tổng động viên. Tất cả sinh viên học sinh nếu không đủ điều kiện hoăn dịch theo luật tổng động viên mới của Chính phủ phải vào lính. Có tất cả 12 khóa Sĩ Quan Trừ Bị, mỗi khóa có từ 500-900 người. Tôi bị kẹt ở lại khám sức khỏe 2 tuần lễ, bị lọt xuống đến khóa 10B/72.

Tôi được cho về phép 3 ngày, sau khi có kết quả khám mắt. Chả được ǵ! Cận nặng, cận nhẹ, cận thị hay không cận ǵ cũng cá mè một lứa. Ba ngày phép tôi ở nhà, không muốn đi đâu, không muốn thăm em nào hết. Nằm trong Trung Tâm 3 th́ nhớ nhung đủ thứ, giờ được về nhà, tôi lại không muốn đi đâu, mà cảm thấy lưu luyến cái không khí gia đ́nh ḿnh, tôi muốn đưọc gần gũi với cha mẹ, với anh chị em.

Hết phép, trở lại Trung tâm 3. Hôm sau tôi được gọi tên sang TTHL/Quang Trung để thụ huấn giai đoạn I Khóa Sinh Dự Bị Sĩ Quan.

Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung

Sau khi thụ huấn hết giai đoạn I tại đây, các Khóa Sinh lên đường đi công tác, được tạm thời gắn Alpha.

Đoàn xe GMC chở đám SVSQ trớ lại Quân trường Quang Trung sau hơn 2 tháng đi công tác chiến dịch tuyên truyền cho Hiệp Định Paris 1973.

Chúng tôi thiểu năo liệng cái ba lô nặng nề lại chiếc giường sắt 2 tầng với dáng vẽ mệt mỏi. Buối tối, mọi người được lênh tập họp ngoài sân của Liên Đoàn để nghe sĩ quan cán bộ Tiểu Đoàn Trưởng có đôi lời và sau đó về tập họp tại sân Đại đội trước barrack đang ở. Chúng tôi ngồi mà buồn ngủ, đầu cứ gật tới, gật lui.

Không có ai giơ tay lên thắc mắc, hay phát biểu ư kiến như những lần trước, mà hầu hết …h́nh như ai cũng chỉ chờ “tan hàng cố gắng”.

Tưởng là thiên hạ buồn ngủ, chờ cho tan hàng để ..ngủ nghê. Nhưng khi tan hàng rồi mọi người lại xúm nhau chụm đầu lại chuyện tṛ in ỏi. Họ kể cho nhau nghe 1001 chuyện những ngày đi chiến dịch. Anh nào cũng móc bóp ra khoe h́nh ảnh người yêu, h́nh má nuôi, chị nuôi, em nuôi .., không anh nào khoe h́nh cha nuôi và anh nuôi!.

Riêng tôi, mấy tháng đă quen sống thoải mái, giờ trở lại khu nhà tập thể ồn ào, đông nghẹt hơi người, tôi cảm thấy ngột ngạt, hơi khó chịu ..

Những ngày kế tiếp, chúng tôi không ra bải tập mà ngồi học trong pḥng. Lệnh của Tiểu Đoàn bảo tất cả Khóa Sinh phải “tháo Con Cá”(Alpha) xuống, trở lại là Khóa Sinh Dự Bị Sĩ Quan như trước.

Trớ lại ăn cơm ở nhà Bàn..ớn “ tới cổ. Bữa nào nhà Bàn cũng thu dọn cho heo ăn mệt nghỉ. Thực phẩm mang vào quân trường sau chiến dịch, đứa nào cũng c̣n đầy ba lô, ăn cả tuần lễ mới hết. Xuống nhà Bàn chỉ lấy cơm thôi, rồi mang sang Câu Lạc Bộ ngồi ăn.

Những câu chuyện sau khi đi chiến dịch về, không biết nói sau cho hết. Hể đến giờ học th́ tạm ngưng, giờ nghỉ giải lao (Break time), giờ tan học là thiên hạ tiếp tục quay lại “Cuốn phim tạp lục” đi Chiến dịch trao đổi với nhau. Có anh th́ nói nhiều, có người lại ngồi đăm chiêu trầm ngâm khó hiểu.

Tôi bắt đầu lấy giấy bút ra viết những bức thư gởi về thành đô cho những người tôi đă hứa. Tôi biết trước, cố gắng tránh né không “ kết” thêm những t́nh cảm vương vấn, mà giờ nầy vẫn phải trả nợ giấy bút..viết mỏi tay muốn rụng rời, ư là tôi cố gắng thu gọn, chỉ viết có vài ḍng, viết vắn tắt cho mỗi bức thư.

Thư viết gởi cho bạn bè, là tay tôi nó muốn ră rời. Tôi chưa có th́ giờ viết thư gới về cho gia đ́nh của tôi nữa.

Buối tối trong barrack như ngày hội Tết, anh nào cũng ngồi kề bên cái rương cây đựng quần áo, bên nhọn đèn cầy cậm cụi, cấm cúi viết thư. Câu Lạc Bộ bán sạch hết đèn cầy, các “thư sĩ” phải trưng dụng đến đèn pin. Đêm nào sĩ quan cán bộ Đại Đội Trưởng đi kiểm soát cũng la hét ôm xồm v́ một số anh em miệt mài “gởi ḍng tâm sự” qua giấy bút, không ngủ đúng giờ qui định. Anh em áp dung phương cách ngụy trang “trùm mền”, mở đèn pin, nằm xấp viết thư kín đáo.

Buổi sáng, xếp hàng đi đến lớp học, đă có hơn phân nửa đứng sang một bên “khai bịnh” lên bệnh xá xin thuốc, chích thuốc. Anh em trong thời gian chiến dịch, đi uống “cà phê sửa”, c̣n “dấu sửa” mang theo quân trường. Một số khác th́ cất dấu “hột xoài, hột mít” dưới háng đêm vô quân trường để trồng. Viên sĩ quan Đại Đội Trưởng khóa sinh phải buột miệng chửi thề:

-“Đ.M..! Thế nầy th́ học hành, tập tành cái chó ǵ …”

Sau hơn một tuần lễ trở lại quân trường Quang Trung, chúng tôi được lệnh thu xếp quân trang, sang Trại Chuyển Tiếp để chờ đi quân trường khác thụ huấn tiếp giai đoạn 2.

Cuộc chiến tranh Việt-nam lên đến hồi khốc liệt từ trước và sau “Mùa Hè đỏ lửa” năm 1972. Năm 1972, có 12 Khóa Sĩ Quan Trừ Bị chính thức và các khóa phụ xếp theo vần như khóa 4, 4A hay khóa 8, khóa 9A, 9B, 9C, hay khóa 10, 10A, 10B, khóa 12, 12A, 12B v.v…, chưa kể một số khác t́nh nguyện vào các binh chủng Hải Quân, Không Quân, Vỏ Bị Đà lạt, Trường Chiến Tranh Chính Trị, Trường Cảnh Sát ..

Đất nước loạn ly, thanh niên xếp bút nghiên ṭng quân nhập ngủ,

“Làm trai cho đáng nên trai

Xuống Đông, Đông tỉnh, lên Đoài, Đoài tan”

Các thanh niên, sinh viên học sinh chúng tôi nao nức, bồi hồi trăn trở theo từng nhịp thở của thời cuộc. Lệnh tổng động viên mới của chính phủ ban hành theo đó th́ thanh niên trong hạn tuổi 18 phải xong năm thứ nhất đại học, 19 tuổi phải xong năm thứ hai, hoặc là xong năm thứ nhất ở các phân khoa Kỷ Thuật. Nếu không đạt được tiêu chuẩn yêu cầu của Nha Động Viên Bộ Quốc Pḥng đề ra ..th́ các chàng trai hăy bắt đầu nghêu ngao hát:



…”Anh sẽ ra đi về miền cát nóng,

Nơi có quê hương mịt mờ khói súng …
Anh sẽ ra đi về miền mênh mông
Cơn gió cao nguyên từng đêm lạnh lùng …”
bài hát “Trả lại em yêu” của nhạc sĩ Phạm Duy và chuẩn bị bàn giao “Đào” cho người khác là vừa ..

Các phân khoa đại học “trai thiếu, gái thừa”. Gần hết những thanh niên thuộc dạng b́nh thường trông được trai đều xếp bút nghiên theo nghiệp binh đao, lên đường ṭng quân nhập ngủ, chỉ c̣n lại thành phần thanh niên được hoăn dịch v́ lư do gia cảnh (con trai duy nhất trong gia đ́nh có cha mẹ ǵa trên 60 tuổi) hay bị tật nguyền …

Quân trường Vơ Bị Thủ Đức chật nức, không c̣n đủ chổ chứa nữa. Tổng Cục Huân Huấn mượn đỡ trường Đồng-Đế Nha Trang (Trường Hạ Sĩ Quan Đồng Đế) để huấn luyện sĩ quan. (Có 12,000 SVSQ Trừ Bị tốt nghiệp trường Đồng Đế-NhaTrang và một số các SVSQ Không Quân, Hải Quân thụ huấn quân sự tại đây)

Tiểu Đoàn của chúng tôi được chỉ định đi đến trường Đồng Đế-Nha Trang.



Trường Đồng Đế-Nha Trang

Chúng tôi được cấp phát cho mỗi đứa một ổ bánh ḿ dài độ 1’-0” và 2 hộp cá ṃi Sumaco để chuẩn bị lên đường. Đứa nào cũng hứng đầy bi đông nước và khệ nệ đeo trên vai ba lô, tay sách sacmaren (sách tay) nặng trĩu.

Sau khi được các sĩ quan cán bộ từ quân trường Đồng Đế dặn ḍ mọi chi tiết, chúng tôi bước lên những chiếc xe GMC đậu chờ sẵn. Đoàn xe lăn bánh rời khỏi TTHL Quang Trung vào khoảng 9 giờ sáng hôm đó theo ngả xa lộ Đại Hàn, ra xa lộ Biên Ḥa rồi trực chỉ Quốc lộ 1. Có lính vỏ trang theo hộ tống và tôi nh́n thấy phi cơ L-19 thỉnh thoảng xuất hiện bay quần trên bầu trời để bảo vệ an ninh.

Đoàn xe đi xuyên qua các tỉnh Phan Thiết, tôi ngửi được mùi nước mắm thơm phức từ những vựa nước mắn nằm dọc theo hai bên quốc lộ; rồi đi qua địa phận các tỉnh Phan Rang, Phan Rí, nắng như lửa đốt. Đoàn xe đi chậm lại khi đi ngang xuyên qua phố xá. Nh́n những người dân địa phương đang đi bộ trên đường bị ảnh hưởng khí hậu khắc nghiệt, người nào mặt mày cũng hóc hác, da đen thui đen thủi, tóc le hoe ..

Quốc lộ 1 có một khoảng đi cặp sát theo bờ biển, một bên là núi đá. Gió biển thổi vào mát rượi, có lẫn mùi muối hăn hắc ..

Đoàn xe dừng lại ở một khoảng quốc lộ cạnh bờ biển, chúng tôi được phép rời xe 15’ để..”xă nước” và vương vai hít thở vài cái cho thoải mái, xong lên xe tiếp tục cuộc hành tŕnh.

Gần xế chiều, chúng tôi đến điạ phận Cam Ranh có bải cát trắng tinh bao bọc những hàng dừa xanh lả lơi thơ mộng. Tôi mải mê nh́n ngắm những vẻ đẹp thiên nhiên của trời đất miền thùy dương mà đă nhiều lần nghe nói đến, nhưng giờ mới được diện kiến. Xe đi khoảng hơn một giờ sau th́ vào đến thành phố biển Nha Trang. Đoàn xe vẫn đi trên Quốc lộ 1, xuyên qua phố xá một đoạn, qua cầu Xóm Bóng độ hơn nửa giờ th́ dừng lại ở trại Tiếp Nhận trường Đồng Đế-Nha Trang, nằm dưới chân đèo Rù Ŕ.

Ở Trại Tiếp nhận 3 tuần lễ, chờ sắp xếp để đưa sang quân trường Đồng Đế. Trại Tiếp Nhận trường Đồng Đế không lớn bằng trại Tiếp Nhận quân trường Quang Trung. Chỉ có 6 cái barrack nằm song song, mỗi bên 3 cái. Ở giữa là sân rộng, có một nhà tiền chế cho toán kiểm sóat cổng ra vào trại. Cuối sân là dẫy nhà dùng làm văn pḥng cho cán bộ phụ trách. Trại Tiếp Nhận nằm trơ trọi dưới chân đồi, không một bóng cây. Ban ngày, nắng rọi vào mái tôn, nóng hừng hực như lửa đốt, chúng tôi phải ra đứng bên hiên nhà đế t́m chút gió thoảng.

Cán bộ trại cắt cử cho chúng tôi làm tạp dịch chung quanh doanh trại. Tối lại th́ tập họp, tất cả ngồi bẹp xuống mặt đất cát, sỏi để nghe các cán bộ hướng dẫn nầy nọ và thỉnh thoảng coi văn nghệ “tài tử” tự nguyện của các Khóa Sinh chúng tôi hát cho nhau nghe đỡ buồn.

Khoá Sinh không được phép rời khỏi khu vực trại Tiếp Nhận. Mỗi ngày có xe kéo bồn chứa nước đến vào buối sáng. Khoảng hơn 11 giờ sáng và 5 giờ chiều mỗi ngày, xe nhà Bàn chở thức ăn đến. Ăn cơm với cá biển kho, mùi cá tanh không chịu nỗi. Lính “công tử” nào nuốt không vô th́ đă có các ông cán bộ và lính phục vụ nhà Bàn có mang theo thức ăn “khá hơn” để bán lấy tiền. Trời trưa nắng gắt, các ông cũng ngụy trang kín đáo mang đến cà phê đá, trà đá, lén lút bán cho các Khóa Sinh. Đứa nào muốn mua ǵ ǵ khác, có thể nhờ các ông cán bộ nhà Bàn làm trung gian mua dùm, tính giá “văn nghệ” thôi.

Hằng ngày, kẻng đánh báo thức 6 giờ sáng, thức dậy ra sân tập thể dục, xong đánh răng rửa mặt, chia công tác, dùng cái rà-mèn đựng cơm ăn “chà láng” giao thông hào chung quanh trại. Nếu không có thêm công tác ǵ th́ ngồi tán dóc, kể chuyện trời trăng mây nước, hoặc đọc sách, viết thư trong lúc chờ xe nhà Bàn đến lảnh cơm ăn.

Hơn một tuần lễ, sau khi đi công tác trở về quân trường Quang Trung, anh em phóng thư đi, giờ đă có thư lại. Thư từ Quang Trung được chuyển ra ngày nào cũng đầy ấp cả bao “chỉ xanh” loại lớn. Khoái nhất là mỗi ngày ngồi chờ cho ông Bưu tín viên (Mail man) của trại vác cái bao to tổ bố đứng giữa sân đọc tên. Chờ cho ông ta đọc trúng cái tên cúng cơm của ḿnh, ra lảnh thư, hối hả mở ra xem. Có anh th́ ra giao thông hào, ngồi trầm ngâm đọc thư, có anh nằm xấp trên giường ngủ đọc thư, có anh ngồi dựa lưng vào vách hè barrack đọc thư …

Tôi nhận được vài lá thư từ Sàig̣n gởi ra, mừng và cảm thấy được an ủi vô cùng giữa khung cảnh đồi núi sỏi đá nắng cháy da. Những ḍng chữ thắm đượm nồng nàng t́nh cảm chan chứa của người hậu phương đă cho tôi có được những giây phút lâng lâng hạnh phúc hồi tưởng nhớ lại mấy tháng đi chiến dịch..



Chuẩn bị sang quân trường Đồng Đế.

Đoàn xe chở chúng tôi đi độ hơn nửa giờ, th́ đến cổng quân trường Đồng Đế. Quân Trường Đồng Đế tọa lạc sát cạnh bờ biển .Ngồi trên xe, tôi nh́n thấy khoảng trống mênh mông trời nước phía trước mặt ở cuối con đường .

Đoàn xe đi qua cổng gát, rồi dừng lại một bên sân Vũ Đ́nh Trường. Cả đám Sinh Viên Sĩ Quan khóa đàn anh đang ngồi chờ, chào đón. Chúng tôi vai mang ba lô, tay xách sacramen nhảy xuống xe là đă nghe tiếng ḥ hét, quát tháo của cán bộ quân trường ra lệnh cho đám “Lính mới” dậm chân tại chổ, miệng đếm nhịp 1, 2, 3, 4 …1,2,3,4. Khi hàng vạn cái chân đă nhịp nhàng ăn khớp với nhau, chúng tôi bắt đầu chạy quanh Vũ Đ́nh Trường chào sân. Sau mấy tháng đi chiến dịch “ăn hút” phây phả, anh em đă tạm quên “mùi” quân trường, cho nên mới chạy hết 3 ṿng, đă có vài “chiến sĩ” ngả gục...và lác đác kéo dài qua đến ṿng thứ 4. Sang ṿng thứ 5, chỉ c̣n lại phân nửa đang chạy mà tôi có cảm tưởng như đang.. đi bộ! Tôi cũng rán cầm cự kéo dài qua được ṿng thứ 5 th́..bắt đầu thấy sao trời chớp nhá, cổ họng tôi khô như có lửa cháy; tôi rán bước thêm vài bước nữa trước khi “gục ngả” nằm dài. Cán bộ quân trường nắm áo tôi kéo đứng dậy, bảo chạy tiếp, tôi lắc đầu, ra dấu tôi đă…hết “xíu quách”, chớ tôi nói không ra lời. Mặc cho cán bộ ḥ hét, tôi quị người xuống chiếc “giường đất” êm ái, để cho tới đâu th́ tới, chớ tôi không c̣n bước nỗi nữa. Biết tôi “làm thật” chớ không phải làm giả, cho nên cán bộ quân trường “thông cảm” cho tôi nằm luôn tại chổ giống như bao nhiêu chiến sĩ khác...Tôi nghĩ anh nào mà c̣n ngoan cố dấu “hột xoài hột mít” dưới háng hay cà phê sửa mang theo từ Quang Trung ra Đồng Đế, có lẽ cũng..văng hột, xịt sửa ra ngoài, khỏi cần chờ ban Quân Y quân trường trao quà tặng 100 đến 500 ngàn đồng, tiền thưởng cho “chiến sĩ xuất sắc”!

Sau một lúc nằm dài thẳng cẳng, các chiến sĩ mới lác đác cục cựa ṃ cái bi đông t́m nước uống. Cán bộ quân trường ngồi ..ŕnh, vừa thấy chúng tôi tay chân “mó máy”, bảo đứng dậy chạy tiếp. Ṿng chạy đợt nh́ nầy gây cấn hơn lần đầu. Cán bộ hướng dẫn ḥ hét dữ tợn hơn, vừa chạy theo sau lưng đếm nhịp, vừa đẩy người tôi đi tới. Tôi đi gần được một ṿng th́ thấy “ngàn sao”..và hết biết ǵ chung quanh nữa…

Màn ra mắt Quân Trường chỉ có vài tiếng đồng hồ thôi, một số anh em chúng tôi ê ẩm cả long thể.

Ba tuần lể huấn nhục bắt đầu sau 2 tuần chúng tôi đến quân trường Đồng Đế. Trong 3 tuần nầy, chúng tôi phải chịu nép ḿnh chấp hành những qui luật của quân trường, thi hành những h́nh phạt, biểu ǵ làm nấy, bảo sao làm vậy.., phải thi hành, không được phản đối cũng như có ư kiến. Phải chịu đựng những kham khổ. Chúng tôi được cắt cử làm những công tác mà tay chân phải đụng chạm với bùn śnh, chất thải dơ bẩn, không được phép thay quần áo, tắm rửa, để nguyên áo quần dơ và mang giầy vớ dơ ngủ một đôi ngày. Chân nhớt nhợt v́ chất bẩn tồn động trong đôi vớ thối, nơi các ngỏ ngách thoát mồ hôi, chổ tiếp giáp của thân thể với tứ chi không được vệ sinh nên ”lên men”..cũng nhớt nhợt, phát ra mùi khó ngửi và ngứa ngái khó chịu vô kể. Chúng tôi không được nhân thư từ, không gặp gở, tiếp xúc với ai, ngoài những người bạn đồng ngủ và sĩ quan Đại Đội Trưởng Khóa sinh. Không được đi đến Câu Lạc Bộ, không hút thuốc lá …

Một số khoá sinh không chịu đựng nỗi gia đoạn huấn nhục đă bỏ cuộc nửa chừng, hoặc v́ quá bức xức, quá sức chịu đựng của ḿnh nên nổi khùng không kềm chế được ḿnh, gây nên những hành động đáng tiếc ..

Hết 3 tuần lễ huấn nhục là một cuộc di hành từ trường lên đến đỉnh núi Đồng Đế có cái tượng “thằng Cù Lần” trên chót vót.

Không biết 2 câu thơ:

“Anh đứng ngàn năm thao diễn nghỉ,

Em nằm xơa tóc đợi chờ anh”

Do ai là tác giả? Và đă có từ lúc nào để diển tả khung cảnh bức tượng cao khoảng 25m, đúc bằng ciment, sơn màu trắng, đứng ở thế “nghỉ” của nhà binh đặt trên đỉnh núi; bên
dưới chân của bức tượng là đường nóc của những dăy núi thấp. Đứng phía xa xa từ hướng thành phố Nha Trang, nh́n giống như những đường nét của một người phụ nữ, đang ở thế nằm nghiêng, tóc xơa dài.. đợi chờ ..
Vượt qua được ngọn núi cao để đến đỉnh đồi, rồi đi trở xuống lại chân núi, cũng phải đổ nhiều mồ hôi v́ vai mang ba lô, đầu đội nón sắt cùng súng ống, đạn dược nặng nề.

Từ sáng sớm, các Khóa Sinh rời trại, di quân theo hàng dọc đường ra Ba Làng đến Bải Tiên ṿng theo chân núi, một bên là vách đá, một bên là bờ biển. Buổi sáng sớm, thủy triều xuống thấp, bải cát dài, rộng, có lẫn đá lớn nhỏ lỏm chỏm. Đi khoảng 3 km, rẽ sang con đường ṃn, đi leo lên những triền dốc. Có lúc gặp con dốc hơi thẳng đứng, Khoá Sinh phải rán khom lưng, hoặc ḅ, hay dùng đủ phương cách để vượt qua. ̀ ạch theo chân các bạn ḿnh, đến xế trưa, tôi cũng được “ôm chân” thằng Cù Lần. Một sĩ quan cán bộ ngồi sẵn ở dưới chân bức tượng ghi tên, ghi danh số để biết người nào đă đến nơi, người nào c̣n “chém vè” ở lưng chừng núi.

Trên đường xuống núi th́ đỡ vất vả hơn lúc leo lên. Cứ đổ dốc mà..chạy! Có lúc dùng bàn tọa ngồi cho trượt xuống núi, và biết chắc là về barrack sẽ ..bỏ cái quần!

Xế chiều, tất cả các Khóa Sinh tập hợp đầy đủ dưới chân núi. Sau khi sĩ quan cán bộ kiểm điểm xem c̣n em nào ở nán lại để tâm sự với thằng Cù Lần không? Đầy đủ quân số rồi, chúng tôi trở về trại lúc trời nhá nhem tối.

Anh em được tắm một bữa thả dàn, để chuẩn bị sáng hôm sau mặc quần áo sạch sẽ, nguyên bộ văi kaki mầu vàng nâu, có thắc cravat, đầu đội mũ lưỡi trai, dự lễ gắn Alpha, chánh thức trở thành Sinh Viên Sĩ Quan.



Sau buổi lễ gắn Alpha, chúng tôi được đi phép và phải trở lại quân trường lúc 6 giờ chiều cùng ngày .

Khu Tiếp Tân tọa lạc kế bên bờ biển, nằm một bên, phía trước cổng chính của quân trường Đồng Đế đông nghẹt thân nhân của các SVSQ đến thăm. Tôi th́..ra Nha Trang không có th́ giờ đi dạo phố phường, chưa quen cô nào hết và gia đ́nh lại ở xa nên..không có ai đến thăm!

Tôi thả bộ đi ṿng ṿng khu Tiếp Tân, nh́n thiên hạ lao xao một lúc rồi tấp vô ngồi nơi mấy cái quán cốc che tạm bằng những miếng vải nylon do vợ con của các nhân viên cơ hữu đang phục vụ trong quân trường bài bán thức ăn uống làm một bụng cho đả thèm, xong tôi la cà xuống những quán cốc khác bán dừa tươi dọc theo bải cát, chọn cho ḿnh được một chiếc ghế bố, ở một vị trí mát mẻ, tôi ngồi nh́n ra khơi trời nước bao la, nghe sóng vỗ ŕ rào, gió vi vu nhăm nhi nước dừa ngọt, mát rượi. ./.



Chú thích : Người viết chỉ nhớ man mán tới đâu viết ra tới đó. Quí vị cựu SVSQ Đồng Đế nào c̣n nhớ chi tiết nào bổ túc thêm cho để anh em cùng chia sẻ những ngày mới vừa “Xếp áo thư sinh từ giả kinh kỳ”.

Đa tạ

Minh Vũ
Attached Thumbnails
Click image for larger version

Name:	image002.jpg
Views:	0
Size:	21.6 KB
ID:	1528483   Click image for larger version

Name:	image006.jpg
Views:	0
Size:	29.2 KB
ID:	1528484  
hoanglan22_is_offline   Reply With Quote
The Following 2 Users Say Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
phokhuya (02-13-2020), trungthu (3 Weeks Ago)
Old 02-12-2020   #532
hoanglan22
hoanglan22's Avatar
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Apr 2011
Posts: 8,615
Thanks: 6,789
Thanked 11,730 Times in 5,441 Posts
Mentioned: 437 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 3752 Post(s)
Rep Power: 20
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8
Reputation: 65459
Default Đường Quang Trung nắng đổ



Cuối tuần vừa qua, anh chàng cựu sinh viên sĩ quan phi hành tại Fort Rucker, thuộc tiểu bang Alabama, cựu học sinh trường trung học Lý Thường Kiệt - Quang Trung, nơi gia đình bố mẹ anh cư ngụ từ thuở đầu tóc anh còn mang“ trái đào “, và nay đang định cư cùng thành phố với tôi, đến chơi, mời tôi đọc một hai bài liên quan đến quê nhà, nơi anh đã sống thời niên thiếu cũng như những ngày ở tuổi thanh xuân trước khi gia nhập binh chủng Không quân. Một nơi chốn có những ngày cuối tuần dành cho những người thân, người yêu gặp nhau, cùng với những chương trình ca nhạc đặc sắc ở Vườn Tao Ngộ để chào mừng các thân nhân cùng các tân binh đang thụ huấn tại Trung tâm huấn luyện Quang Trung.
- Anh đã biết đến trường Lý Thường Kiệt khi bước lên bậc Trung học, anh đã một thời trải qua những ngày tháng nơi quân trường Quang Trung. Đã ba mươi mấy năm anh chưa về thăm chốn cũ làng xưa. Sao anh không viết một vài mẩu chuyện về Trung tâm huấn luyện Quang Trung? Viết đi, viết để đừng quên ngày tháng năm xưa, viết cho những kỷ niệm đừng xóa mờ và còn nhớ tới nhau. Anh không về thì anh nên viết – người con rễ ông chú ruột tôi nói, rồi đề nghị.

- Ờ, khi nao rảnh tôi sẽ viết, có thể qua năm mới, rảnh rang đôi chút không chừng. Tôi trả lời.
Sáng nay,“ Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt – Xếp bút nghiên theo nghiệp đao cung.....” của những ngày tháng năm xưa, lại gọi điện thọai thăm hỏi đã viết bài chưa. Tôi lại hứa ờ ờ, sẽ viết một vài mẩu chuyện nho nhỏ, còn bây giờ đang mắc tập thể dục, nhặt lá, quyét sân.......... Vì vậy, sau khi ăn sáng xong, tôi đã ngồi xuống ghế, với con chuột và cái bàn phím của chiếc máy điện toán trước mặt – ký ức xa xưa về khu vực có đường Quang Trung nắng đổ hiện về, và ngón tay tôi gõ như đánh nhịp theo những chuyện ngày xưa khó quên....

Khi tiếng súng AK, CKC của Việt Cộng Tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 vẫn còn nổ lác đác trên Đồng ông Cộ. Theo lệnh tổng động viên, bốn anh em tôi phải lần lượt nhập ngũ. Ngày 16 tháng 5, vào khoảng 11 giờ, cô em gái chở tôi lên Phòng Quân Vụ tiểu khu Gia Định trình diện nhập ngũ khóa 3/68. Sau những thủ tục thường lệ của phòng Quân vụ, tôi được mời ăn bữa cơm trưa dã chiến đầu tiên trong đời quân ngũ cùng với những anh em khác. Sau đó, chiếc GMC chở chúng tôi trực chỉ và bàn giao chúng tôi cho Quân vụ thị trấn trên đường Lê Văn Duyệt lúc 2 giờ chiều. Từ đây, hai chiếc GMC đã đưa tất cả chúng tôi và các anh từ các phòng quân vụ khác tiến tới Trung tâm 3 tuyển mộ nhập ngũ. Thay vì chạy theo hướng Lăng cha Cả, hai chiếc GMC đã chạy theo đường Võ Di Nguy nối dài, gặp ngã năm Gò Vấp. Đây là giao điểm của năm trục lộ: Võ di Nguy Phú Nhuận nối dài gặp đường Quang Trung, đường Phạm Ngũ Lão nơi có cục địa chính, đường Gia Long Gò Vấp, và đường Cổ Loa với các doanh trại Thiết giáp, Pháo binh chạy tới các xứ đạo Xóm Mới. Trước khi quẹo trái vào đầu đường Quang Trung, ngay góc đường Võ di Nguy nối dài và đường Quang Trung có trại quân khuyển, và tiếp nối là cơ xưởng cắt may quân nhu.....khu dân cư và xứ đạo Xóm Thuốc.... Bên phải đầu đường Quang Trung có các trường Hành chánh Tài chánh, các đơn vị sửa chữa Truyền tin, sở Nông mục của cục Quân Nhu.....xứ đạo Hạnh Thông Tây.....Và từ con đường Quang Trung nắng đổ này, hai chiếc GMC đưa chúng tôi tới Trung tâm tâm 3 tuyển mộ nhập ngũ lúc gần ba giờ chiều.

Sau thủ tục bàn giao, bên cạnh những cán bộ của trung tâm, ông Thượng sĩ già - cán bộ trung tâm 3 tuyển mộ nhập ngũ hướng dẫn chúng tôi xếp hàng điểm danh: “ bốn hàng dọc, mỗi hàng cách nhau ba bước – cao đứng trước, anh đứng đầu làm chuẩn, thấp đứng sau - trước thẳng. So hàng – người này đặt tay phải lên vai người kia, thôi, nghiêm, nghỉ, tan hàng, cố gắng. Từ đời sống dân sự chuyển qua đời sống nhà binh, nên chúng tôi chưa quen với các động tác thao diễn nghiêm nghỉ, lạ lẫm như người từ quê lên tỉnh, khiến ông Thượng sĩ già phải hướng dẫn và lập đi lập lại nhiều lần các động tác căn bản khi tập họp. Có lẽ, với tuổi đời trong lãnh vực quân huấn lâu năm, nên ông kiên nhẫn, nhắc nhở chúng tôi và tỏ vẻ thông cảm với những người trai trẻ đến đây từ bốn phương tám hướng, ngày đầu tiên xa nhà – những tân khóa sinh sống trong doanh trại quân đội mà tâm tư đang vấn vương nhớ thương người thân, người yêu nơi quê nhà: “ Dấu chàng theo lớp mây đưa – Thiếp nhìn rặng núi ngẩn ngơ nỗi nhà “.

Sau khi điểm danh, làm thủ tục, căn dặn đôi điều qui định, chúng tôi lần lượt được lãnh quân trang. Nhìn nhau lụng thụng trong cái áo, cái quần không đúng tấc thuớc, không đúng khổ dạng mỗi người, nhìn nhau thấy tức cười. Mấy anh cán bộ trung tâm nói: “Không sao, anh nào muốn đổi hay muốn sửa thì mai mốt tính, chuyện nhỏ. Bây giờ về phòng nghỉ rồi khi nghe tiếng kẻng thì đem theo cà mèn xuống nhà bàn ăn chiều”. Tất cả tân khoá sinh lại được tập họp, xếp hàng và theo cán bộ hướng dẫn đi về các dãy phòng ngủ với những chiếc giường tầng. Thân thể rã rời, tôi chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay. Khi anh bạn nằm giường kế cận đánh thức tôi dậy, chúng tôi nối đuôi nhau, tay cầm cái cà mèn đi dọc hành lang xuống nhà bàn. Ngày đầu tiên, nhìn những con cá mối trên các khay, nhìn những xô canh bí lõng bõng nước, tôi hơi ngần ngại, lưỡng lự cầm cái muôi xúc chút ít cơm, gắp con cá mối – thấy vậy, hai anh bạn Hinh và Châu mà tôi vừa quen ở phòng quân vụ Gia Định cười, Châu vỗ vai tôi, nói: “Ăn đại đi ông, ăn cho quen, ông anh họ tôi làm cán bộ bên trại Ngô Tùng Châu đã bảo tôi: “ Vào Quang Trung, chú mày phải ăn cho quen, vì nhà bàn nào thuộc trung tâm cũng đều có món cá mối làm chuẩn ”.

Tiếng còi như tiếng dế kêu tập họp mỗi buổi sáng, sau khi tập thể dục và ăn sáng với khúc bánh mì, chúng tôi lần lượt được các vị quân y khám tổng quát mắt, mũi, miệng, tim phổi qua y cụ. Điểm độc đáo làm bọn lính mới tò te chúng tôi ngạc nhiên, khi nghe ông y sĩ bảo kéo quần xuống và tay ông nâng nhẹ hai hòn bi lên, rồi ông nói tốt – tôi ngạc nhiên hỏi, và ông mỉm cười nói: “ xem anh có đúng là nam nhi chi chí để nhập ngũ hay không ”. Vừa qua khỏi tay ông quân y là các ông thợ húi cua nói ngồi xuống. Bàn tay của những anh lính thợ hớt tóc không phải là những bàn tay năm ngón kiêu sa, tay anh lính thợ đẩy chiếc tông đơ như đẩy chiếc bàn ủi, càng nhanh, càng sát, càng tốt. Chỉ vài ba phút sau, bọn tân khóa sinh chúng tôi nhìn nhau như tiếc nuối mái tóc thư sinh ngày nào, và thấy mặt mũi bạn mình không giống ai, mỗi người mỗi khác, trông không giống một con giáp nào.

Khi chưa nhập ngũ, tôi thường đi tắm mỗi khi trời oi bức. Nhưng từ ngày vào trung tâm 3 nhập ngũ, để tâm trí khuây khỏa, bọn chúng tôi thường chơi thẩy móng ngựa, nên mồ hôi cũng như bụi đất làm cả bọn phải đi tắm sau cuộc chơi. Bốn bể nước hình chữ nhật lớn được xây sát cạnh nhau trên một nền ciment cao, được bao quanh bởi những tấm tôn che ngang ngực. Ngày đầu tiên, mấy đứa lính mới to te chúng tôi vừa bỡ ngỡ, vừa ngại ngùng mắc cở, khi bước vào khu vực tắm công cộng thấy mọi người đều tồng ngồng, cười cười, nói nói, kỵ cọ như cùng ca múa vũ khúc không màn che trên sân khấu lộ thiên. Nhưng đến những ngày kế tiếp thì ai cũng hiểu rằng: đời quân ngũ thế thời phải thế - một vài anh có tính lạc quan tếu còn thi vị hóa: Có gì mà ngại, có em nào đâu mà sợ, mà không công khai, không minh bạch hả bạn – vườn Địa đàng có Adam nhưng thiếu bóng dáng Eva! Cả bọn cùng cười.

Trung tâm huấn luyện Quang Trung là trung tâm huấn luyện tân binh lớn nhất của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng để đáp ứng chiến thuật chiến lược và hiện đại hóa quân lực, từ khóa 1/68 các dự bị sinh viên sĩ quan trừ bị đã được huấn luyện giai đoạn một tại đây – đây là giai đoạn sống và sinh hoạt huấn luyện như một người tân binh. Trung tâm huấn luyện rộng hàng trăm mẫu tây, lớn nhất vùng Đông Nam Á, với những địa danh quen thuộc như Trung tâm phát tuyến Quán Tre, vườn Tao Ngộ, ngã tư An Sương...... thành ông Năm, khu thoát hiểm mưu sinh, đoạn đường chiến binh, các bãi tập tác xạ, và bãi Bà đầm với những phi cơ vận tải bay lượn thả những anh chiến sĩ nhảy dù tập luyện ngày đêm. Khi còn là một học sinh bậc tiểu học, tôi thường đứng ở sân bóng đá trước cổng trường trung tiểu học Dũng Lạc, Xóm Mới, coi các phi cơ thả dù như một thú vui. Ngoài các doanh trại dành cho các tiểu đoàn tân binh quân dịch và trại Võ Tánh dành cho các tân khóa sinh chúng tôi, còn có doanh trại Vương Mộng Hồng của sư đoàn Nhảy dù - nơi đây, các tân binh tình nguyện của binh chủng Nhảy dù được huấn luyện căn bản tác chiến. Trong vòng đai Trung tâm huấn luyện Quang Trung cũng có những trại gia binh, nơi cư trú của những gia đình cán bộ đang phục vụ tại trung tâm, cũng như các xứ đạo Công Giáo di cư trốn lánh Cộng sản từ miền Bắc vào miền Nam năm 1954, tiêu biểu là xứ Trung Chánh với những sinh hoạt đức tin sống động, nhiệt thành của các giáo dân, chợ búa và các cửa tiệm tạp hóa với đầy đủ các mặt hàng gia dụng.

Tiếng còi lại vang lên như tiếng dế kêu mỗi buổi sáng, sau khi chúng tôi vừa ăn sáng ngày cuối tuần. Tập họp, điểm danh xong, các cán bộ ra lệnh thu xếp quân trang để di chuyển qua trại chuyển tiếp Nguyễn Tri Phương. Balô đeo trên hai vai, cộng với cái túi quân trang dài vác trên vai, chúng tôi đi bộ từ Trung tâm 3 qua trại chuyển tiếp Nguyễn Tri Phương theo sự hướng dẫn của các cán bộ – dưới ánh nắng gay gắt tháng sáu của buổi sáng, nhễ nhại mồ hôi trán, thấm ướt áo mồ hôi lưng, vai ê ẩm, chân mỏi dã rời, làm chúng tôi mệt nhoài. Khi chân bước tới cổng trại chuyển tiếp thì mặt trời đã lên gần đỉnh đầu. Khẩu khí của những ông hạ sĩ quan cán bộ trại Nguyễn Tri Phương khi tập họp điểm danh khác hẳn thời gian ngắn ngủi sống bên Trung tâm 3 tuyển mộ nhập ngũ. Những làn da đen sạm, khắc khổ của cán bộ, và những răn đe hít đất, nhảy xổm, quay nón sắt đã được nói lớn tiếng một cách lạnh lùng, khi một hai con nhạn là đà, lè phè chậm chạp, không ngay hàng thẳng lối trong hàng quân. Và việc phải đến đã đến, vài ba chục cái hít đất, năm bảy chục cái nhảy xổm đã làm cho bọn tân khóa sinh chúng tôi thấy ớn lạnh trong tuần lễ đầu tiên. Nhưng sau một tuần quen hơi quen sức, chúng trở thành những động tác tập thể dục, thi hành phạt mà miệng cười tươi, làm quê cơ các hạ sĩ quan cán bộ khó tính. Tuy nhiên, một hình phạt gây cho nhiều anh yếu tim xanh máu mặt, lảo đảo, té ra giữa sân, và khiến cho cán bộ trại cũng e ngại ít áp dụng. Đó là trò quay nón sắt mà các tân binh thường gọi là trò quay dế mèng.

Như để các tân binh hay tân khóa sinh làm quen với các sinh họat đời lính, nhận bổ túc quân trang, chích ngừa, uống thuốc. Nên kỷ luật và sinh hoạt trại chuyển tiếp cũng không qúa gắt gao, gò bó. Nhiều anh trói gà không chặt trong đời sống thư sinh, nhưng sau khi vào trại chuyển tiếp với những mũi thuốc TAB làm da người bắt nắng, đen sạm, ăn ngủ khò khò, uống nước phông ten ( Fountain ), ăn cơm nhà bàn mà không thấy bịnh tật chi cả – chỉ thấy đôi khi gảy đờn sột soạt trong đêm vì ăn cá mối mà thôi. Các cán bộ thường nói: “chích TAB thì bắt nắng, nhà binh mà, sợ gì đen với đỏ, nhưng tránh được sốt rét ngã nước, trong nước uống cũng như cơm nhà bàn đều có thuốc khử trùng và vitamin. Không có cá mối không phải là Quang Trung, gảy đàn cho đã ngứa, không chết đâu mà sợ “.

Lớn lên khi trận chiến Quốc Cộng ngày càng khốc liệt. Ngay trước mặt nhà thày mẹ tôi là lối đi vào xóm đài Đức Mẹ, mấy năm trước khi tôi nhập ngũ, trong khu xóm đã có vài ba anh lớn hơn tôi năm bảy tuổi, người thì về trên chiếc nạng gỗ, người thì nằm trên Tổng Y viện Cộng Hoà gần cả năm, còn hai anh Hồng và Xuân ở cách nhà tôi khoảng bẩy tám căn nhà - một anh ở bên phải, một anh ở trong ngõ đối diện thì ra đi vĩnh viễn, anh Hồng để lại người vợ trẻ và hai cháu bé chưa đủ tuổi học lớp mẫu giáo, còn anh Xuân ra đi khi vừa đáo nhậm đơn vị sau mười ngày nghỉ phép mãn khóa, để lại cô bạn gái đang cắp sách đến trường, cách nhà tôi cũng không bao xa. Trong các xứ đạo, nơi gia đình thày mẹ tôi sinh sống, không tháng nào mà không có chia ly, báo tử, thất tung. Những vành khăn tang trên vầng trán những thiếu phụ đang tuổi thanh xuân, những nữ sinh duyên dáng ngây thơ ngày nào đã đánh mất nụ cười khi người yêu vừa ra đi không trở lại. Hệ lụy tang thương của cuộc chiến do Việt Cộng phát động và nuôi dưỡng đã hủy hoại hạnh phúc của mọi tầng lớp, khiến những trai tráng ở tuổi vừa vào đời đã nhận ra cuộc đời mỏng manh của mình, nên ngoài việc đèn sách, không mấy ai dám nặng nợ thê nhi hay có những mối tình vắt vai khi đi trình diện nhập ngũ.
Tuần lễ đầu tại trại chuyển tiếp Nguyễn Tri Phương, các cán bộ không bắt buộc tất cả các tân khóa sinh phải ra khu tiếp tân trong khuôn viên trại vào sáng thứ bảy, ai biết mình có người nhà đến thăm thì ra, còn không thì tùy ý. Để gia đình đỡ vất vả, lo lắng, tôi đã dặn mẹ tôi và các em không cần đi thăm hay tiếp tế gì cả, nên tôi ung dung ngủ nghỉ thoải mái. Nhưng đến tuần kế tiếp, các cán bộ bắt mọi người phải ra khu thăm tiếp tân cho thư thái tinh thần, dù có thân nhân đến thăm hay không. Nên tôi đi tới đi lui khu tiếp tân nhìn bà con thiên hạ như anh chàng mồ côi, bị vợ bỏ, người yêu chê. Còn khu Vườn Tao Ngộ còn gọi là Vườn Cộng Hòa, là khu vực dành riêng để đón tiếp thân nhân các anh em tân binh quân dịch vào mỗi cuối tuần, với những chương trình văn nghệ sống động.

Vài tuần lễ ở trại chuyển tiếp qua mau với những lần lãnh quân trang bổ túc, chích và uống thuốc, tập thể dục buổi sáng. Tiếng dế kêu bất thường liên tục hai ba hồi dài buổi sáng, các cán bộ thông báo tập họp và di chuyển với tất cả quân trang cá nhân. Một lần nữa, chúng tôi được lệnh đi theo các cán bộ hướng dẫn, di hành dọc theo đường lộ từ trại Nguyễn Tri Phương qua trại Võ Tánh. Là ngày cuối tuần, nên không có những đơn vị tân binh di chuyển đến các bãi tập trên đường. Từ trại chuyển tiếp qua trại Võ Tánh cũng không xa, và chúng tôi cũng đã phần nào quen hơi với cá mối nhà bàn. Nên khi đến trại Võ Tánh và tập trung ở sân cờ liên đoàn, ai nấy cũng đã nghiêm nghỉ và so hàng tương đối gần đúng quân cách. Liên đoàn gồm hai tiểu đoàn Nguyễn Huệ và Đinh Tiên Hoàng. Tôi được gọi tên về đại đội 36, thuộc tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng, và sau đó, cùng đội đi theo các sĩ quan cán bộ về đại đội. Trên đường từ sân cờ liên đoàn về đại đội, dọc hai bên đường đi của trại là các hàng cây Bã Đậu với thân cây tua tủa đầy gai, và những đường mương rộng đã được chà láng nhẵn như mặt xi măng, mà một tuần sau ngày về đại đội, chúng tôi mới biết đó là một hai món “ ăn chơi “ dành cho các khóa sinh – chà láng bằng Cà mèn mỗi buổi sáng như một hình thức thể dục trong huấn nhục, và chống tay hít cây Bã Đậu khi bị cán bộ phạt dã chiến. Ít lâu sau, hình phạt chống tay hít Bã Đậu đã bị cấm áp dụng khi Liên đoàn nhận thấy gây nguy hiểm cho sức khoẻ và tinh thần của các khóa sinh. Vì sau khi chống tay hít cây Bã Đậu, lòng bàn tay người khóa sinh đã bị rướm máu.
Đại đội 36 có ba sĩ quan cán bộ, tiêu biểu cho ba cung cách sinh hoạt khác nhau. Đại đội trưởng là Đại úy Nguyễn Hổ, nước da bánh mật, tuổi trung niên, cư xử và ăn nói rất điềm đạm với các tân khóa sinh. Ông đặc trách những giờ huấn luyện cơ bản thao diễn, ông chỉ họp đại đội khi cần và ra lệnh như một người anh dặn đò khuyên bảo, chỉ dẫn và giúp đỡ các em trong nhà. Trong các lần tập họp đại đội hay trong các buổi học tập cơ bản thao diễn, ông thường nhắc nhở anh em đừng vi phạm quân kỷ trong doanh trại nhất là trên các bãi tập tác xạ, an toàn tuyệt đối trên thềm bắn, ông nói: “ các anh quay bia tác xạ thì quay từ từ, còn anh em bắn thì hãy bình tĩnh, hít, nín thở, nhắm từ lỗ chiếu môn đến đỉnh đầu đầu ruồi rồi mới bóp cò. Cán bộ sân tập cũng như cán bộ đại đội không muốn các anh bị rớt vì tác xạ”... Hai cán bộ còn lại thì trẻ hơn, Thiếu úy Nguyễn Ẩn với đôi kiếng cận thị, dáng người tầm thước, nét mặt nghiêm và buồn, đi đứng chậm rãi, nói ngắn gọn, trên túi ngực ông có huy hiệu của bằng dù và rừng núi sình lầy. Thiếu úy Ẩn xuống đại đội bất thường, ông thường lấy một vài khẩu từ “ Giá súng “ của tân khóa sinh để kiểm soát súng đã lau chùi cũng như nòng súng sạch hay dơ. Vừa đi bãi tập được hai tuần, chiều tối thứ ba, Thiếu úy Ẩn xuống đại đội sau khi anh em vừa từ nhà bàn về. Ông tới giá súng nhấc một cây lên, kéo cơ bẩm, bóp cò và lập lại ba lần, rồi để miếng giấy trắng nhỏ vào buồng đạn, mắt nhắm thẳng vào đầu nòng súng và lắc đầu. Nhìn danh số trên báng súng, đeo cây súng trên vai rồi ông kêu đại đội tập họp. Với giọng nói đanh thép, ngắn gọn, Thiếu úy Ẩn cảnh cáo toàn đại đội về tính lười biếng khi không bảo toàn quân trang quân dụng đúng mức, nòng súng dơ làm kẹt đạn, trở ngại tác xạ và có thể làm bể nòng súng. Ông nhắc lại nhiều lần về quân phong quân kỷ rồi ra lệnh tan hàng, và không quên phạt hai đêm dã chiến anh Việt – người bạn cùng đại đội và thuộc trung đội 2. Vài anh đã nghe chuyện về Thiếu úy Ẩn ở đâu đó, nói: “ Ổng là dân tác chiến, bị thương, mới về trung tâm, khó tính, hay phạt dã chiến lắm”.
Sau buổi chiều ngày Thiếu úy Ẩn khám súng, Đại úy Hổ biết tin anh Việt bị hai đêm dã chiến, đã xuống tập họp đại đội và ra lệnh cho đại đội phải thực hành tốt những điều các cán bộ đã truyền đạt trong các sinh hoạt. Trước khi ra lệnh tan hàng, ông cũng ra lệnh cho trung đội 2 phải cắt cử vài ba anh trợ giúp anh Việt thay đổi các trang bị cho nhanh và cho đúng qui định khi thi hành lệnh phạt của Thiếu úy Ẩn.

Từ văn phòng đại đội trở về sau khi trình diện để thi hành hai đêm dã chiến. Việt nói cho mấy anh em biết hình phạt để tiếp tay với Việt: “Năm phút, một tai ướt một tai khô, giày vải, balô đeo vai với quân trang cá nhân, nón sắt hai lớp có lưới ngụy trang và súng cầm tay ”. Rồi, từ dãy nhà năm gian, phòng ngủ, cả đội nghe được tiếng chân Việt chạy trên con đường vòng quanh tiểu đoàn, vừa chạy vừa la như hét to và lập đi lập lại một điệp khúc:“ Từ nay tôi không bê bối nữa, từ nay tôi không bê bối nữa...”. Có những lúc hình như Việt mệt qúa qụy xuống nên tiếng la đứt quãng, có những lúc nghe không rõ âm thanh của tiếng hô, tiếng la của câu: Từ nay tôi không bê bối nữa, từ nay tôi không bê bối nữa – anh em trong đội kháo nhau “ nó đang la từ nay không ăn cá mối nữa, từ nay không ân cá mối nữa... “. Hai đêm dã chiến với đủ hình thức phạt: lúc thì mắt ướt mắt khô, chân trái giày bốt, chân phải giày vải không vớ, áo thung quần dài...Có chứng kiến hình phạt dã chiến mới biết các món “ ăn chơi “ khó tiêu này được thay đổi như thực đơn nhà hàng mỗi khi cần, làm bọn khoá sinh chúng tôi e ngại mỗi khi Thiếu úy Ẩn ra lệnh tập họp bất thường. Khác với các quân trường huấn luyện sĩ quan, Trung tâm huấn luyện Quang Trung không có chế độ huynh trưởng, niên trưởng, khóa đàn anh, đàn em. Nên chỉ có những hình phạt từ các cán bộ đối với khóa sinh hay tân binh mà thôi.

Cấp bậc nhỏ nhất trong ba sĩ quan cán bộ đại đội 36 là chuẩn úy Lê Văn Túc, anh em nghe đồn ông là cháu Thống tướng Lê Văn Tỵ. Mỗi khi xuống đội, ông đi tới đi lui hỏi đôi ba điều, rồi đi. Người sĩ quan áng chừng tuổi đời ngoài hai mươi, điển trai, quân phục láng cóng, có anh hỏi ông sao hôm nay diện đẹp thế, ông nói nói cười cười với các khóa sinh như đã biết nhau từ lâu: “ đi le ghế “. Có lẽ ông còn qúa trẻ, lại vui tính, nên không để ý nhiều đến những khuyết điểm của bọn khóa sinh chúng tôi như Thiếu úy Ẩn.

Vào thập niên sáu tám, sau Tổng công kich tết Mậu Thân, an ninh sân bắn đã được tăng cường và những buổi huấn luyện trong đêm tối giảm bớt. Nhiều lớp huấn luyện đêm tối được tổ chức trong vòng đai trung tâm. Các tân khóa sinh chúng tôi không phải tham gia phòng thủ vòng đai như khi thụ huấn ở trường Bộ Binh Thủ Đức sau này. Từ ngày có các tân khoá sinh thụ huấn, với tài năng văn nghệ của nhiều khóa sinh, các Văn Khang đã được hình thành ở hai tiểu đoàn khóa sinh Đinh Tiên Hoàng và Nguyễn Huệ, với cảnh trí thiết kế thật mỹ thuật như các phòng trà ca nhạc, cùng với tiếng đàn, tiếng sáo, tiếng kèn, hòa với lời ca những bản tình ca lính chiến của các tân khóa sinh.

Thời gian qua mau khi ngày ngày thao trường đổ mồ hôi, tối về sinh hoạt rồi chìm vào giấc ngủ say. Đời sống quân trường đã thấm nhập vào mỗi người, quen thuộc với nắng gió, gian lao, dù lời ca bản nhạc chính thức của đại đội khi di hành là bài Ra Biên Cương có những đoạn làm nhiều anh một đôi khi lo ra và nghĩ ngợi:
Ra biên cương ra biên cương
Khói hôn hoàng xuống men rừng
Qua con sông khuất nẻo ngàn thương
.....................
Đời gai chông, xin thề lưu luyến
Biên ải xin hiến thân
Thấm thoắt đã bao lần
Bao người đi đền nợ máu xương....
Người đi không về
Chắc rằng có người nhớ
Hương khói chiêu hồn
Hiu hắt những chiều trận vong....Người đi không về, chắc rằng có người nhớ......chắc rằng có người nhớ
.................................................. .................................................. .................................................. ................
Sau tuần lễ thi tác xạ trên thềm bắn, Đại úy đại đội trưởng Nguyễn Hổ đã nói chuyện bên lề với anh em trước khi tập họp đội để lên sân cờ liên đoàn nghe Chuẩn Tướng Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm nói chuyện - ông mừng cho anh em khi biết tin trong đại đội không có ai rớt tác xạ. Nghe Đại úy đại đội trưởng nói như vậy, chúng tôi đã nghĩ đến đến tin đồn mấy ngày trước đây là sắp mãn khóa rồi. Đúng bảy giờ tối, trên sân cờ liên đoàn, đơn vị chào kính và các đơn vị thuộc liên đoàn khoá sinh đã vào vị trí. Tiếng hô Nghiêm, bắt súng chào vang lên trên sân cờ, và tiếng vị chỉ huy liên đoàn chào mừng Chuẩn Tướng Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm cũng như trình diện các đơn vị tân khóa sinh mãn khóa. Chuẩn Tướng Chỉ Huy Trưởng Lê Ngọc Triển ra lệnh Liên đoàn cho các đơn vị ngồi xuống. Tiếng vị chỉ huy trưởng vang lên trong bầu không khí trang nghiêm, tĩnh mịch – Ông nói về tình hình đất nước, về ý chí, trách nhiệm của người thanh niên trước vận mệnh đất nước với những lời nhắn nhủ trước khi giao quyền chỉ huy lại cho liên đoàn và ra về. Vị chỉ huy liên đoàn khóa sinh ra lệnh cho đơn vị chào kính và toán quân quốc kỳ trở về đơn vị, trước khi nói chuyện với các khóa sinh về kỷ luật là sức mạnh của quân đội và khuyên các khóa sinh dù ở cương vị nào cũng cần “văn ôn võ luyện” để “bảo quốc an dân”. Tiếp theo là vị Trưởng khối quân huấn của Trung tâm bước lên diễn đàn – ông nói: “ Những anh em được gọi tên sẽ bước qua cánh trái của sân cờ “...... Một số anh đã lần lượt đứng lên và bước qua cánh trái, những anh em chưa được gọi tên, trong đó có tôi vừa lo ngại lẫn ngạc nhiên, vì không biết diễn tiến của lễ mãn khóa, sao lại ở tại hàng và sao lại đi qua cánh trái? Nhưng sau khi các chiếc GMC chở các anh có tên đã di chuyển. Những anh em còn tại hàng theo cán bộ đội trở về đại đội. Lúc đó, chúng tôi mới được thông báo là các anh em rớt tác xạ hay hạnh kiểm, sẽ tham dự khóa huấn luyện dành cho hạ sĩ quan và sau khi ra đơn vị được hai năm sẽ trở lại tham dự những khóa huấn luyện Sĩ quan Đặc biệt. Có lẽ Trung tâm Huấn luyện Quang Trung chỉ là nơi huấn luyện giai đoàn một của chương trình huấn luyện Sĩ quan trừ bị, nên không có những nghi lễ long trọng như các trường sĩ quan dành cho ngày ra trường. Ngày hôm sau, chúng tôi được các xe GMC chở đến trường Bộ binh Thủ Đức. Trên đường chuyển trại, anh em vẫn còn bàn tán, cảm thấy buồn khi nghĩ đến những anh em đã rơi rụng trong khóa.
Cho tới ngày tan đàn xẻ nghé, không mấy ai để ý đã có bao nhiêu khóa học giai đoạn một ở Trung tâm Huấn luyện Quang Trung, trước khi trở thành những Sinh viên Sĩ quan tốt nghiệp tại Thủ Đức hay Đồng Đế. Nhưng, những kỷ niệm trong đời sống quân ngũ, hẳn nhiên như một dấu ấn khó phai mờ trong mỗi người thanh niên sống trong thời chiến – một thời quốc phá gia vong bởi tham vọng quyền lực và chủ thuyết ngoại lai không tưởng của đảng Cộng sản Việt Nam.

Từ con đường Quang Trung nắng đổ dẫn đến các doanh trại của Trung Tâm, và từ các doanh trại đã có biết bao nhiêu những người trai nước Việt hy sinh hạnh phúc cá nhân, ngày đêm đổ mồ hôi trên thao trường, trau dồi và học hỏi chiến thuật chiến lược, để từ đây bước đi khắp bốn vùng chiến thuật, ngày đêm bảo vệ tự do hạnh phúc cho đồng bào, rồi đành thúc thủ trước các thế lực siêu cường trao đổi quyền lợi với nhau. Sau ngày nước mất nhà tan, lao động khổ sai trong các trại tù khắp ba miền đất nước – trong các trại tù trên núi rừng biên giới, biết bao nhiêu anh em đã bỏ mình trong các trại tù, trong đó có những bạn đồng tù với tôi – những anh em một thời đã đi qua con đường Quang Trung nắng đổ trước khi trở thành người Sĩ quan Quân lực Việt Nam Cộng Hòa: Ngô Nghĩa ở Trảng Lớn, Nguyễn Hiểu, Trần Duy Hóa ở Đồng Pan Kà Tum, và Hồ Thanh Long, Mai Duy Hạnh ở trại Cây Cày A. Trong những lần ngồi một mình bên cạnh nồi khoai mì và búp măng luộc, có những lúc sực nhớ đến những cái chết oan khiên, tức tưởi cuả các bạn trên núi rừng biên giới, tôi chợt nhớ tới bài Ra biên cương và hát nho nhỏ như ru đời mình - bài hát đã thuộc nằm lòng trong những tháng ngày sống ở Trung tâm Huấn luyện Quang Trung, trại Võ Tánh, đại đội 36, tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng – nơi có con đường Quang Trung nắng đổ năm nào.........
Ra biên cương ra biên cương
Khói hôn hoàng xuống men rừng
Qua con sông khuất nẻo ngàn thương
.....................
Đời gai chông, xin thề lưu luyến
Biên ải xin hiến thân
Thấm thoắt đã bao lần
Bao người đi đền nợ máu xương....
Người đi không về
Chắc rằng có người nhớ
Hương khói chiêu hồn
Hiu hắt những chiều trận vong....Người đi không về, chắc rằng có người nhớ........................................ chắc rằng có người nhớ .................................................. .................................................. ..
Chu Kim Long
Attached Thumbnails
Click image for larger version

Name:	700859333292908.jpg
Views:	0
Size:	75.4 KB
ID:	1528485  
hoanglan22_is_offline   Reply With Quote
The Following 2 Users Say Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
phokhuya (02-13-2020), trungthu (2 Weeks Ago)
Old 02-18-2020   #533
hoanglan22
hoanglan22's Avatar
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Apr 2011
Posts: 8,615
Thanks: 6,789
Thanked 11,730 Times in 5,441 Posts
Mentioned: 437 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 3752 Post(s)
Rep Power: 20
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8
Reputation: 65459
Default Người Nhái Đỗ Văn Long, người ở lại Hoàng Sa

– Long. Long… Ráng chịu đựng, tao đưa mày ra tầu… Ráng lên…

– Tao… Tao chịu hết được. Mày… Mày bỏ tao lại… Chạy đi… Chạy đi… Nhớ trả … trả thù cho tao… Chào… Chào các bạn. Vĩnh… biệt em. Vĩnh… biệt… Nhan… Nhan…



Long bị hai viên vào đầu, bốn phát vào ngực. Tôi nh́n sơ qua và chỉ biết có thế. Nhưng chắc c̣n nữa, ở bụng chẳng hạn… Tầm đạn địch đi sát mặt nước. Tôi ở cách Long không quá 5 thước. Long quỵ gập người xuống sau tiếng “ối”. Tôi cũng cảm thấy hai lần “bực, bực” ngang hông phải. Tôi biết tôi cũng bị rồi. Một viên khác trúng ngay cây M.16 của tôi, làm tôi văng mất súng. Nhân rảnh tay, tôi nhoài người tới chỗ Long, nâng đầu Long khỏi mặt nước để rồi chỉ nhận được vài câu trăn trối cuối cùng. Cây M.60 cưa ṇng, tháo báng, vẫn c̣n nặng, đủ sức tŕ Long xuống như đá tảng. Sợi dây đeo vẫn c̣n tréo qua vai Long, cộng thêm 900 viên đạn 7 ly 62. Tôi điên người lên, đứng thẳng dậy, nâng cây M. 60 của Long, bắn trả lại phía địch… hy vọng trả được phần nào mối thù cho Long… Nhưng cây súng đă bể toang ṇng ngay khi viên đạn đầu phát nổ. Nước biển đă làm tắc lỗ thông hơi… (điều mà tôi quên trong lúc vội vă). Tôi không c̣n ǵ trong tay để được gọi là vũ khí. Tôi thầm nhủ: “không lẽ đời tôi kết thúc ở xó đảo này sao!” … Từ ngoài chiến hạm, vẫn không một tiếng yểm trợ nào vào bờ… Cùng lúc đó, bên phải tôi, Trung úy Đơn, người sĩ quan trưởng toán, cách tôi không đày 10 thước, cũng la lên: “Tao bị rồi!” rồi cũng ch́m xuống. Tôi vội đỡ xác Long, nửa ch́m nửa nổi… tôi lại nhoài đến chỗ Đơn, đang gập người trong nước…

– Tao bị nhiều vào… ngực.

– Tôi… sẽ cố gắng mang Trung úy ra tầu. Trung úy cứ yên tâm…

Và chẳng cần ai ra lệnh, tôi kéo Tr/úy ra xa bờ, càng xa tầm đạn càng tốt. Tôi phải lo cho người c̣n thoi thóp… đành bỏ lại… Long. Mong Long hiểu cho -như lời anh trăn trối- Mong bạn bè của Long, người thân của Long, nhất là… Nhan (người t́nh của Long) thông cảm cho tôi. Điều mà chưa bao giờ Người Nhái phải làm… bỏ xác bạn lại trên băi chiến! Tôi đă ăn và ngủ với nỗi đớn đau này suốt mấy tháng. Tôi đă cố say để quên mà… vẫn nhớ.Người ta đă hứa “cuội” với chúng tôi, hứa sẽ yểm trợ nếu chúng tôi bị đụng. Mà chính bản thân tôi, tôi cũng không hiểu tại sao tôi lên được trên tầu. Th́ ra hai túi đựng băng đạn bên hông của tôi đă cứu tôi. Viên đạn địch đă chạm vào băng đạn và trượt ra ngoài. Tôi c̣n t́m được bốn lỗ hổng nữa ở nón vải và trên áo của tôi… Ai đă phù trợ tôi như thế… Phải Long không? V́ tôi biết Long cũng là một con chiên ngoan đạo… Nhất là từ ngày Long có… Nhan.

Gặp nhau từ ngưỡng cửa của khóa 4 Hải Kích, thời gian chúng tôi c̣n được “tiền tập dượt” tại Hải quân Công xưởng Saigon. Tôi mến Long v́ Long “cuời “ nhiều hơn “nói”, lớn tuổi nhưng đôi khi cũng dụt dè như… con gái. Long có một thân h́nh dắn dỏi, xứng với con người tầm thước của anh. Càng thân hơn khi chúng tôi được huấn luyện tại Cam Ranh, v́ tôi với Long cùng chung một “tổ lội”, tổ số 4, cùng chung một “xuồng”, xuồng số 1, xuồng thường dẫn đầu trong mọi công tác thi đua… Gồm có tôi, Hiền, Tinh, Hải chùa, Tư cá tŕnh, Đẹp lùn, và Long… sandwich.

Tôi c̣n nhớ, trong “tuần lễ địa ngục” chúng tôi chỉ có 20 phút cho bữa ăn (và ngủ và… đi xả bầu tâm sự), nên ai nấy ăn vội ăn vàng để hy vọng c̣n được 5 hay 3 phút cho giấc ngủ ngắn ngủi. Riêng Long, anh chẳng cần ngủ, cứ ăn cho đă… bụng. Bữa nào cũng thế, hai plates (second time), mỗi plate 4 hay 5 đùi gà, thêm rau, sữa và khoảng 20 miếng sandwiches (nhà ăn Mỹ ở Market Time, Cam Ranh). Những người phát đồ ăn đă sửng sốt và ra dấu cho người trật tự Mỹ “để ư” xem Long có đổ vào thùng rác không. Họ đă hoảng sợ khi biết chắc Long đă ăn hết khoảng 40 miếng sandwiches mỗi bữa, vị chi khoảng trên 100 miếng cho mỗi ngày… Bởi vậy bạn bè đă gán cho anh biệt danh… “Long Sandwich”.

Măn khóa, tôi và Long rẽ hai ngả đường riêng biệt. Tôi đi Cam Bốt, Mỹ Tho, Cù lao dung, Đồng Tâm, Rừng Sát… c̣n Long đến Phước Xuyên, Năm Căn, Tuyên Nhơn, Hội An, Degi và Cam Ranh… cũng có lần tôi tưởng sẽ gặp Long trong cùng một chuyến công tác -mùa hè đỏ lửa 72 và những lần xâm nhập từ Cửa Việt đến Bến Hải- nhưng không, Long lại phải đi huấn luyện ngoài Cam Ranh. Và lần này, lần đầu tiên tôi với Long cùng chung một công tác… đổ bộ Hoàng Sa để tái chiếm từ tay Trung Cộng. Tôi không ngờ đó lại là lần anh trăn trối cho tôi…

Một hôm tôi bất ngờ trong một lần nghỉ chờ công tác mới tại hậu cứ Cát Lái, chộp vai tôi, Long bảo:

– Ê mày, lâu quá không gặp. Đi cà phê! Tao lo. Được tư địa… đêm qua.

Tôi ngạc nhiên v́ c̣n một tuần nữa mới đến kỳ lương.

– Ở đâu vậy? Mới “chĩa” ṣng nào hồi hôm, phải không?

– Đâu, lương thiện mà. Tao sẽ kể chuyện làm ăn của tao.

Rồi tôi và Long đi luôn một mạch, không những cà phê mà c̣n bia 33, chết bỏ, chẳng thèm kèn trống ǵ với văn pḥng Biệt Đội Hải Kích cho đến sáng hôm sau mới trở về điểm danh. Lần đó Long cho biết sự “làm ăn lương thiện” của anh.

– Tụi nó đi “mắn” chỗ này chỗ nọ, hoặc đem dùm đô của mấy ông lớn ra “thảy”, tao… tao làm thợ … điện ban đêm.

– Sao lại thợ điện ban đêm? Tao không hiểu?

– Có mẹ ǵ khó hiểu! Tao đâu có sửa điện. Tao trèo cột điện… cắt dây đồng để đem cho các “chú ba… tàu” thôi chứ!

Tôi hiểu rồi. Hèn chi lâu nay trong căn cứ Cát Lái xôn xao không hiểu tại sao bao nhiêu dây đồng qua các trụ điện đều biến mất. Thậm chí ngay cả trên nóc của các building hay barrack của Mỹ để lại cũng “tiêu”.

– Đói quá mày ạ. Lương không đủ trả tiền kư sổ với đổ xăng. Tao biết mày không thích, nhưng phải… đành chứ biết sao bây giờ.

Rồi anh tâm sự thêm.

– Đôi khi tao chẳng dám nghĩ đến chuyện có “đào” mày ạ. Có đâu để mà đưa em đi “dung dăng dung dẻ” với đời. Mẹ nó! Mấy tên cà nhỏng ở Sàig̣n mà địa chi chít, em này em nọ mỗi ngàỵ Thối quá!

Tôi cũng tưởng Long sẽ “ở giá” thật, hoặc buồn t́nh th́ đi ra quán “Chi” thăm nuôi thôi, không ngờ đến phút chót tôi mới biết Long có… Nhan.

Gần ba giờ sáng, đoàn xe chúng tôi rời Cát Lái để vào phi trường Tân Sơn Nhất, rồi Đà Nẵng và Hoàng Sa. Đến xa cảng xa lộ Biên Ḥa, chúng tôi bị chận lại v́ nhập đô thành bằng một quân số đông với đủ loại vũ khí kể cả AK-47. Một bóng người nhỏ nhắn bước vội tới xe tôi, và Long nhảy xuống… hốt hoảng:

– Trời ơi! Sao em lại ra đây… giờ này…

Rồi hai người kéo nhau vào bóng tối… tâm sự. Tụi bạn quỷ sứ réo lên:

– Hôn em đi. Em đến tiễn anh ra xa trường mà. Hôn em đi…

Tôi biết Long cứ vờ như không nghe thấy . Lính mà. Căi chi cho mệt. Hai người lợi dụng được phút nào hay phút ấỵ Thật chí t́nh! Ba giờ sáng đến tiễn anh đi…xa trường.

Chúng tôi phải chờ hơn nửa giờ mới chuyển bánh được. Thời khắc đối với chúng tôi thật mỏi ṃn, nhưng đối với Long thật ngắn ngủi. Tôi biết Long c̣n muốn kéo dài hơn thế nữa. Và nếu tôi có quyền tôi sẽ bảo Long “Ở lại nhà, đừng leo lên xe trở lại”. Nhưng Long đă trèo vội lên khi xe bắt đầu chuyển bánh. Ngồi bên tôi, Long nói:

– Em tên Nhan. Quen sáu tháng rồị Em thương quá, nhớ không chịu được, phải đến tiễn đưa. Mày thấy đó! Chắc chuyến này về, tao phải… cuới cho xong.

Long tiếp lời:

– Nhà em có trại ḥm ở Gia định. Có lần “ông già” bảo tao “có tướng làm thợ đóng…ḥm”. Ổng cũng chịu tao, mày ạ. Tao cũng “hiền” phải không mày!

Trầm ngâm một lúc, Long thú nhận:

– Em vừa hôn tao mày ạ. Lần đầu tiên đấy! Trời ơi, tao phải cuới em… cuới em… Chờ anh nhé Nhan… Khi về, anh sẽ cuới em… Chờ anh… nhé Nhan…

Tôi không hiểu Nhan phải chờ Long đến bao lâu. Tôi chẳng bao giờ dám lại nhà Nhan, từ sau chuyến Hoàng Sa ấỵ Thực ra tôi cũng không biết Nhan ở đâu… Đành vậy, cứ để Nhan chờ… V́ tôi biết chẳng ai báo tin cho Nhan cả. V́ chẳng ai biết Nhan là… ai. Một điều mà tôi biết rất rơ, rất chắc chắn… Long sẽ măi măi là của Nhan… măi măi… của Nhan.

Người Nhái Già K4

Yết Kiêu 85
Attached Thumbnails
Click image for larger version

Name:	baochi0903192.png
Views:	0
Size:	236.3 KB
ID:	1531704  
hoanglan22_is_offline   Reply With Quote
The Following 2 Users Say Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
phokhuya (02-19-2020), trungthu (3 Weeks Ago)
Old 02-18-2020   #534
hoanglan22
hoanglan22's Avatar
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Apr 2011
Posts: 8,615
Thanks: 6,789
Thanked 11,730 Times in 5,441 Posts
Mentioned: 437 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 3752 Post(s)
Rep Power: 20
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8
Reputation: 65459
Default Y sĩ Nhảy Dù Tô Phạm Liệu – Ra đi không mang va-li

Cách đây đă lâu, lâu lắm, gần 40 năm về trước, mà tôi vẫn cảm thấy như ngày hôm qua, vào một buổi chiều thứ Bảy giữa mùa Hè tôi gặp Tô Phạm Liệu lần đầu tiên ở Colorado, anh đi theo một số bạn bè từ Denver xuống Colorado Springs thăm tôi. Qua Mỹ chưa đầy một năm, khi đó vợ chồng tôi c̣n rách như xơ mướp. Vợ tôi tận tụy, bươn chải, c̣n tôi đi làm part time để dành th́ giờ cắp sách đi học thêm ở University of Colorado.



Chúng tôi thuê một căn nhà nhỏ ở gần hồ Prospect Lake, cách thành phố Denver khoảng 75 dặm. Căn nhà có gian bếp nhỏ nhắn, cũ kỹ, chỉ đủ chỗ cho hai vợ chồng tôi và đôi, ba người khách ngồi ăn cơm thanh đạm là cùng, thế mà bạn bè cuối tuần cứ ùn ùn kéo tới. Cứ tự nhiên như người Hà Nội, như ăn nhà hàng La Pagode (ăn chùa), chẳng cần thắc mắc điều chi.

Không đủ chỗ thù tiếp đám bạn, có khi lên tới hàng chục người từ xa tới, chúng tôi phải trải tấm vải nhựa xuống mặt thảm giữa pḥng khách, chén chú, chén anh, chén thù, chén tạc. Bắt chước người xưa: “Dục phá thành sầu dụng tửu binh”. Cái sầu mất nước, cái sầu bỏ lại vợ con, cha mẹ, bỏ lại bạn bè. Cái sầu phiêu lạc nơi đất khách quê người, cái sầu đang đánh đấm tưng bừng mà sao bỗng nhiên có những ông sếp lớn chợt nhiên lỉnh mất, sau những câu hứa hẹn chắc như cua gạch là sẽ ở lại chiến đấu tới cùng . . .

Trong đám bạn bè hôm đó có dăm ba người phi công, hai ba chàng hải quân và mấy ông lính nhảy dù. Đầy đủ Hải, Lục, Không quân. Mặt mũi tên nào cũng c̣n trẻ măng, chỉ mới xấp xỉ ba bó. Trong số đó có lẽ Tô Phạm Liệu là lớn hơn cả, khi ấy anh khoảng 35 tuổi. So với tụi tôi dù tuổi tác, học hành bằng cấp có phần chênh lệch nhưng anh chẳng hề câu nệ. Không quân và Nhảy Dù như có một cái liên hệ t́nh cảm đặc biệt, chỉ sau một vài ly sương sương là bắt đầu mày tao, chi tớ, coi như là bạn vàng biết nhau từ thuở c̣n ở truồng tắm mưa.

Chúng tôi ngồi uống rượu tới gần sáng, nói chuyện đời lính, chuyện trên trời dưới đất, ngậm ngùi nhắc tới bạn bè vắng mặt, khật khù bên ly rượu mắt ngấn đỏ. Cũng có đôi khi cười vỡ nhà với những câu chuyện bù khú. Tô Phạm Liệu uống rượu không biết say, nói chuyện không biết mệt, anh thao thao bất tuyệt:

“Tao là lính Nhẩy Dù. Ông về từ Charlie mùa Hè đỏ lửa 72 đó mày biết không? Tụi mày thả bom được đấy, ch́ lắm, A-1 và A-37 mỗi lần đánh đề bỏ hết bom và bắn đến viên đạn cuối cùng dù pḥng không hỏa tiễn của vẹm bắn lên như mưa. Tao thấy thằng A-1 bị trúng hỏa tiễn mà thương nó, tàu nó cháy bùng giữa không gian rồi cắm xuống bên sườn đồi . . . H́nh như cái thằng thiếu úy đẹp trai, trẻ măng sắp lấy con gái tiệm ăn Hương Giang ǵ ở Pleiku th́ phải? . . . Chúng mày đừng cứ gọi ông là bác sĩ, bác sĩ đếch ǵ! Ông là lính nhẩy dù: “Ra đi không mang va-ly, quần áo cứ thế đút túi . . .”



Tô Phạm Liệu dáng người khá to lớn, đẹp trai, trắng trẻo, nói chuyện dí dỏm, có duyên. Khi mới gặp, tôi không ngờ anh là lính tác chiến, Y sĩ trưởng Tiểu đoàn 11 Nhẩy dù, v́ trong đầu óc tôi vẫn in đậm h́nh ảnh những người lính trận phải mang nét mặt sạm nắng, gân guốc, phong trần. Đâu có ai dáng dấp phong nhă như Tô Phạm Liệu “gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo”, bao năm trấn thủ lưu đồn ở Vùng II Chiến Thuật, đầy tâm hồn văn nghệ, xúng xính thơ phú.

Tuy cùng một tên họ với thi sĩ Tô Đông Pha làm quan dưới đời nhà Tống bên Tầu, lừng danh kim cổ với hai bài phú Tiền Xích Bích và Hậu Xích Bích, nhưng ông quan tu-bíp họ Tô tên Liệu, dù mê thơ nhưng không có tài làm thơ, ông chỉ thích kể lại thời oanh liệt, chuyện “Tiền đồn Charlie” và “… “Hậu đồn Charlie”, mà mỗi lần nhắc tới người nghe như cảm được nỗi ngậm ngùi trong từng tiếng nói, đau xót trên từng thớ thịt khi nhắc đến tên bạn bè.

Đốc tờ Tô có biệt tài đọc thơ, đọc phú, dù thơ phú lượm lặt ở những buổi trà dư tửu hậu, hay tự phịa ra, chẳng câu nệ cú pháp, anh vẫn làm cho mọi người thích thú v́ luôn hàm chứa tính hài hước, tiếu lâm. Những lần bạn bè họp mặt có anh là không khí trở nên vui nhộn, sống động, dù các bà khó tính, giữ chồng như giữ của, mặt mũi lúc nào cũng đăm chiêu, nhăn nhó kinh niên, cũng ôm bụng cười hả hê, cười chảy cả nước mắt, cười ḅ ra sàn nhà.

Và dù ông chồng có mạ̃t lỳ mày lợm có ngồi lại đụng ly, đụng chén với bạn bè tới sáng, say ngỏm củ teo, những bà thuộc loại chằng lửa cũng chẳng lườm, chẳng nguưt, chẳng mặt nặng, mày nhẹ, mặt xưng, mày xỉa. Chẳng đanh đá chua cay xỉa xói bạn bè.



Trong cái chặng đường phiêu bạt của cuộc đời di tản buồn thê lương của người lính chiến buộc ḷng rũ áo, một nhóm bạn bè cũ, mới, bỗng nhiên cảm thấy gần gũi nhau, thương nhau hơn. Thương cho thân phận lăng nhách đột nhiên bị đẩy vào giữa cái xă hội vàng thau lẫn lộn, bạc t́nh, bạc nghĩa, ăn cháo, đá bát, qua cầu rút ván, coi đồng đô la to bằng cái bánh tráng. Mấy mợ gặp nhau th́ khoe khoang, ganh tỵ: Hột chị nhỏ, hột em to, hột chị tṛn, hột em méo, hột em trắng, hột chị đen . . . Trước cái sự lố lăng trong đời tha phương đó, Tô Phạm Liệu tức cảnh sinh t́nh, anh thường châm chọc:

Chồng chị giầu chị đeo vàng, đeo ngọc
Chồng em nghèo em nắm chắc con cu
Một mai bóng xế trăng lu,
Ngọc vàng chị mất mà con cu em vẫn c̣n.

Anh hay cất giọng cười sảng khoái sau những lần ngâm thơ tiếu lâm như vậy, hoặc những khi nhái thơ ông Nguyên Sa:

Nắng Saigon anh đi mà chợt “rét”
Bởi v́ em mặc áo lụa Hà Đông
“Lụa Hà Đông 5 ngàn đồng một thước
Mà sao em nỡ xé 4, 5 mầu”

Anh vui với đời sống b́nh dị, không đua đ̣i, chỉ thích gần bạn bè nhất là những người với anh đă một thời lao vào lửa đạn trong cuộc chiến tàn khốc, cố ǵn giữ phần đất miền Nam tự do. Tôi nhớ có dạo anh lên một bệnh viện thuộc một thành phố nhỏ phía bắc Dakota để tu nghiệp ngành chuyên môn, nhưng chỉ 3 tháng sau anh bỏ dở, quay về lại Denver. Trước khi anh đi tôi cũng đoán trước được điều đó. Tô Phạm Liệu không thể sống thiếu bạn bè.

Anh cảm thấy thoải mái khi ngồi quay quần, không kiểu cọ, khách sáo giữa đám bạn thân t́nh cười nói tự nhiên. Nhưng cũng có đôi khi tôi chợt thấy anh ngồi thừ người trước ly rượu, mắt nh́n vào bóng tối mông lung bên ngoài khung cửa sổ. Như nỗi đau buồn nào từ những ngày tháng xa xưa bỗng dưng trở lại mà những ly rượu cay, những tiếng cười rộn ră không đủ che giấu những vết thương nhức nhối trong ḷng. H́nh ảnh đồn Chalie và người anh cả Trung tá Nguyễn Đ́nh Bảo mà chính tay anh đă băng bó trước khi hy sinh, những đêm băng rừng lội suối, d́u đồng đội bị đầy thương tích, mà anh nhiều lần nhắc tới, như hiện về trong kư ức. Anh thường cất giọng ngâm bài “Nhớ rừng” của Thế Lữ:

Ta sống măi trong t́nh thương nỗi nhớ,
Thủa tung hoành, hống hách những ngày xưa.
Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già,
Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi,
…………..
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?
Đâu những b́nh minh cây xanh nắng gội
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt.
………
Than ôi! thời oanh liệt nay c̣n đâu?

Hoặc đôi khi đập tay xuống bàn, mắt trợn trừng nh́n vào bóng tối, ngâm bài “Tống Biệt Hành” của Thâm Tâm:

Đưa người ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong ḷng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giă gia đ́nh, một dửng dưng…

Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ,
Chí lớn chưa về bàn tay không,
Th́ không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong.
……………….

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu say.

Mây thu đầu núi, gió lên trăng
Cơn lạnh chiều nao đổ bóng thầm.
Ly khách ven trời nghe muốn khóc,
Tiếng đời xô động, tiếng hờn căm.

Khoảng giữa năm 1981, Tô Phạm Liệu hành nghề ở một bệnh viện sát biên giới hai tiểu bang Kansas-Colorado. Dù ở cách xa Denver trên 200 miles, nhưng gần như mỗi tuần anh đều lái xe về Denver, chúng tôi một nhóm bạn bè lại hú nhau tụ tập, chén chú, chén anh, chuyện tṛ thâu đêm suốt sáng.

Vào cuối thập niên 1980 anh đổi đi làm việc ở một bệnh viện cựu chiến binh ở thành phố Alexandria, Louisiana, chúng tôi ít có dịp gặp lại nhau, chỉ thỉnh thoảng gọi điện thoại hoặc nhắn tin thăm hỏi. Lần chót tôi gặp lại anh vào mùa hè năm 1993, anh trở lại Denver thăm bạn bè và đó có lẽ cũng là lần cuối chúng tôi ngồi chung bàn tiệc với nhau. Sức khỏe Liệu suy sụp một cách nhanh chóng, trông anh gầy hẳn đi v́ bệnh gan tàn phá cơ thể. Mùa Hè năm sau, tôi lo lắng gọi điện thoại hỏi thăm, giọng anh yếu ớt, mệt mỏi.

Tuy vậy, tôi vẫn c̣n nghe tiếng cười ngạo nghễ từ đầu dây bên kia: “Tao là lính Dù. Tao không dễ chết đâu mày. Ông đếch sợ, ông c̣n chống cự dài dài, c̣n lâu ông mới ngỏm”. Tôi hứa sẽ có dịp ghé thăm anh. Anh dặn ḍ: “Mày xuống đây tao gọi thằng em LXN, thằng KQ viết văn của tụi mày ở dưới New Orleans, nó làm đồ nhậu hết xẩy, thỉnh thoảng vẫn bê lên tao một bao crawfish ngồi lai rai cả buổi. Anh c̣n thách thức: “. . . Mày đừng lo, ông bệnh nhưng ông vẫn uống như rồng . . . Sư mày. Xuống đây. C̣n lâu ông mới uống thua mày.”

oOo

Tô Phạm Liệu vĩnh biệt bạn bè ra đi vào giữa đêm 29 tháng 7, 1997. Tôi không ngờ anh đi mau như vậy. Tôi ân hận măi v́ thời gian đó phải đi công tác xa nhà liên miên nên không xếp đặt th́ giờ để thăm anh được.

Thời giai trôi qua như bóng câu, nào ngờ thấm thoát đă ngần ấy năm cách biệt. Có những buổi chiều cuối tuần vắng lặng, tôi ngồi một ḿnh, chợt nhớ tới anh, sao cảm thấy trống vắng lạ lùng. Tôi nhớ những chiều thứ Bảy, dáng Tô Phạm Liệu lừng lững trong bộ đồ hoa dù, chiếu mũ đỏ đội lệch trên trán, bước ngang khu sân cỏ trước nhà tôi với một đám bạn bè, hớn hở cười nói. Tôi nhớ những đêm ngoài trời tuyết giá, tôi say mèm, người mềm như sợi bún, tửu lượng tôi chẳng thể so bằng Liệu nên thường hay thua cuộc. Tôi nằm trên ghế salon nửa tỉnh, nửa mê, anh đến gần ân cần đắp nhẹ chiếc mền lên ngực tôi: “Ngủ đi mày, sáng mai nhậu tiếp. Mẹ…cái thằng dở ẹt, chưa nhậu đă xỉn”.

Người Y sĩ yêu thương đồng đội, người lính Mũ Đỏ can trường Tô Phạm Liệu: “Ra đi không mang va-ly, quần áo cứ thế đút túi… ” dọc ngang một đời chiến đấu lẫm liệt không sợ ḥn tên, mũi đạn, nhưng số mệnh khắc nghiệt đă quật anh nằm xuống sau cơn bệnh ngạ̃t nghèo.

Anh sớm chia tay bạn bè vĩnh viễn, ra đi chẳng cần hành trang. Ngoài h́nh bóng người vợ trẻ, đứa con thơ, chắc chắn anh c̣n mang theo t́nh bạn bè, t́nh chiến hữu, t́nh những người lính Mũ Đỏ một thời cùng nhau ngang dọc, đạp gót bốt đờ sô lên không gian, coi cái chết tựa lông hồng. Tôi cũng tin rằng nếu khi ra đi mà được chọn lựa, anh sẽ chọn chiếc áo hoa dù và cái Mũ Đỏ đút túi mang theo, măi măi như hành trang quí báu về bên kia thế giới.

Và dù có yên nghỉ nơi nào, nếu c̣n được nghe tiếng phi cơ khu trục bay ngang trời chắc hẳn anh cũng đưa tay vẫy chào . . . Vẫy tay chào nhau, những người đă một thời chiến đấu hiên ngang, chiến đấu hết ḷng cho phần đất tự do nhưng phải buông tay trước số mệnh nghiệt ngă của quê hương.

Hoàng Gia Viễn (svqy.org)
Attached Thumbnails
Click image for larger version

Name:	quan-y-nhay-du.jpg
Views:	0
Size:	108.8 KB
ID:	1531798   Click image for larger version

Name:	qysđNhayDu-1536x1095.jpg
Views:	0
Size:	363.6 KB
ID:	1531799   Click image for larger version

Name:	000_ARP4061137.jpg
Views:	0
Size:	104.9 KB
ID:	1531800  
hoanglan22_is_offline   Reply With Quote
The Following 2 Users Say Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
phokhuya (02-19-2020), trungthu (3 Weeks Ago)
Old 02-18-2020   #535
hoanglan22
hoanglan22's Avatar
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Apr 2011
Posts: 8,615
Thanks: 6,789
Thanked 11,730 Times in 5,441 Posts
Mentioned: 437 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 3752 Post(s)
Rep Power: 20
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8
Reputation: 65459
Default Y Sĩ Biệt Kích Dù Lôi Hổ

Y Sĩ Trung Úy Bùi Cao Đệ

(Tưởng nhớ hương hồn Y Sĩ Trung Tá Bửu Trí, Trung Úy Sĩ Quan Trợ Y Ngọc.)

Tôi tuy thuộc vào hạng nhỏ con và thường bị bạn bè gọi là “Sữa” nhưng lại rất thích binh chủng Nhảy Dù. Thường mơ ước rằng khi ra trường sẽ là một Y Sĩ Nhảy Dù. Đọc truyện Y Sĩ Tiền Tuyến của Bác Sĩ Trang Châu tôi lại càng thêm mơ mộng. Tôi thích đi nhảy dù v́ thích bận đồ rằn ri, đội nón đỏ, có huy hiệu nhảy dù trên ngực áo. Thấy các quân nhân Nhảy Dù chiều thứ 7 dạo phố với các nữ sinh thật là thơ mộng.



Cũng v́ thích màu áo mà tôi sém chút nữa là ḥm gỗ cài hoa! Tuổi trẻ có những tư tưởng lạ lùng mà sau nầy về già suy nghĩ lại mới biết sợ, không nên “giỡn mặt tử thần,” đúng là “Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ.”



Tôi nhập ngũ vào cuối năm 1971 khóa 13 Y sĩ trưng tập thụ huấn quân sự tại trường Bộ Binh Thủ Đức. Trong thời gian này, thỉnh thoảng có một số Y Sĩ Nhảy Dù về thăm các bạn YK Sài G̣n. Ôi nón đỏ, bộ đồ trận rằn ri, trông thật là oai phong lẫm liệt. Tôi thầm hy vọng là khi chọn nhiệm sở sẽ có 1, 2 chỗ Nhảy Dù. Rồi thời gian thụ huấn quân sự và Hành Chánh Quân Y cũng trôi qua và ngày chọn nhiệm sở cũng đến. Các bạn Dược Sĩ Trưng tập được chọn nhiệm sở trước Y Sĩ trưng tập 2 ngày. T́nh cờ tôi gặp Dược Sĩ Sơn cùng khóa 13. Anh cho biết là anh chọn Nha Kỹ Thuật/TTM.

Sơn cho tôi biết là Nha Kỹ Thuật đồn trú ở Phú Thọ Sài G̣n. Khi tôi nói là tôi chỉ thích đi Nhảy Dù th́ Sơn nói đây cũng là Nhảy Dù Lôi Hổ, tôi hỏi thêm chi tiết và có ư định chọn Nha Kỹ Thuật (NKT).

Đến ngày chọn đơn vị tôi nh́n lên bảng đen th́ thấy có một chỗ NKT và một chỗ Sư Đoàn Nhảy Dù và tôi được xếp hạng 16 trong số gần 100 Y Sĩ trưng tập. Tôi không hề để ư đến các chỗ như Tổng Y viện, Quân Y Viện hay Bệnh Viện Dă Chiến, Bệnh Viện Tiểu Khu mà chỉ cầu mong là đến phiên ḿnh chọn đơn vị sẽ c̣n có NKT hay Sư Đoàn Nhảy dù.

May thay, các bạn trước tôi chỉ lo chọn QYV, TYV, hay BVTK, đến phiên tôi vẫn c̣n chỗ NKT. Tôi vội vă chọn NKT sau khi được Y Sĩ Đại Tá Châu xác nhận là có nhảy dù ở NKT. Thế là tôi đi mua ngay nón đỏ và bộ đồ rằn ri.

NKT/TTM là danh xưng ngụy trang của một đơn vị gọi là Bộ Tư Lệnh Chiến Tranh Ngoại Lệ, ngang hàng cấp Sư đoàn Tổng Trừ bị với cấp số Thiếu Tướng làm Tư Lệnh. NKT gồm nhiều đơn vị khác nhau nhưng trong phạm vi bài viết này tôi chỉ nêu ra hai đơn vị quan trọng nhất đó là:

1. Sở Liên Lạc (Lôi Hổ): Bộ Chỉ Huy đồn trú tại Sàig̣n, gồm 3 Chiến đoàn Xung kích1, 2, 3.
2. Sở Công Tác (Hắc Long): Bộ Chỉ Huy đồn trú tại Sơn Trà, Đà Nẵng gồm 5 Đoàn Công Tác 11, 68, 71, 72, 75. Các Chiến Đoàn Xung Kích và Các Đoàn Công Tác có nhiệm vụ thả Toán thám sát vào các mật khu Cộng Sản để thâu thập tin tức t́nh báo, phá hoại các mục tiêu trọng yếu của địch. Trước năm 1970, nhiều Toán Thảm Sát Đặc Biệt Xâm nhập Bắc Việt bằng không vận hay hải vận để do thám.

Vào thời tôi được tăng phái đến NKT th́ các toán chỉ hoạt động ở miền Nam mà thôi. Mỗi Toán có khoảng 6 người được trang bị vũ khí đến tận răng. Các hoạt động của NKT được giữ bí mật cho nên nhiều khi các quân nhân phục vụ trong NKT cũng không biết nhiệm vụ của các đơn vị bạn.

NKT có một Đại đội Quân Y đóng tại Phú Thọ Chợ Lớn, Y Sĩ Thiếu Tá Bửu Trí làm Y Sĩ Trưởng. Ngày tôi về tŕnh diện th́ ĐĐQY gồm có Bác Sĩ Trí, BS Ân, BS Nguyễn Văn Hưng và tôi. Ngoài ra c̣n có 4 Dược Sĩ, 2 Nha Sĩ, và 4 Sĩ Quan Trợ Y. Bác Sĩ Trí gốc Huế, người Hoàng Tộc rất hiền lành dễ thương, luôn bảo vệ và che chở cho đàn em, được sự quư mến và kính nể của thuộc cấp.

Sau khi tŕnh diện đơn vị, tôi đi học nhảy dù ở trung tâm Long Thành, nhảy chuồng cu ở trại Hoàng Hoa Thám SĐND, 3 tuần huấn nhục “thích chạy bộ hơn đi bộ,” tôi được cấp bằng nhảy dù Việt Nam và Mỹ. Tôi rất thích nhảy Chuồng Cu, xin nhảy nhiều lần. Thật ra có một số quân nhân không dám nhảy chuồng cu, huấn luyện viên phải đẩy ra giùm, nếu sau 3 lần mà không dám tự động nhảy th́ sẽ bị loại.

Cảm giác nhảy ra khỏi máy bay C130 của không quân Mỹ, rơi tự do khoảng 5 giây, rồi sau đó dù bung ra, một ḿnh bay lơ lửng giữa trời thật là tuyệt diệu. Một ḿnh ta lơ lửng giữa trời mây! Làm việc ở Sài G̣n được vài tháng th́ Mùa Hè Đỏ Lửa xảy ra. Chiến trận B́nh Long, QuảngTrị ác liệt, máu lửa. Cuối tháng 3, 1972, Y Sĩ Thiếu Tá Bửu Trí cho tôi biết là t́nh h́nh chiến sự ở Kontum gia tăng và sẽ tăng phái tôi lên Chiến Đoàn 2 Xung Kích Lôi Hổ ở Kontum. Thế là tôi khăn gói lên đường ngay.



Chiếc máy bay C46 của Air America vừa hạ cánh xuống phi trường Kon Tum th́ bị pháo kích lập tức. Có một số thương vong nhưng tôi may mắn OK. Trung úy Niệm, Sĩ Quan Trợ Y chở tôi về doanh trại CD2XK ở B12 phía Nam của Kontum. Vừa đến Bệnh Xá th́ thấy các cố vấn Hoa Kỳ đang thu dọn để lên đường ra khỏi Kontum v́ t́nh h́nh rất nguy hiểm. Họ để lại cho tôi toàn bộ thuốc men và thực phẩm. Mấy ngày đầu tôi lo tổ chức bệnh xá để tiếp nhận thương bệnh binh. Lúc rảnh rỗi th́ lái xe đi thăm Kontum. Thành phố nầy lúc đó c̣n tương đối yên tĩnh, cát trắng, có sông Dak bla nước rất trong nhưng chảy ngược? Xung quanh là núi non, thành phố nằm ngay ở ḷng chảo, rất dễ bị pháo kích, trông giống như Điện Biên Phủ ngày xưa.

Thành phố nói chung rất đẹp. Kontum chỉ cómột con đường độc nhất đi Pleiku về phía Nam, Quốc lộ 14, nhưng phải qua đèo Chu Pao thường hay bị Cộng Sản phục kích và đóng chốt nên chỉ có thể đi thoát bằng máy bay mà thôi.

Hàng ngày tôi khám bệnh cho quân nhân và gia đ́nh, cấp thuộc hành quân, huấn luyện cấp cứu cho Y Tá , dân sự vụ khám bệnh cho người thiểu số ở buôn Thượng. Người dân ở đây rất đỗi hiền lành. Họ mời tôi uống rượu cần, nhưng tôi không thích uống rượu, chỉ nhấm nháp lấy lệ mà thôi. Tất cả chúng tôi đều phải học cách xử dụng và thực tập bắn súng chống xe tăng M72.

Tôi quen thân với nhiều sĩ quan Không Quân, họ cho tôi làm Co-pilot đi rước toán khi công tác về. Mỗi lần rước có 2 trực thăng UH1B và 2 gunship. Bay ṿng ṿng một lúc th́ thấy panel của toán ở dưới b́a rừng. Thế là chiếc UH1B vội vàng nhào xuống để rước toán, trong khi gunships chúc lên chúc xuống sẵn sàng bắn che cho toán. Viên sĩ quan ban 3 khuyên tôi đừng có chơi dại như vậy, v́ lỡ người pilot chính bị thương hay chết th́ làm sao tôi lái máy bay một ḿnh được, tính mạng tôi sẽ coi như hui nhị t́.

Pháo kích của Cộng Quân xảy ra thường xuyên, cứ 2, 3 đêm một lần. Bị thương nhẹ th́ tụi tôi săn sóc tại chỗ, nặng th́ gửi đi Bệnh Viện Tiểu Khu hay Quân Y Viện. Chuyện cười ra nước mắt là một đêm kia, khoảng 10 giờ tối, tôi nghe một tiếng nổ lớn rồi sau đó có tiếng lính gọi: Bác sĩ ơi, có một con ḅ đạp ḿn ở hàng rào pḥng thủ, đùi của nó bị bay vào ngay trại, chúng ta sẽ có thịt ḅ ăn rồi, nhưng sau đó xem lại té ra là thịt người, có lẽ của trinh sát hay đặc công Cộng sản! Có khi buổi tối tôi phải đi đỡ đẻ. Có lúc có người tự tử… Công việc tương đối nhàn.

Lực lượng pḥng thủ Kontum chỉ có sư đoàn 22BB, gồm 2 trung đoàn và Bộ Tham mưu Sư Đoàn được dời lên Tân Cảnh để giao chiến với sư đoàn 320 và sư đoàn 2 của CS Bắc Việt. Quân Đoàn II được tăng cường thêm Biệt Động Quân để củng cố vững chắc đồn Ben Het, cửa ngơ đi vào lănh thổ QĐ II, Quân Khu II.

Đại Tá Lê Đức Đạt Tư Lệnh SD 22 làm Tư Lệnh Mặt trận Tân Cảnh được một tuần lễ th́ địch bắt đầu tấn công lẻ tẻ. Đại Tướng Cao Văn Viên liền tăng phái cho Đại Tá Đạt một Lữ Đoàn Dù.

Ngày 04/14/1972 CS tấn công vào căn cứ Charlie. Trung Tá Nguyễn Đ́nh Bảo, Tiểu Đoàn Trưởng TĐ 11 Nhảy Dù bị một hỏa tiễn 122 trúng vào hầm chỉ huy làm ông tử trận. (Bài hát Người ở lại Charlie của TrầnThiện Thanh) và quân ta phải rút ra khỏi Charlie.

Ngày 04/20/1972 Đại Tướng Viên rút Lữ Đoàn Dù tại Kontum để tăng cường cho mặt trận Quảng Trị nên t́nh h́nh tại Tân Cảnh bắt đầu đen tối thêm. Tôi nh́n Lữ Đoàn Dù rút đi mà cảm thấy tê tái v́ Kontum không c̣n lực lượng Tổng Trừ Bị nào nữa, chỉ c̣n sư đoàn 22 mà thôi. Tất cả Sư đoàn Nhảy Dù và TQLC đều dành riêng cho Quảng Trị và B́nh Long. Kontum chỉ vào hàng thứ yếu, không quan trọng bằng hai mặt trận kia?

Ngày 04/23/72 mất Dakto rồi Ben Het. Ngày 04/24/1972 mất Tân Cảnh, Đại Tá Đạt mất tích hay tự sát?

Trong bài viết về Mặt Trận Tân Cảnh, Kontum1972, Đại Tá Trịnh Tiếu cho biết Tư Lệnh Quân Đoàn II, Trung Tướng Ngô Dzu và cố vấn Hoa Kỳ John Paul Vann có kế hoạch dụ sư đoàn 320 CS Bắc Việt vào vùng Tân Cảnh, Dakto để tiêu diệt bằng B52. Rất tiếc là v́ có bất đồng ư kiến giữa Tướng Ngô Dzu và John Paul Vann về việc bổ nhiệm tân Tư Lệnh sư đoàn 22 (cho Đại Tá Lê Đức Đạt thay v́ Đại Tá Lê Minh Đảo) nên trong những ngày 04/21, 04/22 và 04/23/1972, lúc Cộng quân tấn công ào ạt với chiến xa vào Tân Cảnh, JP Vann đă từ chối xử dụng B52, và Tân Cảnh thất thủ.

Sau khi mất Tân Cảnh, bệnh tim của Tướng Ngô Dzu trở nặng, ông yêu cầu TT Thiệu cử người thay thế, TT Thiệu chỉ định Thiếu tướng Nguyễn Văn Toàn làm Tư Lệnh QD II, Quân Khu II và Tướng Toàn đồng ư tử thủ Kontum.

Mỗi ngày tôi đều đi họp tham mưu với Trung Tá Tiên CHT. T́nh h́nh Kontum càng ngày càng tồi tệ hơn. Lần lượt các căn cứ bảo vệ như Vơ Định, Dakto, Tân Cảnh, Charlie, Delta đều bị mất vào tay địch. Sau khi Tân Cảnh mất, Sư đoàn 22 BB gần như tan ră. Kontum trở thành tiền đồn. Dân chúng nhốn nháo chuẩn bị tản cư, mà chạy đi đâu bây giờ? Tôi có ghé thăm Bệnh Viên Tiểu Khu (BV Dă Chiến?) Kon Tum th́ thấy BV bỏ trống không c̣n gặp ai, có lẽ đă di tản rồi.

Trước t́nh thế nguy ngập, Tư Lệnh Quân Đoàn II điều động Sư Đoàn 23 BB từ Ban Mê Thuột lên cố thủ Kontum. Trong dịp nầy t́nh cờ tôi gặp lại BS Nguyễn Khanh YKH4, là Y Sĩ của Sư Đoàn 23 BB di chuyển trên QL 14 ngang qua doanh trại của tôi để tăng viện cho Kontum. Sau đó vài ngày đèo Chu Pao bị Cộng quân chiếm, đóng chốt nên Kontum đă bị bao vây.
Ngày 05/13/1972, Trung Tá Tiên cho biết là đêm nay quân Bắc Việt sẽ tấn công dứt điểm Kontum. Ông ta nói là ông đă làm chúc thư cho gia đ́nh rồi, có nghĩa là tính mạng của chúng tôi có thể chấm dứt đêm nay. Lúc đó tôi cũng lo sợ không biết là đêm nầy ḿnh sẽ bị thương, hoặc chết hoặc sẽ bị bắt là tù binh? Tôi dặn ḍ anh em Quân Y chuẩn bị thuốc men, hầm trú ẩn và phân công việc tản thương.

Suốt đêm trằn trọc không ngủ được. Vào khoảng 5 giờ sáng 05/14/102 th́nh ĺnh tôi nghe từng loạt tiếng nổ kinh thiên động địa, đồ đạc trong bệnh xá đổ nhào. Tiếng nổ liên tục làm ù tai và hất văng tôi xuống đất.

Sau này tôi mới biết là 25 phi vụ B52 được thả xuống 3000 quả bom đủ loại vào các vị trí của quân Bắc Việt gây thiệt hại nặng nề. Ngày 05/14/1972 trận chiến vẫn c̣n tiếp diễn ở phía Bắc thị xă Kontum. Đủ loại phi cơ Hoa Kỳ và Việt Nam, đặc biệt là Phantom F4 liên tục thả bom bắn phá quân CS chỉ cách chúng tôi khoảng 500m. Một chiếc Sky- raider của Không Quân Việt Nam bị bắn rớt và phi công đă hy sinh. Một chiếc Skyraider khác cũng bị bắn rớt, nhưng phi công nhảy dù an toàn và được lính Lôi Hổ cứu thoát.

Sau đó mặt trận Kontum coi như được giải tỏa. Xin cám ơn B52. Một phái đoàn Nha Kỹ Thuật gồm cả Bác Sĩ Bửu Trí, Y Sĩ Trưởng NKT và SQTYTrung úy Ngọc định đến thăm viếng và ủy lạo chúng tôi nhưng rủi thay máy bay bị bắn rớt, không một ai sống sót. Tôi vừa mừng v́ thoát chết nhưng rất buồn khi được tin BS Trí, người đàn anh đáng kính, và Trung úy Ngọc đă ra đi.

Khi bước vào tuổi già con người ta hay hoài niệm chuyện cũ, thường tự hỏi tại sao ḿnh có thể có những quyết định đầy nhiệt huyết, bất cần, thời trai trẻ. Nhưng những cái “ngông” đó lại là những kỷ niệm sâu đậm đáng nhớ nhất của một kiếp người, nhất là kiếp trai thời loạn. Để thỉnh thoảng vẫn làm tôi bâng khuâng nhớ lại, nhất là những lúc tháng Tư về.

Y Sĩ Trung Úy Bùi Cao Đệ YKH-4

Tài Liệu Tham Khảo:1.Trung Tá Lữ Triệu Khanh. Lịch Sử Nha Kỹ Thuật/BTTM/QLVNCH2. Đại Tá Trịnh Tiếu: Mặt trận Tân Cảnh, Kontum,1972
Attached Thumbnails
Click image for larger version

Name:	khambenhdovinh (1).jpg
Views:	0
Size:	112.2 KB
ID:	1531802   Click image for larger version

Name:	Airborne_ARVN22.jpg
Views:	0
Size:	92.9 KB
ID:	1531803   Click image for larger version

Name:	41286805_527610754346916_5684027442570723328_o.jpg
Views:	0
Size:	108.0 KB
ID:	1531804  
hoanglan22_is_offline   Reply With Quote
The Following 2 Users Say Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
phokhuya (02-19-2020), trungthu (3 Weeks Ago)
Old 02-18-2020   #536
hoanglan22
hoanglan22's Avatar
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Apr 2011
Posts: 8,615
Thanks: 6,789
Thanked 11,730 Times in 5,441 Posts
Mentioned: 437 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 3752 Post(s)
Rep Power: 20
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8
Reputation: 65459
Default Chiều tàn trên sông Vàm Cỏ



Vào những ngày đầu tháng Tư, mặt trận miền Trung đă vỡ, làn sóng người di tản tràn ngập Sài G̣n. Vùng 4 tương đối vẫn c̣n yên tĩnh. Sài G̣n mất chỉ c̣n là vấn đề thời gian. Có tin Chính phủ sẽ triệt thoái về Vùng 4 để cố thủ. Có tin sắp đảo chánh. v.v…



Tầm nh́n của Đại Bàng.

Đô Đốc Cang với tầm nh́n xa của một vị Tướng đă thấy rơ vấn đề, phải di tản Hạm Đội, không thể nào để Hạm Đội lọt vào tay giặc, dù Chính Phủ có rút về Vùng 4 hay không. Bằng mọi giá Hạm Đội phải ra khơi vào giờ phút thích hợp nhất. Muốn ra khơi êm đẹp, bảo tồn được Hạm Đội th́ thủy lộ Soài Rạp và Ḷng Tào phải tốt. ( Sông Ḷng Tào và Soài Rạp là 2 thủy lộ chính từ Sài G̣n ra Vũng Tàu. Sông Ḷng Tào rất hẹp, quanh co nhưng khá sâu là thủy tŕnh chính của thương thuyền và Chiến hạm, trong khi đó sông Soài Rạp lớn hơn nhưng khá cạn, do đó chỉ sử dụng khi cần thiết.)

Đô Đốc Cang liền ra lệnh thành lập ngay Lực Lượng Đặc nhiệm 99, lấy tàu từ những đơn vị tinh nhuệ của sông ng̣i. Người chỉ huy ? C̣n ai nữa ! Đánh giặc “tới” nhất trong Hải quân ai cũng biết là Huỳnh Duy Thiệp và Lê Hữu Dơng. Ông Thiệp th́ đă biệt phái qua làm Giám đốc Thương cảng Đà Nẵng và đang bị kẹt ngoài đó, sống chết chưa biết, chỉ c̣n lại ông Dơng, tên thật xứng với người ! Đô Đốc Cang nói với chánh văn pḥng : “Gọi ngay Đại Tá Dơng về gặp tôi gấp, nội trong ngày hôm nay.”



Ngày 8 tháng 4 năm 1975, Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 được thành lập. Trong khẩn cấp, các đơn vị sau đây đă được lấy về :

– Giang đoàn 42 ngăn chận.
– Giang đoàn 59 tuần thám.
– Đại đội Hải kích.
– Địa phương quân.
– Một số Giang đĩnh lấy ra từ những Giang đoàn Thủy bộ, Xung phong gồm tất cả 62 Chiến đĩnh, một mũi xung kích mạnh mẽ nhất của HQVNCH lúc đó.

Nhiệm vụ :

– Lực lượng sẽ là đơn vị hậu vệ nặng để bảo vệ Chính phủ rút về Miền tây khi t́nh h́nh xấu.
– Bảo vệ an ninh thủy tŕnh Soài Rạp và Ḷng Tào trong trường hợp phải di tản.
– Bảo vệ Bộ Tư Lịnh Hải Quân nếu có đảo chánh.
– Nhận lệnh trực tiếp từ Tư Lệnh Hải Quân.

Tầm hoạt động :

– Không giới hạn.
– Tùy theo t́nh h́nh.

Bàn cờ đă đến hồi chung cuộc. Đô Đốc Cang c̣n làm ǵ hơn được ? Bảo toàn cho Hạm đội di tản an toàn, cho Hải quân, cho đồng bào vào những ngày bi thảm cuối cùng của cuộc chiến đó là điều cuối cùng mà Đô Đốc Cang có thể làm đươc trong tầm tay của ḿnh. Và Đô Đốc Cang đă chọn lưỡi kiếm bén nhất, tấm khiên chắc nhất trao vào tay người đàn em ĺ lợm, chịu chơi nhất của ông: Hải Quân Đại tá Lê Hữu Dơng.



Vàm Cỏ máu và lửa.

Sau khi Khmer Đỏ xâm chiếm Cao Miên, Cộng sản Bắc việt kéo quân ào ạt qua biên giới Miên Việt đông như kiến, hung hăn với ư đồ cắt đứt Quốc lộ 4,tràn ngập Sài G̣n theo hướng Tây Nam, khóa chặt thủy lộ Ḷng Tàu Soài Rạp, bắt sống Hạm đội Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa, tịch thu toàn bộ làm chiến lợi phẩm… Kế hoạch chắc ăn như bắp, miếng mồi ngon như miếng mỡ. Nhưng khi kéo quân ào ạt đến bờ Tây sông Vàm Cỏ th́ Bắc quân đành phải khựng lại. Tới đây Bắc quân đă đụng ngay một bức trường thành thép và lửa do Đô Đốc Cang dựng nên : Tướng trấn ải là Hải quân Đại tá Lê Hữu Dơng, vị Đại tá trẻ và đánh giặc ch́ nhất của Hải quân VNCH. Trong tay Đại Tá Dơng có hơn 60 Giang đĩnh đủ loại thuộc các Giang đoàn Xung phong, Thủy bộ Ngăn chận, và một Đại đội hải kích đủ sức đốt cháy những tham vọng điên cuồng nhất của địch quân.

Bắc quân đành phải ém quân thật kỹ lại bên bờ tây sông Vàm Cỏ chờ cơ hội vượt sông. Nhưng cơ hội đó không bao giờ tới. Họ đă trễ một bước. Trên sông Vàm Cỏ, ngày cũng như đêm, bao giờ cũng có hơn chục chiến đĩnh tuần tiểu tới lui, sóng cuộn cả một vùng sông nước mênh mông.

Bảy ngày đêm trôi qua, tướng Việt cộng Lê đức Anh như ngồi trên đống lửa, cả 3 Công trường 5, 7 và 9 dưới quyền của ông ta đều hoàn toàn bị vô hiệu hóa, không tiến được một bước, mũi nhọn của mặt giáp công phía Tây Nam đă bị cùn. Đau thật, mang tiếng là “Quân đội Nhân dân Bách chiến bách thắng, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” mà phải bó gối ngồi đây, ho một tiếng lớn cũng không dám. Nhục thật! Đành phải nướng quân thôi, bất kể giá nào. Dù phải đẩy bao nhiêu lính vào tử địa cũng phải làm, mạng người đâu có sá ǵ so với sự nghiệp của “Bác và Đảng”. Bộ tư lệnh Bắc quân quyết định “Dụ địch vào trận địa pháo, tiêu diệt gọn các tàu địch, tạo điều kiện vượt sông, giải phóng Sài G̣n vây chặt Hạm đội địch vào rọ.”



Vào ngày 16 tháng 4, Đại tá Dơng dẫn đại bộ phận Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 đi giải tỏa áp lục địch trên kinh Thủ Thừa. Ông chọn những Chiến đĩnh có hỏa lực mạnh nhất, những chiếc c̣n lại vẫn thay phiên nhau tuần tiểu trên sông Vàm Cỏ. Đội h́nh vẫn như thường lệ. Toán tiền phong gồm những Giang đĩnh gọn, nhanh, hỏa lực mạnh. Soái Đĩnh đi giữa sau đó là những Quân vận đĩnh, Pháo đĩnh đi đoạn hậu.v.v… Đoàn tàu đi thật sát bờ, càng sát càng tốt, kinh nghiệm chiến đấu bao nhiêu năm trên sông dạy cho ông như vậy. Đoàn giang đĩnh di chuyển đúng đội h́nh, giữ khoảng cách đều đặn, truyền tin liên lạc tốt như đang diễn tập. Đại Tá Dơng mỉm cười hài ḷng. Ông không biết là ông đang dẫn đoàn tàu đi vào trận địa pháo đang dương sẵn.

Cách Thủ Thừa chừng 5 cây số về hướng Nam, ngay rạch Cần Đốt, khoảng một đại đội Việt cộng đang tắm sông với nhiệm vụ la lối, đùa giỡn càng lớn càng tốt. Trên bờ trận địa pháo đă hờm sẵn, thuyền ghe trưng dụng của dân đă xong. B40, súng chống chiến xa, đại liên, trung liên đă sẵn sàng.

Trên soái đĩnh, Thượng sĩ Hiếu – cận vệ, một đàn em thân tín nhất của Đại Tá Dơng, đă theo ông từ thuở ban đầu, thời ông c̣n Trung úy – đặt ống ḍm quan sát bên kia bờ, thấy nước bắn lên tung tóe, đầu người lố nhố. Lạ thật, đâu mà nhiều người tắm thế trên một khúc sông không một xóm nhà này. Thôi chết rồi, Việt cộng. Thượng sĩ Hiếu chỉ tay về phía ấy và tŕnh báo với Đại Tá Dơng : “Ông Thầy, Việt cộng đang tắm.”

Đại Tá Dơng quan sát thật kỹ, sau một giây suy nghĩ, ra lệnh : “Ủi vào tấn công !” Các Chiến đĩnh quay mũi về bên kia bờ sông, dàn hàng ngang, dồn tất cả hỏa lực vào địch, súng lớn, súng nhỏ trên các giang đĩnh nhả đạn như mưa. Trong khi ấy, pháo địch bắt đầu rơi lỏm tỏm xuống sông tạo thành những cột nước tung toé. Pháo địch càng lúc càng dầy. Vài chiến đĩnh đă bị trúng đạn, quay mũi chạy về bờ Đông nơi đó có một Quân vận đĩnh (LCM) đă được cải biến để làm Bệnh viện Dă chiến như kế hoạch đă vạch. Những chiếc khác vẫn lầm lũi tiến vào bờ vừa đi vừa khạc đạn… Đoàn chiến đĩnh càng lúc càng đâm gần bờ 200 thước…100 thước… Pháo và súng địch bắn ra xối xả. Các chiến sĩ Giang đoàn không một chút nao núng, vẫn ủi tàu vào vị trí địch. Đoàn tàu càng tiếng gần, pháo địch càng vô hiệu v́ tầm bắn quá ngắn… 80 thước… 70 thước… 50 thước… 40 thước. Súng lớn súng nhỏ vẫn nổ vang trời. Bắc quân vẫn ĺ lợm chống trả, không tháo chạy. Đại Tá Dơng ra một đường gươm thật hiểm : Hai chiếc phóng hỏa đĩnh nhào đến, phóng 2 luồng lửa kinh khiếp, độ nóng thép cũng phải chảy, đừng nói chi đến da thịt con người.

Bắc quân tháo chạy. Chiến trường từ từ dịu lại rồi im bặt. Đại Tá Dơng ra lệnh đổ bộ, thu dọn chiến trường. Xác Bắc quân nằm la liệt. Vũ khí tịch thu : AK, súng trường nhiều như củi mục, 12 khẩu B40, 2 khẩu 12 ly 8, 4 khẩu 82 ly… Lực Lượng Đặc nhiệm 99 chỉ có 2 chiến đĩnh bị hư hại nhẹ và một số nhỏ Chiến sĩ bị thương. Trận địa pháo của Bắc quân đă biến thành trận “Tẩu pháo”. Chúng đă ôm đầu máu vất súng mà chạy v́ đă không đánh giá đúng hỏa lực và tinh thần chiến đấu của các Chiến sĩ Giang đoàn trong Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 dưới tài Chỉ huy của Hải Quân Đại Tá Lê Hữu Dơng.

Bắc quân điên tiết sau cuộc thảm bại hôm trước. Họ kéo quân đông hơn đến Rạch Cầu Đót, hỏa lực cũng mạnh hơn. LLĐN 99 lại đụng địch nặng nề ở đó. Chiếc pháo đĩnh Chỉ huy của giang đoàn Ngăn Chận trúng 82 ly không giật trực xạ. Chỉ huy trưởng, Thiếu tá Phạm Ngọc Lộ thuộc khóa 12 và 3 nhân viên bị thương. Nhờ đi sát bờ nên Chiến đĩnh đă kịp thời ủi băi, không ch́m dù tàu bị thủng lỗ. Đại Tá Dơng cũng bị thương nhưng ông vẫn ở lại trên Soái đĩnh cho đến khi tàn cuộc.

Những ngày sau đó, Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 đụng địch liên tục. Bắc quân vẫn không tiến được bước nào và cũng không gây thiệt hại nào đáng kể cho Lực Lượng nên chúng đổi chiến thuật, tạm ngưng giao chiến trên bờ. Đêm đêm, Bắc quân tung từng đợt người Nhái, lợi dụng lúc tối trời, tấn công các Giang đĩnh nhưng với sự pḥng thủ chặc chẽ và đôi khi người nhái ta phải cận chiến bằng dao găm. Người nhái địch đă bị hạ sát nhiều.

Ngày 23 tháng 4, trong tuyệt vọng, Bắc quân tung ra một cuộc tấn công “Thí chốt bắt xe” cuối cùng. Cấp chỉ huy của Bắc quân bắt đầu xài sinh mạng binh lính dưới quyền như xài bạc giả. Họ trưng dụng tất cả ghe thuyền của dân, chất đầy lính, ào ạt nhào ra tấn công, tính dùng chiến thuật “biển thuyền” để tràn ngập và triệt hạ LLĐN 99. Nhưng họ đă lầm, các chiến đĩnh đă hờm sẵn, phản pháo bằng tất cả các súng cơ hữu. Xác người lả tả. Ghe thuyền, chiếc th́ lật úp, chiếc th́ không người lái chạy ngổn ngang trên sông. Nhưng chết lớp này, lớp khác vẫn tiếp tục xông ra, nhiều như lá tre trong mùa băo lụt. Súng lớn, súng nhỏ của lực lượng bắn không xuể. Đại Tá Dơng ra lệnh cho 2 chiếc Zippo, súng phóng hỏa đă nạp đầy xăng đặc, 4 Pháo đĩnh hộ tống, ủi thẳng vào vị trí địch và phun lửa. Lưởi lửa phun ra dài cả trăm thước. Trong nháy mắt tất cả ghe thuyền địch đều bốc cháy, cả một vùng cây xanh gần bờ từ gốc tới ngọn cũng cháy rực, găy đổ, lửa bốc cao, khét lẹt. Từng lớp địch quân ở sát bờ sông ngă như sung rụng, dày đặc cả mặt nước. Lính trên bờ vẫn đầy nghẹt, kêu thét, chạy tán loạn. Pḥng tuyến địch vỡ. Cuộc tấn công tự sát thất bại. Bắc quân đă nướng bao nhiêu quân vào trận này. Đó là điều bí mật, chỉ có họ mới biết.

Nỗi ḷng.

Vài ngày sau, xác người cháy xém vẫn c̣n trôi nổi đen đặc trên mặt nước sông Vàm Cỏ. Những chiếc thuyền ma vẫn bập bềnh theo con nước lên xuống. Tất cả Lực Lượng 99 từ Sĩ quan, Hạ sĩ quan cho đến Đoàn viên Thủy thủ, ngay cả những người vui tính nhất đều trở nên trầm ngâm ít nói. Cuộc chiến thật quá dă man và đau ḷng. Đại Tá Dơng nh́n theo, ḷng vừa buồn vừa giận. Buồn v́ bao nhiêu sinh mạng phải tiêu tan chỉ v́ một cái bánh vẽ thật lớn “Thiên đường Cộng sản”, giận v́ cấp chỉ huy địch đă quá tàn nhẫn xem sinh mạng của thuộc cấp không bằng cỏ rác. Ông chiến thắng mà ḷng ông đau xót. Cùng là người Việt Nam da vàng máu đỏ, ai gây chi cảnh huynh đệ tương tàn. Ông và lực lượng 99 chỉ là người tự vệ. Ta đánh ngươi v́ ngươi đánh ta. Chỉ có vậy thôi.

Từ đó, hai con sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây trở nên yên tĩnh. Có lẽ Bắc quân sau những lần thất bại, hết ư chí tấn công, đă kéo quân đi hướng khác hay v́ t́nh h́nh biến chuyển quá nhanh, họ vẫn ém quân chờ.

Dù ǵ đi nữa, lực lượng Đặc Nhiệm 99 cũng đă hoàn thành nhiệm vụ một cách xuất sắc cho đến giờ thứ 25 của cuộc chiến kéo dài trên 20 năm. Đại Tá Dơng với tư cách là tư lệnh LLĐN 99 đă có thể xác nhận với Đô Đốc Cang một cách tự tin “An ninh tốt” khi được hỏi về an ninh thủy lộ Ḷng Tào, Soài Rạp trước giờ Hạm đội ra khơi di tản.

Ḱnh ngư nhỏ lệ.

– 10 giờ sáng ngày 30-4-1975, Tổng thống Dương Văn Minh kêu gọi Quân nhân các cấp buông súng.
– 11 giờ, xe tăng Cộng Sản ủi sập cổng chánh Dinh Độc Lập.
– 4 giờ chiều cùng ngày, trên ngă ba sông Vàm Cỏ, Đại tá Dơng ra một lệnh cuối cùng, tập họp tất cả các Sĩ quan, Thuyền trưởng lại, trên Soái Đỉnh chỉ huy để nhận chỉ thị. Xa xa các chiến đỉnh vẫn như những con ḱnh ngư dũng mănh đang rẽ sóng thi hành công tác tuần tiểu, ngăn chận không cho Cộng quân vượt sông uy hiếp thủy lộ Soài Rạp, Ḷng Tàu.

Cũng vào lúc đó chiến hạm cuối cùng của Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa, chiếc HQ – 402 bắt đầu khập khiễng hải hành ra cửa Soài Rạp… Chiều bắt đầu xuống.

Bằng một giọng nghẹn ngào, Đại tá Dơng nói với các cấp thuộc hạ “ Tất cả đă hết, chúng ta đă thua, miền Nam đă mất vào tay CS. Bây giờ là lúc chúng ta phải tan hàng, anh em nào muốn đi theo Hạm đội th́ theo tôi, anh em nào muốn ở lại với gia đ́nh th́ cứ đem tàu về. Trên đường về, Cộng quân chận lại cứ xả súng bắn, kiếm một chỗ nào an toàn thay đồ dân sự, rồi về với gia đ́nh. Xin từ giă anh em. Hẹn gặp lại…”

Những lời cuối cùng chỉ có thế, tính ông vẫn vậy, nói ít, nhất là trong giờ phút này, chính trong thâm tâm ông, ông cũng không biết ḿnh sẽ đi đâu, về đâu. Đối diện ông là khuôn mặt của những thuộc hạ thân yêu đă cùng ông vào sinh ra tử trong trận đánh cuối cùng khốc liệt này. Những khuôn mặt hốc hác v́ chiến đấu quên ăn, thiếu ngủ, râu ria tua tủa ấy đang nh́n ông, những cập mắt đỏ ngầu v́ xúc động đang nh́n ông, không ai thốt được lời nào.



Giây phút này như kéo dài vô tận… Đại úy Hải ngập ngừng hỏi: “Commandant dự tính sẽ đi đâu ? ” Đại Tá Dơng trả lời : “ Có lẽ một ḥn đảo nào đó trên Thái B́nh Dương, tao cũng không biết nữa, c̣n mày ?”. Ông vẫn có thói quen gọi cấp dưới bằng “mày, tao” một cách thân mật như anh em thâm t́nh. Đại úy Hải trả lời : “Chắc tôi về Bến Tre đi tu với mẹ tôi quá.”

Đại Tá Dơng bùi ngùi nói lời từ giă cuối cùng : “ Chúc anh em may mắn… Hẹn gặp lại…” Lần đầu tiên trong đời binh nghiệp, một giọt nước mắt lăn dài trên khuôn mặt ông. Rồi ông đáp tàu lên HQ – 402. Ánh chiều cũng bắt đầu thoi thóp tàn dần trên sông Vàm Cỏ. Ráng chiều để lại trên mặt sông mênh mông những vệt đỏ như máu.

Cuối đời nh́n lại.

Do những Quốc tế sắp đặt cộng thêm với những yếu kém, sai sót của chính ḿnh đă để miền Nam thất bại. Miền Nam lại không được cái may mắn như đất nước Đài Loan c̣n có được một ḥn đảo nhỏ để dung thân, để tự tu sửa, học hỏi, xây dựng từ những lỗi lầm cũ.

Mỗi Quốc gia đều có một số phận. Và số phận Việt Nam mới chua xót, cay nghiệt và mai mĩa làm sao ! Anh em trong cùng một nước đánh giết nhau, máu thành sông, xương thành núi trên 20 năm. Kẻ thắng trận, sau hơn 2 thập niên thử nghiệm thất bại về cái gọi là Xă hội Chủ nghĩa lại chuyển hướng 180 độ, tập tểnh đi vào con đường kinh tế thị trường, con đường mà miền Nam đă đi cách nay 40 năm. Đúng là đi cho lắm lại trở về chốn cũ. Bao nhiêu xương máu đă xài phí một cách vô ích.

Ông Dơng năm nay đă ngoài 65, đă về hưu sau 26 năm làm việc trả nợ áo cơm cho người bạn đồng minh bạc bẽo. Mỗi khi một ḿnh trong đêm vắng, ông không khỏi ngậm ngùi nghĩ đến cuộc chiến cũ. Những tiếng khóc la đau đớn, kinh hải “Trời ơi” của chiến binh Cộng sản vẫn ám ảnh, quấy động trong giấc ngủ của ông, sau đó ông thường chập chờn đến sáng. Phải chi những tiếng kêu la đó là những tiếng kêu la của bọn ngoại xâm không cùng ḍng máu, không cùng tiếng nói chắc ḷng ông thanh thản hơn nhiều… Rồi những khuôn mặt bạn bè, những thuộc hạ cũ thân yêu hiện về, kẻ c̣n, kéo lê kiếp sống tha hương trên đất lạ hoặc sống nghèo khổ không tương lai trên chính đất nước ḿnh, người mất, mồ đă xanh cỏ… Ông nghĩ đến họ, nước mắt lại tuôn trào ra.

Rồi ông lại nghĩ đến dân tộc đau khổ, bất hạnh của ḿnh, kể cả những người cầm súng phía bên kia đă từng đối địch với ông. Nghĩ cho cùng, tất cả đều là nạn nhân của Chủ nghĩa Cộng sản. Ông đă không thù hận họ như họ đă thù hận ông một cách điên cuồng, v́ trong thâm tâm, ông vẫn nghĩ đa số họ là những người nông dân hiền lành, thật thà, chất phát đă bị bọn cầm quyền Cộng sản cấy vào những độc tố thù hận giai cấp đấu tranh v.v… Trên 26 năm lưu lạc xứ người, ông luôn mang một tâm trạng buồn chán, lạc lơng, không thể nào hội nhập vào xă hội mới. Ông cũng không nghĩ đến chuyện gia nhập Quốc tịch Mỹ, không màng đến chuyện an cư lập nghiệp, tậu nhà, mua đất…

Ông chỉ là người tạm cư trên đất nước vĩ đại và lạnh lẽo này… Ông măi măi là người Việt Nam.

Hoàng Xuân Bái (K13 HQ)
Attached Thumbnails
Click image for larger version

Name:	Vàm-cỏ-tây.jpg
Views:	0
Size:	273.3 KB
ID:	1532054   Click image for larger version

Name:	gd54b.jpg
Views:	0
Size:	28.7 KB
ID:	1532055   Click image for larger version

Name:	cang.jpg
Views:	0
Size:	28.6 KB
ID:	1532056   Click image for larger version

Name:	gd54c.jpg
Views:	0
Size:	129.6 KB
ID:	1532057  

Click image for larger version

Name:	hq-1.jpg
Views:	0
Size:	60.4 KB
ID:	1532058   Click image for larger version

Name:	Camp-Pendleton-4-30-1975-Vietnamese-Refugees-Arrival.jpg
Views:	0
Size:	229.7 KB
ID:	1532059  
hoanglan22_is_offline   Reply With Quote
The Following 2 Users Say Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
phokhuya (02-19-2020), trungthu (3 Weeks Ago)
Old 3 Weeks Ago   #537
hoanglan22
hoanglan22's Avatar
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Apr 2011
Posts: 8,615
Thanks: 6,789
Thanked 11,730 Times in 5,441 Posts
Mentioned: 437 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 3752 Post(s)
Rep Power: 20
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8
Reputation: 65459
Default Tháng Ba

Tháng ba của tôi là thời điểm đau buồn nhất cuộc đời chiến chinh. Mọi người hay hỏi sao lại tháng ba mà không tháng tư. Tôi thường trả lời, vâng, đối với mọi người tuy là tháng tư đau buồn, nhưng tháng ba là tháng tôi mất nhiều bạn thời chiến của tôi. Chúng tôi di chuyển dọc theo quốc lộ 13 của tháng ba nắng cháy. Nhiều người ngă gục vào tháng ba của lệnh rút quân. Nhiều chiến sĩ QLVNCH đă ra đi không một tiển đưa, không một nén hương cho linh hồn b́nh yên.

Nhiều ngôi mộ chôn vội trên đường rút quân. Và cũng nhiều kẻ hèn hạ ḷi mặt chuột trong tháng ba binh lửa. Tháng ba của Đức Phong, Bến Cát, Đồng Xoài, những địa danh tôi đă đi qua, đă để lại những mảnh t́nh nho nhỏ với cô gái hậu phương.

Có tháng ba rút quân mới đưa đến tháng tư thất thủ. Những thằng lính như chúng tôi luôn tuân lệnh cấp chỉ huy. Đó là truyền thống của quân đội. Nhưng lệnh của tháng balàm cho chúng tôi xao động và ngở ngàng. Chúng tôi tin tưởng ḿnh đủ sức kháng cự với cộng quân, dư sức đối đầu với bất cứ quân đội nào của cộng sản miền Bắc. Nhưng vào tháng ba chúng tôi phải bỏ lại những thành phố thân yêu miền Trung, bỏ lại những người dân hiền ḥa đă nuôi dưỡng chúng tôi suốt đời quân ngũ. Chúng tôi phải gấp rút từ giă những người con gái thương yêu, bỏ lại những mảnh t́nh trong trắng, thánh thiện. Chúng tôi bị phục kích v́ không có kế hoạch hành quân, để thương đau mất đi những người bạn chiến binh chết tức tưởi v́ lệnh rút quân cấp tốc trong đêm.

Ôi tháng ba oan nghiệt, tháng ba của mất mát. Mỗi tháng ba tôi lại hụt hẩn trong đau buồn và tiếc nhớ, tôi lại t́m về quá khứ, để tiếc thương những người bạn đời quân ngũ. C̣n đâu những đêm nhậu đứng sau những chuyến hành quân dài. C̣n đâu những đêm ngồi dưới giao thông hào, chia nhau từng điếu thuốc Ruby quân tiếp vụ. Ôi thương quá từng ngụm nước đục dưới hố bom của những ngày nắng cháy giữa vùng Tam Giác Sắt. Những bát canh măng le giữa mật khu Long Nguyên đầu mùa mưa. Những ly cà phê gạo sấy của Bầu Bàng ngồi chờ giặc tấn công.

- Minh Mạng đây Bắc B́nh gọi, nghe rơ trả lời!
- Bắc B́nh đây Minh Mạng tao nghe 5/5.
- Mầy cho tao điểm hẹn, đại bàng bảo tụi ḿnh cắm trại đêm nay với nhau.
- Lên 12, phải 24, tao gặp mầy khoảng 6 con gà.
- OK, 6 con gà, hết.

Trả máy lại cho thằng truyền tin, tôi chỉ điểm hẹn cho thằng em mở đường dặn nó chuyển hướng đi. Đă bốn giờ chiều, rừng Long Nguyên dày kịt không một chút gió. Trời tháng ba có khác, nóng oi, nóng bức Tuy đi dưới bóng cây rậm nhưng vẫn nóng như ai trùm mền không cho thở. Dù có thở được th́ cũng toàn mùi ẩm của lá cây mục, của côn trùng, của rừng nhiệt đới. Giây leo giăng đầy ngang dọc chận lối, thằng em mở đường phải khó nhọc lắm mới t́m được lối cho mấy thầy tṛ. Tôi nh́n lại bảng đồ và định hướng của ḿnh, chỉ hai cây số là sẽ ra khỏi khu rừng rậm nầy, đến con suối nhỏ, xong băng ngang cái trảng chiều ngang khoảng 300 mét là sẽ đến điểm hẹn với tụi thằng Mẫn.

Bốn thầy tṛ tôi đi chuyến công tác nầy đă hơn hai tuần. Toán thằng Mẫn được lịnh vào thay để toán của tôi về lại Lai Khê. Đại Đội Trinh Sát 5 thi hành những chuyến công tác dài khoảng một tháng cho mỗi chuyến đi. Mỗi ngày chúng tôi nhận lệnh từ bộ tư lịnh sư đoàn, di chuyển theo từng toán nhỏ, lục t́m những tin tức và di chuyển của cộng quân trong địa bàn kiểm xoát của sư đoàn 5.

Theo tin t́nh báo tôi nhận được th́ khoảng một sư đoàn của chính qui bắc việt đă di chuyển từ Pleiku về hướng Nam. Đây là một sư đoàn thiện chiến của miền bắc, từng tham dự trận Quảng Trị, Kontum. Tôi nh́n lại bản đồ, nếu sư đoàn nầy muốn vào Sài G̣n th́ phải đi dọc theo quốc lộ 13, ngang Long Nguyên, chổ tôi đang công tác. Tôi quay ngang thằng em truyền tin bảo nó đổi tầng số cho tôi gọi thằng Đắc của tiểu đoàn 53 pháo binh.

- Đà Diểu đây Bắc B́nh, nghe rơ trả lời.
- Bắc B́nh đây Đà Điểu nghe 5/5.
- Mầy cho tao hai quả về lên 12, phải 24, chỉ bắn khi nào tao gọi.
- OK lên 12, phải 24, bắn khi nào mầy gọi.

Giọng thằng Đắc đề lô trong máy có vẻ hơi thắc mắc:
- Bắc B́nh sao bửa nay mầy gọi yểm trợ sớm quá vậy?

Tôi chửi thề trên máy: tao gọi th́ cứ làm đi, tao đang cuốc bộ mệt bỏ xừ không có th́ giờ giải thích đâu. H́nh như nó linh tính một cái ǵ đó không tốt nên gọi lại
- Bắc B́nh, tao muốn cho mầy một điếu thuốc lào cho bảo đảm. (Trái khói)
- Bộ mầy muốn chỉ cho tụi VC biết chổ của tao hay sao vậy.
- Tao thấy có ǵ không không ổn nên muốn ăn chắc không dội lên đầu mầy.
- Tao tin tài của mầy, từ xưa giờ mầy gọi đâu trúng đó nên tao không sợ.
- Mầy lại nâng bi tao nữa rồi, chừng nào về hậu cứ tao thưởng mầy một chầu bia.
- Ráng để dành tiền đi em trai, tụi tao mà uống bia th́ mầy chỉ có sạt nghiệp.

Phải nói ngày xưa tụi tôi uống bia như uống nước lạnh. Sau mỗi chuyến công tác về là bọn tôi kéo nhau xuống câu lạc bộ sĩ quan, mỗi thằng gọi vài két bia 33 (mỗi két 24 chai) chất sau lưng, ngồi uống cả đêm, đến sáng hết bia mới về trại ngủ. Mỗi lần bọn tôi về là ông bà chủ câu lạc bộ rầu thúi ruột, phải thức đêm lo mồi nhậu cho mấy thằng trời đánh. Nhưng hai ông bà lại khoái bọn tôi, không phải v́ cô con gái đang đến tuổi lấy chồng, mà v́ tụi tôi trả tiền ṣng phẳng, không ghi sổ. Những thằng lính như tôi mà cho ghi sổ lở có ngày ḥm gổ cài hoa th́ mất hết cả vốn lẩn lời.

Bốn thầy tṛ tôi đến men rừng khoảng 5 giờ 30 chiều nhưng không đi ra vội. Đó là kỷ thuật tôi học từ đàn anh, đó là luật sinh tồn, phải thám sát chung quanh trước khi đi ngang cái trảng trống trơn, chỉ có cỏ mọc ngang đầu gồi. Tôi lấy ống nḥm ra quan sát bên kia bờ rừng. Nh́n lên, nh́n xuống chẵng thấy ǵ nhưng linh tính tôi như báo có cái ǵ đó không ổn. Tôi bảo thằng em nhỏ nhất trong đám đi dọc xuống bia dưới khoảng 100 mét rồi quăng một tàn cây nhỏ ra. Trong khi nó đang di chuyển, tôi quan sát trên ống nḥm, khi thằng em quăng tàn cây, đúng như linh tính, có một vài vật di động bên kia bờ rừng. Thằng em trở lại nói nhỏ với tôi:
- Ḿnh bị phục kích ông thầy ơi!


Tôi bảo thằng truyền tin đổi tầng số tôi gọi thằng Mẫn:
- Minh Mạng đây Bắc B́nh, nghe rơ trả lời.
- Bắc B́nh đây Minh Mạng, tao nghe 5/5
- Cho tao điểm đứng.
- Tao đang chờ mầy ở điểm hẹn.

Tôi vội vang cảnh giác nó:
- Cách mầy nửa ống chân (cây số) bên phải (hướng Đông), dọc theo b́a rừng, tụi nó đang nằm chờ tao băng ngang để làm thịt.
- Mầy chờ tao dọn bải rồi hăy đáp.
- Đừng, tụi nó đông lắm, mầy chỉ có 4 thằng làm ǵ được. Để tao gọi thằng Đắc.
Thằng em truyền tin hiểu ư, bèn đổi máy sang tầng số pháo binh:
- Đà Điều đây Bắc B́nh nghe rơ trả lời
- Bắc B́nh đây Đà Điểu tao nghe
- Mầy có tầng số của tao và thằng Minh Mạng không? Đổi qua đó ngay đi, tụi tao có việc cần đến tụi mầy.
- Rồi, tao sẽ qua bên đó gặp mầy.
Thằng em truyền tin lại đổi tầng số một lần nữa:
- Đà Điểu đă bay về tổ, Bắc B́nh, Minh Mạng, tụi mầy nghe tao không.
- Đà Điểu đây Bắc B́nh, mầy cho tao một trái lên 12, phải 24 rưởi, bắn khi nào mầy sẳn
sàng.
- Lên 12, phải 24 rưởi, bắn ngay.

Chừng hai phút sao, tiếng 155 ly xé gió rớt ngay giửa trảng cỏ, đất trôn lẩn với cỏ non bay mù mịt.
- Đà Điểu đây Bắc B́nh, mầy cho qua phải khoảng ¼, bắn khi nào mầy sẳn sàng.
- OK, lên 12, phải 24-3/4 có ngay

Chỉ không đầy 30 giây, quả 155 ly thứ hai rớt ngay lên đẩu bọn chúng, vài thằng quưnh quáng chạy ra trảng cỏ.
- Đà Điểu bắn hết, bắn hết.
- Minh Mạng, coi chừng tụi nó chạy về phía mầy.

Tôi quay ngang bảo mấy thằng em chuẩn bị băng ngang trảng cỏ khi dứt pháo. Từng quả 155 ly rớt ngay trên đầu bọn phục kích. Hàng ngũ chúng bắt đầu xôn xao. Tôi gọi thằng Mẫn:
- Minh Mạng mầy chuẩn bị khi tao gọi th́ tiến đến b́a rừng nhưng coi chừng có bọn tao đi từ bên trái vào (hương Tây)
Giọng thằng Mẫn khẩn cấp trong máy:
-Tụi nó đang chạy về hướng tao, đông lắm. Đà Điểu mầy cho tao hết lên 12, phải 24, bắn hết, bắn hết.

Tôi nghe thằng Mẫn gọi tọa độ mà kinh hoảng, đó là điểm hẹn của hai đứa, thằng Mẫn đang lâm nguy. Tôi ra lịnh cho toán băng ngang trảng cỏ. Tôi vừa cầm khẩu M16 vừa chạy đến b́a rừng bên kia, từng tia đạn bay tới tấp về hướng tôi. Tôi bất chấp, gọi thằng Đắc pháo binh cho bắn hết vào điểm hẹn. Tôi thay băng đạn hai lần, không biết tôi chạy bao lâu, xác bộ đội bắc việt nằm ngổn ngang v́ trúng pháo 155 ly, nét mặt c̣n non choẹt, tuổi chừng 14-15. Tôi cứ vừa bắn vừa chạy về phía thằng Mẫn. Mấy thằng em chạy theo cũng vừa chạy vừa la xung phong.

Bọn tôi cứ chạy và bắn cho đến khi không c̣n nghe tiếng băn trả lại mới ngừng chạy. Không gian bây giờ im ĺm như thần chết vừa đi qua. Thây người chết ngổn ngang, cây găy đổ v́ đạn pháo. Mùi khói súng khét lẹt giữa rừng chiều. Gió bổng nổi lên như thần chết rảo ṿng chiến địa. Mùi tanh của máu, mùi khét khói súng quyện nhau giữa những thây người nằm ngă gục. Tôi đứng như chết giữa băi chiến trường đă chấm dứt mà phần thắng chẵng về ai. Mấy thằng em lục lội t́m toán thằng Mẫn. Bốn thầy tṛ nó nằm ngữa mắt vẫn mở như trông chờ ai. Tôi vuốt mặt từng đứa rồi lấy poncho gói xác Mẫn lại.

Ngủ yên đi Mẫn, đă 43 năm rồi đấy, tao thỉnh thoảng cứ nghĩ lại buổi chiều hôm đó, nếu tao không gọi pháo binh th́ mầy đâu có bị tụi nó tràn ngập sang hướng mầy. Có phải lỗi của tao không hả Mẫn?

Cửu Long
Viết từ New York
hoanglan22_is_offline   Reply With Quote
The Following 2 Users Say Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
phokhuya (3 Weeks Ago), trungthu (3 Weeks Ago)
Old 3 Weeks Ago   #538
hoanglan22
hoanglan22's Avatar
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Apr 2011
Posts: 8,615
Thanks: 6,789
Thanked 11,730 Times in 5,441 Posts
Mentioned: 437 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 3752 Post(s)
Rep Power: 20
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8
Reputation: 65459
Default Từ SÔNG BÉ 1965 đến PHƯỚC LONG 1975

(Phước Long đă được ghi trong lịch sử VN như khởi đầu cho sự sụp đổ của VNCH, rất nhiều
bài báo, sách vở đă được viết về Trận Phước Long 1975 từ những bài của các tác giả VNCH
đến các bài ‘quân sử’ của CSBV.. Bài này chỉ xin ghi nhận một số chi tiết tại Phước Long trước
tháng 12/1975)
● Vài chi tiết về Phước Long :
Tỉnh Phước Long phía Bắc giáp Kampuchea, phía Đông giáp hai Tỉnh Quảng Đức và Lâm
Đồng, phía Nam giáp Tỉnh Phước Thành, phía Tây giáp Tỉnh B́nh Long
Phước Long chiếm diện tích 7.490 cây số vuông.
Tỉnh lỵ đặt tại Phước B́nh c̣n gọi là Sông Bé
Các thay đổi hành chánh :
- 1958 : Khu vực Bù Gia Mập thành quận Phước Ḥa , nhưng sau đó bị hủy bỏ. Khu vực
Bù Đăng thành Phước Tân và sau đó đổi thành Đức Phong
- 1961 : khu vực Đồng Xoài thành quận Đôn Luân
Tóm lại cho đến 4/75 Phước Long có 4 quận : Bố Đức, Phước B́nh, Đức Phong và Đôn Luân
(theo Đông Tiến trong Nước Tôi, Dân Tôi trang 507)
● Sông Bé :
Địa danh Sông Bé trong chiến sử Việt-Mỹ thường được hiểu (theo LLĐB) th́ là :
Doanh trại LLĐB của Special Force (5 th SF) thành lập vào tháng 4 năm 1965. Trại (hay
chính xác là Cơ sở hành chánh được bảo vệ riêng trong ṿng rào pḥng thủ, nằm cách
Tỉnh lỵ Phước B́nh khoảng 2 km về phía Tây-Nam.
Tên ‘Song Be Base camp’ c̣n được gọi là SongBe Airfield, Farley Field hay LZ
Buttons (FSB Buttons)
Phi trường Sông Bé có phi đạo dài 1036 m, lót vỉ sắt, các C-130 có thể đáp được.
Trại này sau đó phát triển rộng trở thành Căn cứ đóng quân tạm của nhiều đơn vị Hoa
Kỳ và khi HK rút quân , căn cứ được giao lại cho QLVNCH
- Tháng 4-1966 : Lữ đoàn 173 Dù HK trú đóng tại đây trong cuộc hành quân Denver
- Tháng 12-1966 đến 2-1967 : Lữ đoàn BB 199th (Light Infantry)
- Tháng 5-6/ 1969 : nơi đóng quân của Lđ 1/ SĐ 1 BB Hoa Kỳ
- Tháng 4-1970 Lđ 2/SĐ 1 Không kỵ trú đóng đến 3/1971
Trận Sông Bé (Tháng 5-1965)
Cuộc đảo chính 1 tháng 11 năm 1963 và sau đó là các cuộc chỉnh lư tranh dành quyền lực
của các phe phái trong quân đội VNCH và các đảng phái chính trị đă làm suy yếu khả năng
chiến đấu của Quân lực VNCH. CSBV nhân cơ hội đă tập trung quân địa phương và đưa quân
từ miền Bắc xâm nhập trang bị các vơ khí mới của khối Cộng, sửa soạn cho một Chiến dịch
tấn công vào Phước Long.

Ngày 16 tháng 4-1965, toán B-34 của LLĐB Hoa Kỳ được gửi đến Phước Long, để giúp lực
lượng VNCH, tại đây đang có một toán cố vấn quân sự của MAC-V ngụ tại Ṭa hành chánh
Tỉnh. Toán B-34 bắt đầu xây dựng một doanh trại hay căn cứ tiền đồn tại một ngọn đồi gần đó
..Căn cứ này có thêm 120 địa phương quân VN và vài xe bọc thép cũ (thiết giáp Mă lai) bảo vệ.
(Gọi là ‘doanh trại' v́ đây không phải là một Căn cứ biên pḥng tiêu chuẩn, nơi đóng quân của
các Dân sự Chiến đấu, quân số 3-400 người , do một toán A LLĐB Mỹ, cùng một toán LLĐB
Việt giữ nhiệm vụ Chỉ huy Căn cứ)
Lúc 1 giờ 45 sáng 10 tháng 5, 2 Trung đoàn 761 và 763 CSBV, gồm trên 2500 quân đă mở
cuộc tấn công vào Thị xă từ nhiều hướng, bắt đầu bằng tiền pháo (súng cối) và sau đó .. hậu
xung..
Quân sử của 5th SF ghi lại về trận này như sau :
‘..trong khi Toán B-34 được xếp để ở chung ṭa nhà đủ tiện nghi với Toán 94 Cố vấn MAC-V,
địa điểm này chỉ được pḥng ngự sơ sài..Các quân nhân LLĐB thuộc Toán B-34 di chuyển ra
đóng ngoài tiền đồn, Th tá Mitchell Sakey theo linh tính đă đặt thêm nhiều vị trí súng máy và
súng cối quanh tiền đồn.. Công cuộc chuẩn bị đang tiến hành th́ CQ đă tấn công và họ cũng
không ngờ SF lại bố trí họa lực thật mạnh tại đây ! CQ pháo kích cả vào khu vực hành chánh
của Tỉnh lẫn doanh trại của B-34. TĐ 36 BĐQ đang trú đóng tại Tỉnh, bị CQ đẩy dạt sang một
phía và chúng tiến thẳng vào nơi cư trú của các quân nhân Mỹ : tại đây có 22 quân SF và 14
người Mỹ khác chia nhau trú tại 2 ṭa nhà.. Pháo CQ phá hủy các ṭa nhà ngay trong đợt pháo
kích đầu..Chỉ huy toán B-34, Tr tá Alton Parks bị thương..Th tá Sakey thay quyền chỉ huy chống
trả.. Các quân nhân SF kháng cự trong bóng đêm..CQ bị chặn tại ṿng ngoài hàng rào gốc phía
Tây-Nam, chúng dùng bộc phá, phá một khu vực rào giữa Trại và đặc công tiến vào dùng lựu
đạn tấn công các giao thông hào...Các quân nhân HK chống trả quyết liệt kể cả cận chiến bằng
dao, lưỡi lê. Các quân nhân của MAC-V và của ĐĐ 120th không vận Army cũng giúp chống đỡ.
Các trực thăng vơ trang đă đến yểm trợ chỉ 2 giờ sau khi CQ tấn công, nhưng trần mây thấp và
khói súng che khuất tầm quan sát của trực thăng..Các trực thăng phóng rocket và bắn phá khu
vực phía Tây Tỉnh lỵ giúp khóa các ổ súng cối của CQ. Th tá Sakey điều khiển các đợt không
kích và loại dần các ổ súng máy của CQ.. Trực thăng tải thương đă đáp được xuống lúc 8 giờ
sáng và 16 thương binh được di tản.
Cuộc chống trả quyết liệt của các quân nhân SF đă ngăn CQ tràn ngập khu hành chánh Tỉnh
CQ chỉ ở trong khu vực đến trưa..Ngay từ sáng TĐ 36 BĐQ đă phản công giải tỏa khu vực Chợ
và Nhà thờ Tỉnh lỵ, nhưng Đ úy Nghĩa (?) TĐ trưởng đă hy sinh..Các cuộc không kích tiếp tục
và TĐ 34 BĐQ tăng viện đă đến và tái chiếm toàn Tỉnh lỵ..’
Tổn thất : Tử thương : 5 quân nhân Mỹ ; 49 binh sĩ VNCH.
CQ bỏ lại 85 xác.
● Các đụng độ tại Sông Bé sau 1965 :
- 29 tháng 9 - 1967 : QĐ Mỹ mở cuộc hành quân Shenandoah II sử dụng 2 Lữ
đoàn BB khai thông QL13, cuộc hành quân sau đó mở rộng sang địa phận B́nh
Long và Phước Long khi t́m được các bằng chứng SĐ 9 CQ đang sửa soạn tấn
công Thị xă Sông Bé
- 27 tháng 10 -1967 Trung ương Cục Miền Nam (COSVN) đă mở các đợt tấn công
nhằm vào khu vực B́nh Long-Phước Long. Tấn công vào một căn cứ do một TĐ
BB/SĐ5BBVN trấn đóng tại Đông-Nam Sông Bé. Khoảng 200 quân VNCH trấn giữ tại đây CQ bị đẩy lui nhờ sự yểm trợ oanh kích của KQHK. CQ bỏ lại 134 xác
và 2 cán binh bị thương, bị bắt. Quân VNCH tịch thu được 73 súng cá nhân, 10
súng cộng đồng và 3 súng phun lửa. VNCH có 12 tử trận. Những ngày sau
VNCH đưa 1 TĐ BĐQ và HK đưa TĐ1/ 18/ SĐ 1 HK vào tảo thanh khu vực
nhưng CQ đă chuyển về hướng Bố Đức nhưng cũng bị đánh tan..Các đơn vị nhỏ
của CQ tiếp tục các hoạt động quấy rối.. và tấn công vào Lộc Ninh..(LỊch sử
Kháng chiến chống Mỹ- 1954-75 Tập V - Th tá Nguyễn văn Minh)
- Ngày 6 tháng 11 - 1967 : các đơn vị của Tr/Đ 275 CSBV đă phục kích 1 ĐĐ BB
thuộc SĐ 5 BB VNCH đang hoạt động tại Nam Sông Bé, Quân tiếp viện VNCH
được gửi đến và CQ áp sát quân VNCH, nên KQ và Pháo binh không thể oanh
kích yểm trợ . Kết quả CQ bỏ lại 265 xác ; bên VNCH có 54 tử trận, 55 bị thương
và 15 mất tích (Periodic Intel Report No 45/II FPV). Tướng Weygand nghi ngờ
CQ có thể mở các cuộc tấn công quy mô hơn nên đưa 2 TĐ BB của SĐ 25 BB
Mỹ vào tảo thanh các khu vực quanh Thị xă Sông Bé..Sau hai tuần hoạt động
các TĐ này về lại đơn vị , nhưng ngay sau đó , thám kích đă t́m ra dấu vết của
TRĐ 271 CSBV vừa di chuyển vào khu vực ! và CQ tập trung quang Bù Gia Mập
một ấp bỏ hoang cách Sông Bé 28 km về phía Đông-Bắc.. có thể sửa soạn cho
một trận đánh mới vào Sông Bé ? Ngày 25 tháng 11 , Tr Đ 275 CSBV tấn công
thăm ḍ một trại quân của VNCH phía Nam Sông Bé..Trận đánh kéo dài 4 tiếng
và CQ rút lui bỏ lại gần 100 xác ! Sau đó cho thấy đây chỉ là trận cầm chân quân
VNCH khi CQ tấn công vào Bố Đức (29 tháng 11) !(Periodic Intel Report No 47
II/FFV) (Xin đọc bài Bù Đốp của Trần Lư)
- Trong năm 1967, SF mở thêm nhiều trại hành quân giữa những khu vực mật khu
của CQ và ven biên, dùng các lực lượng biệt kích lưu động (Mike force) và toán
thám sát hoạt động ngăn chặn các đường xâm nhập và chuyển vận quân và tiếp
liệu dùng Chiến khu D để di chuyển vào vùng ven đô Saigon. Các Trại có mục
đích lâu dài và gặp nguy hiểm nhất là Prek Klok và Tống Lê Chơn tại Chiến khu
C, trại Bunard (xem bài về Bunard của Trần Lư) tại Chiến khu D và các trại của
Sông Bé gây trở ngại cho các cuộc xâm nhập của CQ từ Kampuchea…
- Năm 1968 , CQ tránh các cuộc tấn công trực tiếp vào Tỉnh lỵ nhưng vẫn liên tục
quấy phá các Trại LLĐB thuộc Tỉnh .. Các lực lượng hậu cần của CQ như Đoàn
86,t́m cách tránh các đơn vị VNCH, dùng các đường ṿng..
-Ngày 26 tháng 2 : một toán Dân Sự Chiến Đấu (CIDG) từ Bù Đốp (A-341) đă
phục kích tại một địa điểm cách Tỉnh lỵ 32 km về phía Đông. Toán đă chặn đánh
một chiếc xe vận tải quân sự BV (Molotova 2.5 tấn). Xe chở đầy quân BV chạy
xuống phía Nam về vùng Kampuchea. Xe lọt ổ phục kích của CIDG và bị tiêu
diệt hoàn toàn : 17 CQ bị hạ, 2 bị thương ; tịch thu 16 vơ khí cá nhân và 2 súng
cộng đồng. Phía CIDG có 1 bị thương cùng 1 SF Mỹ.
-Ngày 28-2 Trại Bunard (A-344) bị pháo kích 20 quả 82 ly.. 15 CIDG bị thương.
- (Trong những tháng đầu năm 1965 , CQ đă xây dựng một con đường chiến lược
tại vùng phía Đông Sông Bé, có thể sử dụng cho xe vận tải, đường chạy từ biên
giới Miên đến gần QL 14.. KQ Việt Mỹ và các toán CIDG đă liên tục oanh kích và
ngăn chặn các cuộc chuyển vận của CQ..)

Ngày 16 tháng 3 : DSCĐ Bù Đốp tiếp tục phục kích CQ xâm nhập : tại 33 km
Đông-Bắc Tỉnh lỵ Sông Bé : 2 xe vận tải 3/4 tấn bị tấn công; CQ bỏ chạy vào
rừng, 2 xe bị hủy , bỏ lải 2 xác..
- Hành quân trực thăng vận ‘Tamatta Shanee' từ 23 đến 28 tháng 3, tảo thanh khu
vực Tây Nam Phước Long. Lực lượng hành quân tiến theo hai hướng..Cộng
quân tránh đụng độ. Phá hủy được nhiều kho tiếp liệu : 16000 lbs gạo trong bao
, 1 quả bom 500 lbs, 12 xe đạp thồ,.6 CQ bị hạ, 1 bị bắt cùng 30-40 hầm hố, lô
cốt bị san bằng..
- Nhiều đơn vị Hoa Kỳ đă từng trú đóng tại Sông Bé (Xem phần trên)
● Sông Bé : 1969
Năm 1969 có một vài trận đánh giữa CQ và lực lượng Hoa Kỳ trú đóng tại Phước
Long trong đó đáng kể nhất là trận đụng độ tại Căn cứ Hỏa lực Buttons .
Căn cứ hỏa lực Buttons (Fire Support Base=FSB) nằm về phía Bắc và hơi chếch về
phía Tây của núi Bà Rá (Phước Long), cách Phước B́nh 1.5 km về hướng Tây. Tỉnh lộ
310 nồi liền Sông Bé và Phước B́nh. Hai tỉnh lộ 310 (chạy Đông -Tây) và 311
(Bắc-Nam) gặp nhau tại Liên tỉnh lộ 1 A. Tỉnh lộ 310 nối FSB Buttons với phi trường
Sông Bé và FSB nằm ven lộ 310..Núi Bà Rá cách FSB Buttons chừng 1 km về phía
Nam. FSB Buttons là nơi đặt Bộ chỉ huy của TĐ 5/ 7 Không kỵ , tại đây có một pháo đội
6 khẩu 105 và nơi trú đóng của một lực lượng thám kích Delta. Pháo đội 105 yểm trợ
cho các cuộc hành quân của TĐ 5/7 Không kỵ và các toán thám kích Delta..TĐ 5/7 do Tr
tá Thomas Healy chỉ huy (ông này sau lên tướng HK) và sau đó FSB Buttons do Đ tá
Meyer chỉ huy (Tướng Meyer , năm 1980 là Tham Mưu Trưởng Lục quân HK)
CQ đă tấn công vào FSB Buttons ngày 4 tháng 11 năm 1969. CQ sử dụng 2 TĐ Đặc
công với trên 500 quân với ư định đột kích căn cứ cố gây tổn hại cho quân Mỹ và rút thật
nhanh. Ngay 1 giờ sáng sớm CQ pháo kích vào Căn cứ với đủ loại pháo 107, 120 và cối
82..và đặc công cắt rào xâm nhập.. Cuộc tấn công hoàn toàn thất bại trước hỏa lực rất
mạnh của các thiết quân vận ACAV và chiến xa Sheridan của TĐ 5/7 Không kỵ (mỗi
ACAV được gắn 1 đại liên 0.50 cal, với 1500 viên đạn, 2 đại liên M-60 với 12 ngàn viên
chưa kể M-79 , súng cá nhân.. ) CQ rút chạy lúc 5 giờ sáng sau khi gần như toàn bộ đặc
công CS xâm nhập bị bắn hạ, ngoài ra HK c̣n có thêm các trực thăng vơ trang và
AC-47 yểm trợ . CQ bỏ lại 172 xác, đổi lại phía Mỹ có 2 chết và 26 bị thương..
Các tài liệu tịch thu được ghi lại : CQ đă dùng Đoàn đạc công tinh nhuệ nhất của
COSVN- J-16 và 1 TĐ thuộc Tr Đ 141/SĐ 7 CSBV trong trận đánh
(Xin đọc thêm ‘Incursion" của J.D Coleman trang 165-166)
Ngày 14 tháng 11, 1969 , các đơn vị thuộc SĐ 7 CSBV đă tấn công vào Căn cứ hỏa
lực Jerri ( Đây là một Cứ điểm bảo vệ một băi đáp trực thăng và pháo binh, cách Trại SF
Bù Đốp khoảng 4 km, do vài đơn vị HK thuộc SĐ 1 Không kỵ trấn giữ). CQ pháo kích dữ
dội vào căn cứ bằng súng cối và hỏa tiễn trong suốt 30 phút. CQ rút chạy ngay khi quân
HK phản pháo .. Bên Mỹ có 5 quân nhân tử thương…
Các Căn cứ hỏa lực Buttons và Jerry sau này được quân đội HK trong cuộc tấn công
vượt biên giới qua đất Miên ngày 1 tháng 5 năm 1970

● Sông Bé : Hè 1972

Trong mùa Hè 1972 : Cộng quân tập trung lực lượng tấn công vào An Lộc (B́nh Long).
Khu vực lănh thổ trách nhiệm của SĐ 5 BB VNCH (Tư lệnh là Ch tướng Lê văn Hưng)
gồm các Tỉnh B́nh Dương, B́nh Long và Phước Long (Tỉnh trưởng là Đ/tá Lưu Yểm) :
Tại Phước Long có TĐ 1/9 đóng quân tại Bố Đức, chịu trách nhiệm bảo vệ Thị xă phối
hợp với ĐPQ và Nghĩa quân cơ hữu của T́nh..
CQ chỉ tấn công quấy rối Sông Bé, dùng các lực lượng địa phương phục kích các
đường lộ và pháo kích vào các cứ điểm pḥng thủ để cầm chân các lực lượng trú
pḥng.
● Sông Bé : Sau Hiệp định Paris
Hiệp định Paris được kư ngày 27 tháng Giêng 1973, các vùng đất CQ chiếm đươc
trong Trận Tổng tấn công Mùa Hè 1972 được xem là Vùng ‘giải phóng' Quân VNCH
không thể tấn công tái chiếm.
CQ kiểm soát hầu như toàn bộ Tỉnh B́nh Long, ngoại trừ Thị xă An Lộc và Cứ điểm
Chơn Thành. QLVNCH cố gắng khai thông QL13 phía Bắc Lai Khê nhưng việc tiếp tế
cho An lộc và Chơn Thành rất khó khăn và phải dùng không vận. CQ cũng kiểm soát
các vùng đất quanh Phước B́nh (Sông Bé), Thị xă của Phước Long !
Cho đến cuối năm 1972, CQ thay đổi các bố trí lực lượng : Sau An Lộc, CQ chỉ để lại
Tr/Đ 95 C trong khu vực; SĐ 18 BB VNCH giao việc pḥng thủ An Lộc lại cho BĐQ QK 3
(có 8 TĐ trong đó TĐ 92 lo pḥng thủ Căn cứ Tống Lê Chơn). CQ đưa Tr Đ 272 về vùng
quanh Bố Đức và vùng Tây Bắc Phước Long để phá rối, đồng thời dưỡng quân; Tr Đ
271 chuyển về Đông-Bắc Chơn Thành , chặn QL 13 giữa An Lộc và Chơn Thành, đồng
thời dự trú tấn công các Căn cứ Chí Linh (thuộc B́nh Long) và Đồng Xoài (thuộc
Phước Long). Các căn cứ này do ĐPQ trấn giữ và được tiếp tế bằng không vận. Đồng
Xoài được nối với Phú Giáo bằng QL 1A (Phú Giáo là căn cứ của Tr Đ 7 SĐ 5 VNCH).
Đầu tháng Giêng 1973, Tr Đ 7/5 hành quân khai thông QL và một đoàn xe tiếp tế đă đến
được Đồng Xoài, nhưng QL 14 phía Bắc Đồng Xoài vẫn bị chặn nên Thị xă Sông Bé và
các căn cứ quân sự tại Sông Bé phải tiếp vận bằng phi cơ và nếu dùng đường bộ phải
đi ṿng ngơ Quảng Đức..
Đề pḥng thủ Phước Long, Tr/Đ 9 /SĐ 5 BB VNCH đă đến trú đóng tại Sông Bé
Năm 1973 : là năm ‘Dành dân - Giữ đất’ (LandGrab) trước khi các bên kư Hiệp định
Đ́nh chiến : CQ lo củng cố các vùng họ đă chiếm đóng sau cuộc tiến công Hè 72. Bên
VNCH t́m cách lấy lại các xă ấp bị mất
QLVNCH vẫn cố giữ Sông Bé : một căn cứ pḥng thủ mới, được xây dựng thêm
cạnh phi trường. Việc chống giữ Sông Bé chỉ có giá trị ‘chính trị' v́ Sông Bé không phải
là một ‘tiền đồn' nhằm ngặn chống lại CQ trong các cuộc tiến công về Saigon.
Từ đầu năm 1974, TỈnh lỵ Sông Bé (Phước B́nh) chỉ nối kết với bên ngoài bằng đường
bộ qua ngă Kiến Đức (Tỉnh Quảng Đức) : đường rất xa và khúc khuỷu v́ qua nhiều vùng
đồi núi : từ Nha Trang đi Ban Mê Thuột, qua Gia Nghĩa đến Kiến Đức và rẽ về phía Tây
để đến Sông Bé : đoạn QL 14 lưu thông được nhờ quân trú pḥng tại Đức Phong canh
giữ (giữa Kiến Đức và Sông Bé). Có thể đi từ Đức Phong qua lối Bù Na để đến Sông
Bé nhưng không an toàn. Từ giữa tháng 3-74 đường 14 lưu thông từ Bắc Đồng Xoài
cũng bị cắt đứt.. Việc tiếp tế cho Sông Bé tùy thuộc vào khả năng của KQVNCH sử
dụng các C-130 A, Chinook và trực thăng UH-1.

- KQVNCH bị mất 2 chiếc C-130 A tại Phi trường Sông Bé :
- 18 tháng 12 năm 1974 : Chiếc S/N 55-000521 trúng đạn pháo kích khi đang
lên-xuống hàng . Phi cơ hư hại hoàn toàn . Phi hành đoàn : Th/tá Nguyễn Chánh
Mỹ và Tr/u Châu Vĩnh Khải vô sự và được trực thăng bốc về Biên Ḥa
- 25 tháng 12 năm 1974 : Chiếc S/N 55-0016 bị bắn hạ khi đang đáp
Trong thời gian đ́nh chiến, CQ đă lo xây dựng các kho tiếp liệu quân sự, các kho thực
phẩm, làm đường xá, thiết lập các ổ pḥng không. CQ đưa thêm các xe tăng..lập các
trung tâm huấn luyện tại khu vực Ḷ G̣ (Tây Ninh) và Bù Đốp (Phước Long)
CQ cô lập hóa Thị xă Sông Bé, dùng pháo các loại oanh kích và dùng bộ binh tấn
công các tiền đồn của VNCH dọc suốt 75 km đường lộ, kéo dài từ Phú Giáo đến Sông
Bé. CQ pháo kích phi trường Sông Bé và tấn công Đồng Xoài, cắt đường bằng phá cây
cầu bắc ngang sông Sông Bé
KQVNCH , trong các ngày 14 đến 22 tháng 11, 1974, đă tập trung 122 phi cơ khu
trục để oanh kích các vị trí pḥng không , pháo binh và kho hàng của CQ tại Phước
Long để ngăn chặn các cuộc tập trung quân của CQ trong vùng. Tại Bù Đốp ngàỵ 5
tháng 12 , KQ dùng 23 chiếc A-1 , 17 chiếc F-5 và 18 chiếc A-37 oanh kích phá hủy 45
ṭa nhà, 2 vị trí pḥng không, một kho đạn, kho xăng dầu gây nhiều đám cháy và nhiều
vụ nổ phụ
● Những diễn biến trước cuộc tấn công lấn chiếm Phước Long :
(Theo The Last Christmas : Phuoc Long của William E Le Gro trong ‘VietNam from
Cease-Fire to Capitulation , trang 132-133)
Tỉnh Phước Long, do vị trí khá xa Saigon nên không nằm trong các kế hoạch pḥng
thủ Saigon từ xa của Bộ TTM QLVNCH. Sau Hiệp định Paris (1973), Phước Long có là
‘biểu tượng chính trị' để cho thấy Phe Cộng không chiếm đươc ‘trọn’ một Tỉnh nào của
VNCH hơn nữa sự hiện diện của các ‘tiền đồn' VNCH trong các khu bị CQ chiếm vẫn là
những cái ‘gai' gây khó khăn cho CQ về cả chính trị lẫn quân sự Nhiều đơn vị hậu cần
và chiến thuật của Trung Ương Cục Miền Nam CSBV (COSVN) đă di chuyển vào các
khu vực an toàn tạm chiếm tại vùng đồn điền cao su Bố Đức- Bù Đốp. Bộ Chỉ huy Thiết
giáp M-26 của CQ, có 3 Tiểu đoàn xe tăng đóng tại Phi trường Bù Đốp , chỉ cách Căn
cứ quân VNCH tại Sông Bé có 25 km. Bộ Chỉ huy Công binh của COSVN cũng đặt tại
Bố Đức với 3 TĐ, mở rộng các đường lưu thông giữa Lộc Ninh và Bù Gia mập. Các TĐ
Pḥng không, Vận tải, Tiếp liệu.. di chuyển vào Khu tạm chiếm, nằm trong tầm bắn của
Pháo binh VNCH đóng tại Phước B́nh (Sông Bé). Ngoài ra 4 con đường tiếp liệu-xâm
nhập chiến lược của CQ, đi qua Phước Long, từ Bắc xuống Nam, ṿng qua các Cứ
điểm nơi quân VNCH trấn đóng và vượt các đoạn đường mà quân VNCH tuần tiễu !
Mùa Hè 1974 , Phước Long yên ổn. Tháng 8/1974 một hồi chánh viên, ra hàng tại
Tiểu khu Phước Long cung khai cho biết CQ đă gửi 2 toán trinh sát thăm ḍ các Căn
cứ của VNCH : một toán trinh sát Sông Bé và một toán thăm ḍ Đức Phong . V́ sau đó
không thấy CQ tấn công nên Đ tá Nguyễn Thống Thành, Tỉnh trưởng cho rằng các hoạt
động trinh sát này của CQ chỉ nhẳm mục đích t́m đường vận chuyển tiếp liệu quân sự
và lương thực.. hơn nữa theo tin tức t́nh báo th́ CQ chưa tập trung đủ quân trong vùng
để đe dọa trực tiếp Phước Long (?), tuy vẫn có thể gây trở ngại cho các cuộc di chuyển
của quân VNCH trên các đường lộ dẫn đến Tỉnh lỵ Sông Bé : như QL 14 đi Quảng Đức

và các tịnh lộ nối Sông Bé với Bù Na. SĐ 7 CSBV cắt đường giữa Buna đi Đồng Xoài
nên phải dùng lối Quảng Đức rất xa và nhiều trở ngại. Đồng Xoài chỉ nhận tiếp vận bằng
trực thăng ..
CQ đóng chốt liên tục trên QL 14, phía Đông Phước B́nh-Sông Bé nên quân VNCH
phải mở các cuộc hành quân khai thông mỗi khi muốn chuyển vận tiếp liệu và thực
phẩm vào Thị xă Sông Bé : Nhu cầu gạo của Tỉnh mỗi tháng khoảng 500 tấn, địa
phương chỉ tự canh tác được chừng 200 tấn, phần c̣n lại phải vận chuyển vào Tỉnh
bằng xe vận tải. Lực lượng trú pḥng giữ mức tồn trữ đạn đủ dùng trong 1 tuần trong
trường hợp đánh lớn và đạn dự trữ phải được cung cấp liên tục..VNCH phải dùng các
C-130 để phụ thêm cho nhu cầu..(xem tổn thất C-130 phần trên)
Để dự trù chuyến tiếp liệu vào tháng 11-1974, Đ tá Thành cho khai thông Quốc lộ.
Để bảo vệ các Cứ điểm trong lúc các đơn vị ĐPQ trú pḥng tham dự cuộc hành quân
mở đường, QĐ III, không c̣n quân BB trừ bị, đành gửi cho Phước Long 3 ĐĐ Trinh sát
, lấy từ quân số của 3 SĐ ( 5, 18 và 25 ) thống thuộc QĐ,
Các lực lượng ĐPQ của Đức Phong gồm TĐ 362 ĐPQ, 4 Trung đội Nghĩa quân, một
trung đội Pháo 105 phối hợp cùng 2 ĐĐ của TĐ 340 ĐPQ (Sông Bé) được rải dọc QL
14. Trong một cuộc đụng độ gần biên giới Quảng Đức, lực lượng này hạ được 4 CQ
thuộc Tr Đ 201 BV , tân lập (thuộc SĐ 3 CSBV cũng tân lập riêng cho Phước Long)..
Tuy cuộc hành quân mở đường thành công nhưng dấu hiệu có mặt của một Tr Đ CQ
trong vùng Đức Phong đă đặt một câu hỏi nghiêm trọng !
Ngoài hai TĐ 340 và 362 ĐPQ trên, Đ tá Thành c̣n có TĐ 341 ĐPQ tại Đồng Xoài và
TĐ 363 ĐPQ tại Bù Na, thêm vào đó là 34 Trung đội Nghĩa quân pḥng vệ cho các ấp
quanh Sông Bé , trong đó 14 Tr đội lo pḥng thủ 8 ấp thuộc Chi khu Đức Phong , 9 Tr
đội pḥng vệ các xă ấp quanh Đồng Xoài...Toàn Tỉnh được yểm trợ bởi 4 khẩu 155 và
16 khẩu 105..mỗi chi khu c̣n có 2 khẩu 105..
CQ chính thức tấn công Phước Long ngày 13 tháng 12, 1974 ..và Phước Long thất
thủ ngày 6 tháng Giêng 1975.

Trần Lư
hoanglan22_is_offline   Reply With Quote
The Following 2 Users Say Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
phokhuya (3 Weeks Ago), trungthu (3 Weeks Ago)
Old 3 Weeks Ago   #539
hoanglan22
hoanglan22's Avatar
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Apr 2011
Posts: 8,615
Thanks: 6,789
Thanked 11,730 Times in 5,441 Posts
Mentioned: 437 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 3752 Post(s)
Rep Power: 20
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8
Reputation: 65459
Default CÁC TRẬN ĐÁNH NĂM 1975

( Trích sách “Giải Mă Những Bí Ẩn của Chiến Tranh Việt Nam” của Bùi Anh Trinh )

CÁC TRẬN ĐÁNH NĂM 1975, (19) TRẬN KHÁNH DƯƠNG, NHỮNG LỜI BỊA ĐẶT TỒI BẠI



Sổ tay chiến trường của Thiếu tá Phạm Huấn vào ngày 22-3-1975 :

“Rừng núi cao nguyên thật lạnh. Nhưng họ cũng đă quen sau những năm tháng dài trấn đóng và hành quân tại Miền Bắc Kontum trước đây. Các chiến sĩ Trung đoàn 40 và 2 tiểu đoàn Địa phương quân thiện chiến của Tiểu khu Phan Rang, luôn luôn trong t́nh trạng báo động trên chiến tuyến phía Tây mặt trận Khánh Dương. ( Thực ra chỉ có 1 tiểu đoàn ĐPQ nhưng đă chết hết một nửa sau 5 ngày tử chiến với quân CSVN từ Ban Mê Thuột ).

“Đúng 7 giờ 30 sáng, một trận địa chấn kinh hồn. Hàng ngàn, nhiều ngàn trái đại bác của địch nă vào như “bắn hiệu lực” trên tuyến pḥng thủ. Sau đó là chiến xa và biển người.

Sư đoàn F 10 Cọng sản Bắc Việt dốc toàn lực lượng với chiến xa, pháo binh quyết rửa cái nhục chiều ngày hôm qua. Khoảng 40 phút, các lực lượng pḥng thủ phía Tây Khánh Dương gồm gần nửa quân số Trung đoàn 40, Sư đoàn 22 Bộ binh và 2 tiểu đoàn Địa phương quân Phan Rang, tan ra từng… mảnh nhỏ.” ( Phạm Huấn, Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên, trang 199 ).

Lúc đó Tiểu đoàn 231/ĐPQ đang nằm trong ṿng đai pḥng thủ BCH quận Khánh Dương và Tiểu đoàn 2/40 BB cách quận 5 cây số về hướng BMT. Nghĩa là Quận lỵ Khánh Dương bị tràn ngập từ phía BMT và từ trong rừng phía Nam BCH Chi khu. Thế nhưng sau đó Phạm Huấn lại ghi tiếp :

“ 10 giờ, Chi khu Khánh Dương di tản v́ bị Việt Cộng tràn ngập (!). Đây là màn dàn cảnh của Quận trưởng Khánh Dương : Cho em út thuộc Tiểu đoàn 272 Địa phương quân Khánh Ḥa bắn súng cối vào hàng rào pḥng thủ quận rồi bỏ chạy. Tiểu đoàn 63 pháo binh sau đó, vào quận kéo 2 khẩu đại bác 105 ly đi, không thấy có Việt Cọng. Tướng Phú ra lệnh truy tố Quận trưởng Khánh Dương, nhưng sau đó lại bỏ (!)…”

Nghĩa là vào lúc 10 giờ sáng ngày 22-3-1975 Chi khu Khánh Dương vẫn c̣n nguyên sau khi đă tan ra từng mănh nhỏ vào lúc 7 giờ 30 sáng !?.Đây chỉ là suy diễn bệnh hoạn của Thiếu tá Huấn từ chuyện kéo 2 khẩu súng :

Nguyên do khi quân CSVN pháo vào phi trường và BCH/Chi khu th́ cũng là pháo vào 2 khẩu 155 ly ( không phải 105 ly như tài liệu của Phạm Huấn ). Đây là 2 khẩu pháo duy nhất được đặt trong ṿng rào BCH/Chi khu. Cho nên khi vừa dứt pháo th́ Chi khu cho lệnh di tản bởi v́ toàn Chi khu bị tràn ngập mà tại quận Khánh Dương không c̣n dân mà cũng không c̣n lính. Các pháo thủ nhảy theo các loại xe trong chi khu để di tản. Riêng ông trung đội trưởng pháo binh cũng lên xe jeep dông theo đoàn di tản.

Đến 9 giờ ngớt pháo, t́nh h́nh có vẻ yên ắng th́ cả đám mới phát hiện ra 10 khẩu 105 ly được kéo về M’Drak an toàn, riêng ông trung đội trưởng Pháo binh 155 ly bỏ chạy mà chưa phá hủy 2 khẩu súng. Bắt buộc ông phải mon men trở lại để c̣n kịp th́ kéo súng đi, c̣n không kịp th́ hủy súng chứ không sẽ bị ra ṭa.

Hỏi thăm những người chạy sau cho biết quân CSVN từ Ban Mê Thuột đang c̣n đánh nhau với 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 40 BB cách BCH Chi khu 5 cây số, và Tiểu đoàn 231 đang c̣n cầm cự trên đồi sau lưng BCH Chi khu cho nên sĩ quan trung đội trưởng của 2 khẩu 155 ly đem GMC về kéo súng. Hai khẩu 155 được kéo về đầu đèo M’Drak an toàn. Lúc đó BCH hành quân của Sư đoàn 23 BB tại đầu đèo M’Drak mới báo về BTL Quân khu 2 là cho tới 10 giờ sáng quân CSVN cũng chưa tới BCH Chi khu Khánh Dương.

Những ông quan “ngồi lê đôi mách” ở hậu phương

Trong khi sự thật là bắt đầu từ 7 giờ sáng, cứ thêm 1 phút là thêm xác chết của binh lính của Trung đoàn 40 BB và Tiểu đoàn 231/ĐPQ ngă xuống tại chiến trường phía Tây BCH Chi khu Khánh Dương. Sở dĩ quân CSVN chưa vào được BCH Chi khu là v́ đang bị chận lại bởi các tiểu đoàn Bộ binh của Trung đoàn 40 BB và Tiểu đoàn 231/ĐPQ.

Di hại của trí tưởng tượng của Phạm Huấn là người đời đọc sách của ông ta luôn luôn có ấn tượng không tốt về tinh thần làm việc của quân lực VNCH, toàn là cấp trên lừa cấp dưới, cấp dưới dối trá cấp trên, không có luật lệ, không có kỷ cương, muốn báo cáo sao th́ báo, muốn truy tố ai th́ truy tố, chẳng cần bằng chứng, chẳng cần nhân chứng.

Có thể nào có chuyện báo cáo láo và truy tố ẩu hay không? Không thể nào có được, bởi v́ hệ thống chỉ huy của quân đội của bất cứ nước nào cũng có những biện pháp ngăn ngừa t́nh trạng này:

Theo huấn thị điều hành căn bản của Bộ TTM/QL.VNCH th́ mỗi trung tâm hành quân ( cấp trung đoàn trở lên hoặc cấp chi khu trở lên ) phải có một cuốn sổ lớn để ghi lại diễn tiến từng giờ từng phút mọi biến cố xảy ra trong khu vực trách nhiệm, bắt buộc phải ghi đúng ngay lúc sự việc đang xảy ra, nhằm tránh trường hợp có xảy ra lỗi lầm nhưng chối lỗi. Quyển sổ đó được gọi là “sổ nhật kư hành quân”.

Không thể có chuyện tẩy xóa hay viết lại những trang ghi chép trong sổ nhật kư hành quân bởi v́ mỗi trang giấy trắng của quyển sổ đều được đóng dấu giáp lai (giữa hai trang giấy) và trên mỗi con dấu đều có chữ kư của Đơn vị phó, nhằm tránh t́nh trạng viết lại trang nhật kư hoặc ngụy tạo bằng một trang giấy khác. Sở dĩ phải do ông đơn vị phó kư là để đề pḥng trường hợp chính đơn vị trưởng phạm lỗi rồi sai nhân viên xé trang cũ, viết trang khác để chạy tội.

Thiếu tá Huấn chỉ là một nhà báo được học căn bản về quân sự nhưng không rành về chỉ huy tham mưu cho nên ông có rất nhiều tưởng tượng của những người không rành về quân đội. Ngay việc ông gọi quyển sổ tay ghi chép của ông là “Nhật kư hành quân” cũng không đúng; sổ của ông được gọi là “sổ tay chiến trường” của phóng viên báo chí. Riêng chuyện Khánh Dương tan nát rồi sau đó Khánh Dương c̣n nguyên đủ chứng tỏ Phạm Huấn ghi lại không đúng thời gian, chuyện xảy ra trước đựợc ghi lại sau trong khi chuyện xảy ra sau được ghi trước.

Do v́ không sắp đặt theo thứ tự thời gian và không ghi đầy đủ diễn tiến của t́nh h́nh cho nên Phạm Huấn bị ảnh hưởng bởi trí tưởng tượng vô tư của những người ngồi trên các quán cà phê vĩa hè. Trong khi con người ta đang chết từng giờ từng phút trên chiến trường th́ mấy quan ngồi tại hậu phương tha hồ tưởng tượng. Nội chuyện phi trường KD bị tấn công trở thành không bị tấn công, và Tiểu đoàn 231/ĐPQ biến thành Tiểu đoàn 272/ĐPQ là những điển h́nh .

Ngoài ra “2 tiểu đoàn thiện chiến của Phan Rang” mà Phạm Huấn viết cũng chỉ là bịa đặt. Sự thực Tiểu Đoàn 250/ĐPQ của Phan Rang đă bị đánh tan trong ngày 12-3, tức là trước đó 10 ngày. Khi Tiểu đoàn 231/ĐPQ lên đường đi Khánh Dương vào sáng sớm ngày 14-3 th́ nguyên thành phố Phan Rang như một đám tang : Gia đ́nh, thân nhân của Tiểu đoàn 250 đứng dọc theo Quốc lộ 1 để đón các chuyến xe từ Nha Trang tới, mong t́m xem có thêm người nào sống sót được trở về hay không.

C̣n “tiểu đoàn thiện chiến 231/ĐPQ” th́ trong ngày 22-3 chỉ là 180 “tàn binh” mệt mỏi và xuống tinh thần sau 5 ngày tử chiến với quân CSVN từ Ban Mê Thuột. Lẽ ra họ phải được đưa về tuyến sau để nghỉ ngơi và lấy lại hồn, nhưng họ vẫn phải tiếp tục đứng trên tuyến đầu bởi v́ các quan ngồi tại hậu phương cho rằng họ là “2 tiểu đoàn thiện chiến” c̣n nguyên khí thế ! ( hai tiểu đoàn khoảng 1.000 người ).

Nhưng rồi chỉ trong ṿng 40 phút tự nhiên 1.000 chiến binh của Sư đoàn 22 BB và 1.000 chiến binh thiện chiến của Phan Rang “tan ra… từng mảnh nhỏ”, không thấy nói đánh như thế nào và tan như thế nào (sic).

Lời bịa đặt dựa theo trí tưởng tượng bệnh hoạn

Sự vô tâm của Thiếu tá Phạm Huấn càng nặng hơn nữa khi ông ghi chuyện này vào trong tác phẩm của ông với đánh giá riêng của cá nhân ông : “Trong những ngày sôi bỏng của mặt trận Khánh Dương, Nha Trang, hôm ông Quận trưởng Khánh Dương cho lính địa phương quân bắn súng cối vào gần hàng rào pḥng thủ, rồi báo cáo quận bị Việt cộng tràn ngập, và rút lui. Tướng Phú giận lắm, định cách chức Tỉnh trưởng Nha Trang và truy tố Quận trưởng Khánh Dương ra ṭa án mặt trận.

Nhưng rồi buổi tối, bà Đại tá Lư Bá Phẩm, vợ Tỉnh trưởng Nha Trang, tới gặp bà Phú… một lát, Tướng Phú lại đổi ư kiến”.

Đây là lối suy luận của những kẻ ngồi lê đôi mách trên vĩa hè chứ không phải là của một thiếu tá thuộc binh chủng Nhảy dù từng tốt nghiệp trường vơ bị Đà Lạt. Nếu quả thật ông Quận trưởng Khánh Dương có làm chuyện đó th́ Tỉnh trưởng Lư Bá Phẩm sẽ là người có trách nhiệm truy tố ông quận trưởng ra trước ṭa án binh chứ đâu phải là ông Tướng Phú. Bởi v́ ông Quận trưởng thuộc quyền quản lư của Bộ Nội vụ chứ không phải của Bộ Quốc pḥng.

C̣n muốn cách chức Tỉnh trưởng th́ chỉ có Tổng thống hay Bộ trưởng bộ Nội vụ bởi v́ những Tỉnh trưởng của những tỉnh quan trọng do Tổng thống bổ nhiệm, những tỉnh nhỏ do Thủ tướng ( Kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ ) bổ nhiệm. Trong Vùng 2 có 5 ông Tỉnh trưởng do Tổng thống bổ nhiệm, đó là các ông Hoàng Đ́nh Thọ, Lư Bá Phẩm, Trần Văn Tự, Ngô Tấn Nghĩa và Nguyễn Hợp Đoàn.

Vả lại từ ngày 17-3-1975 Tướng Phú đă giao Chi khu Khánh Dương thuộc quyền chỉ huy của Đại tá Đức, Tư lệnh Sư đoàn 23 BB, vậy nếu có kỷ luật th́ kỷ luật Đại tá Đức chứ sao lại kỷ luật Đại tá Phẩm? Không lẽ Phạm Huấn không biết về hệ thống chỉ huy trong quân đội ?

Đúng là lúc 10 giờ sáng ông Tướng có nổi giận đ̣i truy tố ông Chi khu trưởng bởi v́ ông nhận được báo cáo là Chi khu KD c̣n nguyên. Nhưng sau đó ông Tướng bỏ qua bởi v́ người ta tiếp tục báo cáo cho ông rằng 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 40 và Tiểu đoàn 231/ĐPQ đă tan ră. Bộ chỉ huy Sư đoàn 23 của Đại tá Lê Hữu Đức và BCH Trung đoàn 40 BB của Trung tá Nguyễn Thành Danh cũng rút khỏi Khánh Dương trước Thiếu tá B́nh. Vậy th́ lấy bằng cớ nào mà ông Tướng có thể truy tố ông Thiếu tá B́nh ?

Chuyện đ̣i cách chức Đại tá Phẩm v́ tội của ông Quận trưởng B́nh là chuyện phi lư. Rồi chuyện bà Phẩm đi gặp bà Phú để chạy tội cho ông B́nh lại càng vô lư hơn, rồi ông Tướng Phú cho vợ nhận tiền của bà Phẩm để tha cho ông B́nh lại càng vô lư hơn nữa. Mọi chuyện xảy ra trong lúc dầu sôi lửa bỏng, các nơi đều di tản, loạn lạc. Ai hơi đâu mà chạy tiền giữ chức? Nhất là chức quận trưởng của cái quận đă lọt vào tay quân Cọng sản?!

Trong khi Thiếu tá Phạm Huấn là tay chân thân tín của Tướng Phú đă nói ra th́ ai mà không tin? Giờ đây Tướng Phú đă chết th́ Huấn có quyền phịa vô tội vạ v́ biết mọi người không ai c̣n mặt mũi nào mà phản bác. Nhưng Huấn không hề nghĩ tới rằng vợ con của những nạn nhân oan ức sẽ phải đau ḷng suốt đời v́ những bịa đặt hạ cấp của ông ta.

BÙI ANH TRINH

Chú thích của người viết

Năm 1996 tôi đến Mỹ theo diện tị nạn chính trị. Việc đầu tiên là tôi t́m tài liệu để giải mă trận Khánh Dương mà chính tôi có tham dự dưới quyền chỉ huy của Thiếu tướng Phạm Văn Phú. Thời đó, 1996, th́ quyển sách “Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975” của Thiếu tá Phạm Huấn là một tài liệu ăn khách nhất v́ tính cách khả tín của nó.

Nhưng tôi hoàn toàn thất vọng khi lật từng trang của tài liệu này. Tất cả chỉ là những suy diễn bệnh hoạn dựa trên một số những ghi chép “không đầu không đuôi” của Phạm Huấn. Ngoài ra ông ta cũng đă ranh mănh dựa theo những tài liệu nổi tiếng thời sau 1975 như sách Đại Thắng Mùa Xuân của Văn Tiến Dũng, sách Decent Inteval của Frank Snepp, sách The Final Collapse của Cao Văn Viên, và sách The Palace File của Nguyễn Tiến Hưng.

Điển h́nh nhất là chuyện bịa đặt trắng trợn về Tiểu đoàn 231/ĐPQ của chúng tôi. Cũng may là kẻ gian không được thông minh cho nên ông ta nói trước hở sau, cái sau đá cái trước. Do đó nếu muốn chứng minh th́ chỉ cần trích dẫn những ǵ do chính ông ta viết.

Không phải là tôi chủ tâm lật mặt Thiếu tá Huấn để rửa mặt cho chúng tôi, nhưng tôi muốn nhân vụ này để làm đầu cầu bác bỏ những lời vu oan độc địa của Phạm Huấn đối với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Chuẩn tướng Trần Văn Cẩm, Chuẩn tướng Phạm Duy Tất…

Ngoài ra tôi cũng không muốn những lời bịa đặt tồi bại lại được hậu thế lấy làm căn bản cho các tài liệu lịch sử nói về các trận đánh cuối cùng của Quân đoàn II. Con cháu đời sau đi t́m hiểu sự thực về VNCH qua tài liệu của Phạm Huấn sẽ thấy chế độ VNCH là một chế độ thối nát. Ở phía trước các ông chồng làm tư lệnh quân đoàn, làm tỉnh trưởng; c̣n ở phía sau các bà vợ ăn tiền chạy chọt ! Đúng như những ǵ CSVN đă dạy cho học sinh Việt Nam (sic).

Có nhiều người đă cản tôi lật mặt Phạm Huấn với lư do lịch sử đă sang trang (sic). Tôi có thể bỏ qua những ǵ đă bị chôn lấp bởi thời gian, nhưng tôi không chấp nhận lịch sử viết sai về chúng tôi, về chế độ VNCH. Giờ đây tôi chỉ nói về những bịa đặt hạ cấp do chính Phạm Huấn viết ra trong sách của ông ta chứ tôi không đưa ra những nhận xét về tư cách tồi tệ của Phạm Huấn do những nhân vật trong cuộc kể lại cho báo chí.



CÁC TRẬN ĐÁNH NĂM 1975, (20) TRẬN LIÊN TỈNH LỘ 7, LỆNH TRIỆT THOÁI

( Trích sách “Giải Mă Những Bí Ẩn của Chiến Tranh Việt Nam” của Bùi Anh Trinh )

Tại sao phải bỏ Pleiku, Kontum ?

– Tài liệu của CIA :

Ngày 16-8-1974, Tư lệnh quân đội HK tại VN John Murray họp buổi họp chót với Tướng Cao Văn Viên và một số tướng lănh của Bộ TTM. John Murray khuyên Tướng Viên nên liệu cơm gắp mắm, tùy theo mức viện trợ quân sự của Mỹ, gấp rút lên kế hoạch sẵn sàng bỏ Vùng 1, Vùng 2, và cả Vùng 3 để về cố thủ Vùng 4. Sau bổi họp này th́ John Murray giải ngũ, trở về Hoa Kỳ ( Frank Snepp, Decent Interval, 1977, trang 95 )..

– Tài liệu của Cơ quan Vện trợ Quân sự Hoa Kỳ ( DAO, hậu thân của MACV ) :

Nếu mức viện trợ là 750 triệu th́ khả năng tác chiến của quân VNCH : Không. Khả năng kiểm soát vùng sôi động của quân VNCH : Không. Khả năng tấn công của quân VNCH : Không.

Nếu mức viện trợ quân sự là 600 triệu th́ quân VNCH chỉ c̣n khả năng tác chiến tại Vùng 4 và Sài G̣n nếu bỏ hẵn các vùng khác.

( Nguyễn Tiến Hưng, Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập, 1986, phụ lục C trang 753, xem ảnh đính kèm cuối bài viết ).

– Tài liệu của Tướng Cao Văn Viên :

Ngày 11-3-1975 Tướng Thiệu mời các Tướng Khiêm, Viên, Quang ăn sáng tại dinh Độc Lập và sau đó tŕnh bày ư định muốn cắt bỏ bớt lănh thổ cho vừa với mức viện trợ quân sự của HK vào năm 1975 :

“Quyết định của Tổng thống Thiệu cho chúng tôi thấy đây là một quyết định ông đă suy xét thận trọng. H́nh như Tổng thống Thiệu đă ngần ngại về quyết định đó, và bây giờ ông chỉ thổ lộ cho ba người chúng tôi trong bữa ăn sáng…”

“… Tổng thống Thiệu phác họa sơ : …Một vài phần đất quan trọng đang bị Cọng sản chiếm, chúng ta sẽ cố gắng lấy lại bằng mọi giá… …Ban Mê Thuột quan trọng hơn hai tỉnh Kontum và Pleiku nhập lại… …” ( Cao Văn Viên, The Final Collapse, 1983, bản dịch của Nguyễn Kỳ Phong, trang 129-131 ).

“…VNCH không c̣n hy vọng nào. Một thực tế gần như hiển nhiên là HK không muốn cuộc chiến tiếp tục, và biểu quyết viện trợ để VNCH đánh tiếp là chuyện sẽ không xảy ra. Đối với HK, cuộc chiến Việt Nam đă kết thúc” ( trang 132 ).

Những lời cáo buộc tồi bại

Những đoạn tài liệu trích dẫn trên đây đă giải thích rơ v́ sao Tổng thống Thiệu phải quyết định bỏ Kontum-Pleiku. Cả ba tài liệu này đều được đưa ra công chúng trước năm 1986. Nhưng v́ thời đó các phương tiện truyền thông của người Việt tị nạn do Mỹ tài trợ muốn hướng sự oán hận mất nước vào cá nhân Tổng thống Thiệu ( Để quên đi tội bỏ rơi của Mỹ ), cho nên tất cả sách báo đều giả lơ như không biết v́ sao Nguyễn Văn Thiệu lại quyết định bỏ Cao Nguyên. Thậm chí Đại tá CIA Lê Khắc Lư c̣n tuyên truyền rằng Tổng thống Thiệu bỏ cao nguyên để “tháu cáy” Mỹ.

Trích bài viết “Tổng thống Thiệu và cuộc triệt thoái cao nguyên năm 1975” của tác giả Trọng Đạt :

“Cách đây khoảng nửa năm, trong một lần tiếp xúc Đại tá Lê Khắc Lư có nói ông nghi ngờ TT Thiệu rút bỏ Cao nguyên để tháu cáy Mỹ nhưng thất bại và ông có gợi ư tôi viết về chủ đề này ….Đại Tá Lư nói … ông đă học nguyên tắc chiến thuật (tactical) căn bản ngoài chiến trường là luôn luôn chiếm giữ “high ground” (vùng cao) để chế ngự các vùng đất chung quanh”.

“Nhưng khi giảng, “thầy” cũng có nói nguyên tắc này cũng áp dụng cho “chiến lược” (strategy) nữa. Trong trường hợp Quân đoàn 2 của ta hồi 1975, ông nghĩ là đúng với nguyên tắc này. Ông cho rằng quyết định bỏ cao nguyên là sai lầm. Rồi từ vùng đất thấp là vùng duyên hải sẽ đánh ngược lên để gọi là “tái chiếm Ban Mê Thuột” là chuyện quá khó nếu không nói là “không tưởng”.

“Tóm lại TT Thiệu đă sai lầm về chiến thuật chiến lược khi ban lệnh lui binh xuống đồng bằng duyên hải để từ đó lên tái chiếm Ban Mê Thuột”.

Chỉ có những người ngoài quân đội mới bị mắc bịp, chứ bất cứ ai đă từng qua trường Hạ sĩ quan hay trường Sĩ quan đều biết rằng đây là một nguyên tắc sơ đẵng của chiến thuật ( Không phải là chiến lược ). Bất cứ một người Hạ sĩ quan tiểu đội trưởng nào cũng phải biết chọn địa thế đóng quân cho tiểu đội là vùng đất cao khống chế địa thế xung quanh. Đặt một khẩu đại liên hay trung liên cho tiểu đội cũng phải tôn trọng nguyên tắc này. Và xưa nay người ta lập đồn bót đều lập trên cao chứ không ai lựa dưới trũng.

Trong khi đó Đại tá Lư lại nói cho các nhà báo rằng Tổng thống Thiệu bỏ trên cao chạy xuống thấp ( triệt thoái cao nguyên ) rồi từ dưới thấp đánh lên cao ( tái chiếm BMT ) là một sai lầm chiến lược… (!)

Có lẽ các ông tướng dạy môn chiến lược cho Lê Khắc Lư tại trường Cao Đẵng Quốc Pḥng cũng phải ph́ cười. Bởi v́ đối với chiến lược th́ giữ địa bàn trên cao sẽ thất thế hơn nếu bị triệt tiếp tế ( Bị bao vây cô lập ). T́nh thế của Quân đoàn II vào tháng 3 năm 1975 đă trở thành bất lợi khi quân CSVN đă triệt hết mọi đường tiếp tế cho cao nguyên.

Một thí dụ điển h́nh là tháng 1 năm 1954 quân Pháp trấn giữ cao nguyên Pleiku với 4 liên đoàn bộ binh là Binh đoàn 100 Lê Dương ( Mới từ chiến trường Triều Tiên về Việt Nam ), Liên đoàn 11 Nam Việt, Liên đoàn 41 Sơn Cước, và Liên đoàn 42 Sơn Cước. Trong khi đó B́nh Định và Phú Yên thuộc quyền kiểm soát của Việt Minh từ năm 1945 cho nên tuyến tiếp tế cho Pleiku phải từ Lào qua. C̣n Quốc lộ 14 đă bị quân Việt Minh chặn tại Dak Nong.

Tháng 6 năm 1956, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, quân của Sư đoàn 325 CSVN đánh Lào chặn đường tiếp tế cho Pleiku. Tướng Navard cho lệnh rút Binh đoàn 100 từ An Khê, ( giữa B́nh Định và Pleiku ) về giữ Pleiku. Ngày 24-6-1954 trên đường về Peiku Binh đoàn 100 Lê Dương bị phục kích tại đèo Mang Yang và bị đánh tan. Đồng thời quân CSVN từ B́nh Định tiến lên An Khê tấn công Liên đoàn 11. Liên đoàn 11 Nam Việt cũng bị đánh tan.

Rơ ràng quân Pháp ở trên cao nhưng hoàn toàn thất thế v́ bị triệt tiếp tế. Trong trường hợp Tướng Thiệu rút 1 Sư đoàn Bộ binh, 7 Liên đoàn BĐQ ( Tương đương 2 sư đoàn ), 2 trung đoàn tăng và 1 trung đoàn pháo từ Pleiku, Kontum để tái chiếm Ban Mê Thuột cũng là nằm trong tính toán là quân VNCH đông hơn, vũ khí mạnh hơn sẽ áp đảo được quân CSVN. Bằng chứng năm 1972 chỉ cần Sư đoàn 23 BB đủ đánh tan 3 sư đoàn Bắc Việt tại Kontum.

Lê Khắc Lư có bằng Cao Đẵng Quốc Pḥng mà cả đời chẳng bao giờ viết một bài phê b́nh về chiến thuật, chiến lược…! Lại đi “mớm” chiến thuật chiến lược cho các nhà báo để súi họ viết về chiến thuật chiến lược của Tướng Thiệu trong khi Tướng Thiệu được phóng viên chiến trường nổi tiếng thế giới là Oriana Fallaci đánh giá là 1 trong 10 tướng tài giỏi nhất thế giới.

Tại sao không cho Mỹ biết ?

Tài liệu của CIA : “Lư cho Nicol biết ngày mai 14/3 tướng Phạm Văn Phú sẽ họp với tổng thống Thiệu tại Cam Ranh. Buổi họp được giữ kín và máy bay của tướng Phú sẽ đi Qui Nhơn trước để đánh lạc hướng. Lư hứa với Nicol có tin ǵ sau khi Phú đi họp về Lư sẽ cho hay” ( CIA và Các Ông Tướng, Bản dịch của Trần B́nh Nam ).

Đại tá Lư là một điệp viên của CIA, được Tướng Cao Văn Viên đưa vào làm tham mưu trưởng của Tướng Phú. Lần này Tổng thống Thiệu muốn đánh lạc hướng theo dơi của CIA nhưng không ngờ mật thám của CIA đứng ngay sau lưng Tướng Phú.

Tài liệu của Thiếu tá Phạm Huấn, Tùy viên báo chí của Tướng Phạm Văn Phú : “Để bảo mật cho chuyến đi của ông Thiệu, nên đă không có một chuẩn bị nào tiếp đón ông và phái đoàn. Ngay cả một cái thang cao dùng cho loại máy bay lớn DC.6, DC.4 cũng không có.

Chiếc “biệt thự bay” tiến vào chỗ đậu. Một chiếc xe jeep được lái tới sát bên. Ông Thiệu và các tướng Khiêm, Viên, Quang lần lượt… “tụt” bằng đít khỏi chiếc DC.6 rồi bước lên mui xe !” ( Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên, trang 80 ).

Để giấu ai mà các nhà lănh đạo VNCH phải khổ sở như vậy ? Chắc chắn không phải để che mắt báo chí hay CSVN, bởi v́ che mắt báo chí hay CSVN th́ không cần giấu CIA. Nhưng đằng này giấu cả CIA th́ có nghĩa là không cho Mỹ biết.

Vấn đề c̣n lại là tại sao không cho Mỹ biết ? Câu trả lời là nếu Mỹ biết th́ những người Miền Núi ở Tây Nguyên sẽ biết, và họ sẽ không để yên cho quân đội VNCH bỏ rơi họ.

Ngày nay lịch sử c̣n lại lời chứng của Tướng Phạm Duy Tất : Chuẩn tướng Tư lệnh phó Quân đoàn 2 Trần Văn Cẩm hỏi : “ C̣n các tỉnh trưởng, lực lượng địa phương và dân chúng có tổ chức cho họ rút không?”. Phú trả lời: “Theo lệnh ông Thiệu, bỏ lực lượng này lại, không được thông báo cho các tỉnh trưởng, cứ để họ tiếp tục chống giữ. Khi chúng ta rút xong, ai biết th́ biết. Địa phương quân toàn là người Thượng th́ trả chúng về với cao nguyên” ( Văn Tiến Dũng, Đại Thắng Mùa Xuân, Việt Nam thư quán ).

Dĩ nhiên khi Tổng thống Thiệu ra lệnh bỏ người Thượng lại Cao Nguyên th́ ông và các tướng Khiêm, Viên, Quang, Phú đều biết rằng lực lượng địa phương là 45 ngàn cựu Biệt kích Mỹ ( CIDG, Dân Sự Chiến Đấu ). Sau khi quân Mỹ rút đi th́ 45 ngàn quân này trở thành Địa phương quân và Biệt động quân Biên pḥng. Danh tính 4 liên đoàn Biệt động quân Biên pḥng của Quân khu II xuất thân từ Biệt kích Mỹ là Liên đoàn 21, Liên đoàn 22, Liên đoàn 24, và Liên đoàn 25 BĐQ.

Người Mỹ và lực lượng chiến đấu người Miền Núi có quan hệ với nhau như thế nào mà Tướng Thiệu không muốn cho người Mỹ biết ? Tài liệu của Nguyễn Tiến Hưng ( sau nhiều cuộc phỏng vấn cựu Tổng thống Thiệu ) cho biết :

“…năm 1960 khi CIA ( Cơ Quan T́nh Báo Trung Ương Hoa Kỳ ) và Lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ gởi người lên Cao Nguyên tổ chức và vơ trang dân Thượng chống CS Bắc Việt. Người Mỹ cung cấp dược phẩm, súng đạn, thực phẩm, và xử sự như giới trung gian giữa người Việt và người Thượng…” ( Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập trang 444 ).

“Để bảo vệ an ninh cho cuộc rút lui này, ông Thiệu ra lệnh bảo mật tối đa, để các lực lượng địa phương, phần lớn là dân Thượng, không biết trước về vụ này….Ngay sau khi 200 chiếc xe vận tải đầu tiên rời khỏi Pleiku đă được tung ra khắp tỉnh. Đám người Thượng thấy ḿnh bị bỏ rơi bèn quay mũi súng về đoàn quân đang tháo lui…” ( trang 449 ).

Vậy th́ đă rơ, nguyên nhân của việc tạm giấu người Mỹ là v́ người Mỹ có trách nhiệm với các dân tộc Miền Núi cho nên họ sẽ không chấp nhận chuyện bỏ rơi người Miền Núi, chắc chắn họ sẽ thông báo cho các lực lượng cựu Biệt kích Mỹ biết để họ tự lo cho dân tộc của họ. Dĩ nhiên một khi các lực lượng vũ trang của người Miền Núi tự lo th́ chỉ c̣n có cách là bắt giữ các sĩ quan và công chức người Kinh làm con tin, để làm áp lực buộc chính phủ Sài G̣n không được bỏ rơi họ.

Cái chết của nhà báo Paul Leandri

Tại Sài G̣n, một nhà báo nổi tiếng của Pháp là Paul Leandri đă nhanh chóng loan tin tàn sát cấp chỉ huy người Kinh ra toàn thế giới cho nên ông ta bị bắt ngay và bị bắn chết trong một đồn cảnh sát. Cơ quan CIA ( Frank Snepp ) loan tin rằng ông ta bị bắn do chạy ra một chiếc xe toan trốn khỏi nơi bị giam. Tuy nhiên không ai tin rằng một nhà báo gạo cội lại ngu xuẩn đến như vậy. Chính tin tức mà ông muốn loan đă hại ông ta :

Sở dĩ Leandri bị giết bởi v́ trong khi mà 3 Liên đoàn Biệt Động Quân gốc Biệt kích Mỹ thanh toán các cấp chỉ huy người Kinh th́ cùng lúc đó, tại Sài G̣n, cơ quan CIA đang cho th́ hành kế hoạch di tản người Mỹ ra khỏi Việt Nam.

Nhưng tin tức của Paul Leandri nếu được lan truyền sẽ tạo thành một làn sóng tâm lư, rủ nhau thanh toán người Mỹ một khi các quân nhân Việt Nam thấy người Mỹ bỏ chạy. Nhất là các quân nhân thuộc Lực Lượng Đặc biệt Việt Nam; họ sẽ suy ra ai đă lập ra Lực lượng Biệt kích Mỹ mà rốt cuộc th́ đồng đội của họ phải nhận lănh mọi sự trả thù của các quân nhân người Thượng. Và nay tới phiên người Mỹ rút chạy th́ họ cũng sẽ bị thanh toán. Đó là ngón đ̣n dành cho kẻ phản bội.

Theo biên bản xét nghiệm tử thi của bệnh viện Grall th́ Leandri bị bắn bằng một phát đạn kê sát mang tai bắn lên. Và theo một bài tùy bút của giáo sư Nguyễn Ngọc Bích th́ Leandri bị Đại tá cảnh sát Phạm Kim Qui bắn chết rồi bắt Việt Tấn Xă phải loan tin theo như báo cáo của đồn cảnh sát.

Cũng theo sách của Frank Snepp th́ giám đốc CIA tại Sài G̣n là Polgar đă được Đại sứ Pháp gọi đến Ṭa đại sứ Pháp vào giữa khuya hôm đó để “nói chuyện phải quấy”. Điều này chứng tỏ CIA là người chịu trách nhiệm về cái chết của Leandri chứ không phải là Đại tá Phạm Kim Qui. Ông Qui chỉ là người thừa hành.

Attached Thumbnails
Click image for larger version

Name:	image.jpg
Views:	0
Size:	173.3 KB
ID:	1541356   Click image for larger version

Name:	image (1).jpg
Views:	0
Size:	67.8 KB
ID:	1541357  
hoanglan22_is_offline   Reply With Quote
The Following 2 Users Say Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
phokhuya (3 Weeks Ago), trungthu (2 Weeks Ago)
Old 3 Weeks Ago   #540
hoanglan22
hoanglan22's Avatar
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Apr 2011
Posts: 8,615
Thanks: 6,789
Thanked 11,730 Times in 5,441 Posts
Mentioned: 437 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 3752 Post(s)
Rep Power: 20
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 8
Reputation: 65459
Default Phần 2

( Trích sách “Giải Mă Những Bí Ẩn của Chiến Tranh Việt Nam” của Bùi Anh Trinh )

CÁC TRẬN ĐÁNH NĂM 1975, (16 ) TRẬN KHÁNH DƯƠNG, 3 NGÀY ĐẦU

Năm 1975, ngày 15-3, lúc 3 giờ 30 chiều, nhà báo Thiếu tá Phạm Huấn, đặc phái viên của Tướng Phạm Văn Phú đáp trực thăng xuống chi khu Phước An thuộc Tiểu Khu Đắc Lắc để gặp Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh, chuyển lệnh của Tổng thống Thiệu là
“Rút bỏ Phước An, mang quân về pḥng thủ tuyến Khánh Dương càng sớm càng tốt”, có nghĩa là bỏ hẳn Ban Mê Thuột, lấy Khánh Dương ( Thuộc tỉnh Khánh Ḥa ) làm tuyến đầu ngăn chận đoàn quân CSVN từ BMT tràn xuống.

Sau đó Thếu tá Phạm Huấn đến gặp Đại tá Trịnh Tiếu, trưởng Pḥng t́nh báo Quân đoàn 2 ( Đang theo đoàn quân của Sư đoàn 23 BB chuẩn bị tái chiếm Ban Mê Thuột ). Không ngờ Đại tá Trinh Tiếu nhờ Phạm Huấn báo lại cho Tướng Phú :
“Hiện có 4 sư đoàn Cọng sản Bắc Việt trong vùng. Đó là các sư đoàn F.10, 320, 968, 316 và các trung đoàn Pháo, Chiến xa, Pḥng không” ( Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975, trang 127 ). Một sư đoàn có khoảng 10.000 quân.

Trong khi đó tại Khánh Dương chỉ có độc nhất Tiểu đoàn 231 ĐPQ/VNCH. Một tiểu đoàn có khoảng 500 người
Năm 1975, ngày 16-3, lúc 9 giờ 15 sáng, Tiểu đoàn 231/ĐPQ đang trên đường hành quân tới mục tiêu Đồi 519 th́ nhận được lệnh mới : Tập trung hướng tiến của toàn tiểu đoàn về hai bên quốc lộ 21, tiến theo thế chân vạc để tiếp cận cầu 36 là nơi t́nh nghi có địch bố trí chận viện. Đúng 1 giờ 30 sẽ có hai phi tuần thả bom CBU xuống khu vực Đồi 519, sau trận bom th́ TĐ 231 sẽ tiến vào khu vực vừa bị bom để thông đường và bắt tay với Sư đoàn 23 BB từ đồn Chu Cúc tiến xuống.

Diển tiến hành quân

Ngày 16-3,
Lúc 10 giờ 30, cánh quân của Đại đội 1 ( một đại đội khoảng 100 người ) cho biết đă tới khu vực đụng độ giữa Tiểu đoàn 250 ĐPQ và quân CSVN vào 3 ngày trước. Quân ta t́m gặp rất nhiều binh sĩ của TĐ 250 ĐPQ bị thương nhưng c̣n sống, họ năn nỉ khiêng họ về ( Cùng là dân Phan Rang quen biết nhau ). Tuy nhiên Đại đội nhận được lệnh gấp rút tràn xuống triền đồi để tránh pháo v́ nơi đó đă được quân CSVN điều chỉnh pháo binh ( Thực ra Trưởng ban 3 không muốn cứu thương binh bởi v́ rồi đây chưa chắc lính trong Tiểu đoàn đă lo nổi an toàn cho chính bản thân của họ ).

– Lúc 10 giờ 45, Tiểu đội t́nh báo của BCH Tiểu đoàn báo cáo đă đến chân cầu 36 là nơi đụng độ giữa Đại đội Trinh sát Tiểu khu KH và quân CSVN hai ngày trước. Có cờ trắng phất dưới chân cầu. Đại đội 3 tiến vượt qua khỏi cầu 36 để án ngữ mặt trước, Đại đội chỉ huy tiến tới chân cầu 36 để tiếp nhận 32 binh sĩ từ BMT chạy về. Đa số thuộc Tiểu đoàn 231 Pháo binh của Sư đoàn 23 BB/ VNCH.

Trưởng ban 3 Tiểu đoàn 231/ĐPQ nhận ra trong số 32 người có Trung úy Pháo binh Phạm Ngọc Phụng là bạn học thời trung học. Trung úy Phụng cho biết tin tức nóng hổi về bố trí của quân địch tại khu vực giữa Chu Cúc và 519. Như vậy là địch chỉ chốt chận tại mặt Quốc lộ và phía bắc Quốc lộ, riêng mặt Nam Quốc lộ sát núi, địa thế hiểm trở, cho nên quân CSVN không có địa thế để bố trí bộ binh chặn địch mà chỉ chặn bằng sơn pháo 75 ly, v́ vậy toán quân đào thoát đă đi lẫn trong đêm qua ngă phía Nam của Quốc lộ.

Tiểu đoàn 231/ĐPQ báo về BCH hành quân. Sau khi được biết trong toán quân đào thoát có 2 sĩ quan pháo binh tại Phi trường Phụng Dực cho nên BCH hành quân cho xe lên đón đoàn di tản để lấy tin tức về t́nh h́nh của Trung đoàn 53 BB tại Phụng Dực cũng như Trung đoàn 44 và 45 tại Phước An.

– Lúc 11 giờ 30 Đại đội 1 bị pháo vào giữa đội h́nh phải tản về phía sau. Vị trí đặt pháo dưới chân đồi 519. Tiểu đoàn 231/ĐPQ gọi pháo binh phản pháo và chấn chỉnh lại đội h́nh của Đại đội 1. Có 7 binh sĩ chết và 15 bị thương. Số bị thương được đưa ra quốc lộ để tản thương bằng xe GMC cơ hữu của Tiểu đoàn, không có hộ tống, không có lính cứu thương hay phương tiện cứu thương.

Lúc 11 giờ 45 Tiểu đoàn 231 nhận được lệnh dừng lại bố trí chứ không tiến thêm nữa. Lúc này c̣n cách đồi 519 khoảng 5 cây số. ( BCH hành quân nhận được tin của máy bay quan sát cho biết xe tăng của quân CSVN xuất hiện phía Bắc khu vực hành quân của Tiểu đoàn 231/ĐPQ )
Lúc 1 giờ 30, 2 phi tuần A.37 thả 2 trái bom CBU và 4 trái bom 500 cân xuống khu Đồi 519 nhưng Tiểu đoàn 231 lại nhận được lệnh gấp rút thối quân về phía sau. Sau này mới được biết là quân CSVN ( Trung đoàn 95 B biệt lập, một trung đoàn khoảng 2.500 người ) có xe tăng hỗ trợ đang tràn xuống từ phía Đông Bắc đồi 519.

Lúc 3 giờ chiều, Tiểu đoàn 231/ĐPQ nhận được lệnh rút về điểm xuất phát ( BCH/ Chi khu Khánh Dương ). Trên đường rút về Tiểu đoàn gặp một toán thám báo ( 8 người ) của Nha kỹ thuật tiến ngược về phía cầu 36.

Lúc 5 giờ 30 chiều, Tiểu đoàn 231 bố trí pḥng thủ tại Buôn M’Dung, ngang cầu 31. Lúc này tại cầu 31 lù lù một chiếc trực thăng bị bắn bể kính đang đậu nghiêng trên mặt đường. Đây là chiếc trực Thăng chở Tướng Lê Trung Tường bị trúng đạn phải đáp khẩn cấp.

Đồng thời trong khuôn viên BCH Chi khu Khánh Dương xuất hiện cột ăng ten siêu tần số. Có nghĩa là BTL Sư đoàn 23 đang đóng tại đó ( Đại tá Đức làm Tư lệnh thay cho Tướng Tường ). Trong khi đó BCH tiền phương của Tiểu khu Khánh Ḥa rút về, giao việc điều động chiến trường Khánh Dương cho Sư đoàn 23 BB.

Ngày 17-3,
Tiểu đoàn 231/ĐPQ lại nhận được lệnh hành quân y như lệnh hành quân ngày 15-3, nghĩa là dàn hàng ngang suốt thung lũng Khánh Dương, tiến về phía Tây để thăm ḍ bố trí của địch. Nhưng người ra lệnh là Trung tá Nguyễn Văn Ba, Tiểu khu phó Tiểu khu Ninh Thuận, chứ không phải là Bộ chỉ huy tiền phương của Sư đoàn 23 BB.

Lư do là v́ BTL Quân đoàn tưởng rằng tại Khánh Dương có 2 tiểu đoàn tăng phái của Tiểu Khu Ninh Thuận ( khoảng 1.000 ) cho nên người ta điều động ông Tiểu khu phó Ninh Thuận lên ngồi tại BCH hành quân để chỉ huy 2 tiểu đoàn của Ninh Thuận. Người ta không biết tại Khánh Dương chỉ c̣n 1 tiểu đoàn của Ninh Thuận với quân số ban đầu là 377 người ( Bất khiển dụng 126 người. Qua trận pháo sáng ngày 16 chỉ c̣n 355 người.), c̣n Tiểu đoàn 250/ĐPQ đă bị hoàn toàn tan ră 5 ngày trước đó.

Giờ đây chiến trường Khánh Dương được bàn giao cho Sư đoàn 23, nhưng BCH hành quân Sư đoàn đóng tại Phi trường Khánh Dương lại không có lực lượng nào để điều động, toàn bộ lực lượng của Sư đoàn 23 BB đang nằm tại Phước An nhưng liên lạc lúc được lúc không bởi v́ các máy PRC.25 tại Phước An không liên lạc tới Khánh Dương.

Vả lại t́nh h́nh các đơn vị BB tại Phước An đang trong t́nh trạng dần dần tan ră. Lúc đó tại Khánh Dương chỉ c̣n duy nhất TĐ 231/ĐPQ của Tiểu khu Ninh Thuận cho nên Trung tá Nguyễn Văn Ba, Tiểu khu phó Ninh Thuận, phải ở lại để chỉ huy 1 Tiểu đoàn của Ninh Thuận. Chỉ có một ḿnh ông với một người sĩ quan hành quân và 2 lính truyền tin. Do đó ông đành phải dở lại lệnh hành quân trước đây của Tiểu khu Khánh Ḥa để tiếp tục điều động Tiểu đoàn 231 ĐPQ. Để có thêm quân số điều hành như một BCH hành quân, Trung tá Ba giữ lại sĩ quan tiền sát pháo binh ( Trung úy Thịnh ) mà trước đó đă được Tiểu khu Ninh Thuận chỉ định đi theo Tiểu đoàn 231/ĐPQ để làm tiền sát viên pháo binh.

Theo sổ tay chiến trường của Thiếu tá Phạm Huấn th́ quân số của Sư đoàn 23 BB vào chiều ngày 17-3 như sau : Trung đoàn 45 c̣n 200 người, Trung đoàn 44 khoảng 300 người ( Do Trung tá Ngô Văn Xuân chỉ huy ). Bộ tư lệnh Sư đoàn đặt tại Đồn Chu Cúc 42 người. Hậu trạm Sư đoàn tại Chi Khu Khánh Dương 6 người. Tổng cộng 548 người, trong khi quân số nguyên thủy của Sư đoàn là 10.000 người. Dĩ nhiên 548 người này chỉ là những quân nhân bị tan hàng, không thể tiếp tục chiến đấu, ngoại trừ Đại đội Trinh sát ( khoảng 100 người ) của Trung đoàn 44 BB .
Lúc 8 giờ sáng, Tiểu đoàn 231/ĐPQ lại xuất phát lần thứ hai, tiến về hướng BMT.

Lúc 1giờ 30, Đại đội 3 bị lọt vào trận địa pháo, nguyên quả đồi biến thành một đám bụi nám đen. Có 37 người vừa bị chết vừa bị thương phải bỏ lại trận địa, số c̣n lại rút về vị trí của BCH Tiểu đoàn. Đại đội 2 đi sau BCH Tiểu đoàn lên thế vị trí của Đại đội 3.

Lúc 2 giờ 30, một phi tuần A.37 đánh bom trúng đoàn xe tăng của quân CSVN hai chiếc bị cháy, cách vị trí của Đại đội 4 ba cây số về hướng đông Bắc ( Rẫy Ông Kỳ ). Mười lăm phút sau một phi tuần A.37 khác thả bom vào khu vực có 2 chiếc tăng bị cháy. 5 phút sau lại có một phi tuần A.37 đánh bom tại khu vực Rẫy Ông Kỳ ( Nông trại trồng khoai ḿ của Tướng Nguyễn Cao Kỳ, cách quận Khánh Dương khoảng 15 cây số về hướng Đông Bắc). Đoàn xe tăng bị toán thám báo của Nha Kỹ thuật phát hiện.
Lúc 3 giờ chiều, lại thêm 1 phi tuần A.37 vào vùng có xe tăng nhưng lúc đó phi cơ quan sát không thấy ǵ thêm, BCH hành quân yêu cầu TĐ 231 cho tọa độ một vị trí t́nh nghi có địch để 2 phi cơ A.37 giải tỏa bom đạn.
Lúc 5 giờ chiều, Đại đội 4 báo cáo 2 xe tăng của CSVN xuất hiện ở phía Rẫy Ông Kỳ, cách Đại đội 3 cây số về hướng Tây. Trưởng ban 3 Tiểu đoàn chiếu ống ḍm về phía tọa độ mà Đại đội 4 vừa cho th́ không thể nào xác nhận được v́ sương chiều xuống quá nhiều, cảnh vật ch́m trong mầu khói lam nên không phân biệt được trong khi đó quyền Đại đội trưởng Đại đội 4 ( Thiếu úy Thanh ) không có mang theo ống ḍm. BCH hành quân theo dơi trên máy vô tuyến biết được ĐĐ 4 phát hiện xe tăng th́ yêu cầu Trưỏng ban 3 Tiểu đoàn cho tọa độ để gọi máy bay, kể cả cho tọa độ phỏng chừng. Tuy nhiên Tiểu đoàn không thể nào xác nhận chính xác được.

Ngày 18-3,
Tiểu đoàn 231/ĐPQ tiếp tục tiến về hướng BMT, nhưng chỉ di chuyển dưới khe chứ không chiếm lĩnh các ngọn đồi.
Lúc 1 giờ trưa Đại đội 4 báo cáo đă thấy vị trí bố trí quân của CSVN. Trưởng ban 3 Tiểu đoàn nh́n qua ông ḍm thấy một số ụ tranh ngụy trang nằm sắp lớp một khoảng dài mấy trăm thước bên một đường đất đỏ, nghi là vị trí độn thổ phục kích của quân CSVN bèn kêu pháo binh bắn 5 tràng điều chỉnh, sau đó xin 20 tràng bắn hiệu quả. Không ngờ nghe trên máy tiếng của Trung tá Ngô Quư Hùng, Tham mưu trưởng BCH hành quân, ra lệnh mỗi lần bắn hiệu quả là 100 tràng, 200 tràng chứ không cần phải tiết kiệm đạn. Tiểu đoàn 231 gọi 200 tràng.

Tưởng đâu 200 tràng là 1.200 quả ( 6 khẩu ), không ngờ pháo binh bắn 2.400 quả ( 12 khẩu ), mới đầu c̣n thấy xác người tung lên không, sau đó cả một quả đồi ch́m trong làn khói đen mù mịt. ( Trước đây tại Khánh Dương chỉ có 1 pháo đội pháo binh diện địa của Tiểu khu Khánh Ḥa gồm 2 khẩu 155 ly và 4 khẩu 105 ly. Giờ đây mới tăng cường thêm 1 pháo đội của Trung đoàn 40 thuộc Sư đoàn 22 Bộ binh ).

Sau khi tan khói pháo, Đại đội 4 cho quân thám sát vị trí vừa bị pháo mới hay rằng những ụ tranh là những mồ chôn xác quân CSVN, khoảng gần 300 xác ( Tính theo số ụ tranh trông thấy trước khi bị pháo : 1 ô 30 ụ, có khoảng 10 ô ). Những xác này bị đạn pháo binh tung lên không trông giống như thân thể người mới bị pháo. Có lẽ đây là số bị chết do trận bom CBU ngày hôm qua ( V́ nghi là độn thổ phục kích nên Tiểu đoàn gọi tác xạ bằng đầu đạn nổ chậm, viên đạn chui xuống dưới đất mới nổ )

Chú giải : Trước đó BTL/Quân đoàn 2 giao cho Đại tá Đức làm Tư lệnh Sư đoàn 23 thay thế Tướng Lê Trung Tường. Và cũng giao cho Đại tá Đức làm Tư lệnh chiến trường Khánh Dương, với lực lượng là BCH/ Trung đoàn 44 BB thuộc Sư đoàn 23 BB với 1 Tiểu đoàn, cùng với Đại đội Trinh sát Sư đoàn 23 BB đang đóng tại Phước An và Chu Cúc, phía Tây của Đồi 519 ( Ranh giới giữa Đắc Lắc và Khánh Ḥa ). Cùng với một số đơn vị nhỏ của Trung đoàn 45 BB bị tan hàng tại BMT.

Ngoài ra Đại Tá Đức cũng chỉ huy luôn Chi khu Khánh Dương và lực lượng ĐPQ đang có mặt tại phía Đông của Đồi 519 là các Tiểu đoàn của Khánh Ḥa và Ninh Thuận ( Sự thực chỉ c̣n duy nhất 1 tiểu đoàn của Ninh Thuận là TĐ 231/ĐPQ với quân số chỉ c̣n 318 người sau hai trận pháo ngày 16 và 17-3 ). Và v́ Đại tá Đức không có bộ tham mưu cho nên tạm thời Trung tá Ngô Quư Hùng, Tham mưu trưởng Tiểu khu Khánh Ḥa, giữ nhiệm vụ Tham mưu trưởng BCH Hành quân của Đại tá Đức với ban tham mưu là một số sĩ quan của Pḥng hành quân Tiểu khu Khánh Ḥa..

Trong khi đó Trung đoàn 40 ( khoảng 2.500 người ) của Sư đoàn 23 BB. Trung đoàn trưởng là Trung tá Nguyễn Thành Danh đă nhận được lệnh từ B́nh Định di chuyển lên Khánh Dương, Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 40 ( khoảng 500 người ) và pháo đội Pháo binh của Trung đoàn ( 6 khẩu 105 ly ) đến Khánh Dương vào sáng ngày 17-3. Trung đội 1 của đại đội 4/TĐ 2 BB do Chuẩn úy Lê Minh Quang chỉ huy được trực thăng bốc lên thả tại Đồn Chu Cúc để chuẩn bị hoạt động thám báo chung quanh Chu Cúc, dọ đường tiến xuống Đồi 519.

Lúc 10 giờ 30 đêm, Đại đội 4/TĐ 231 tại khu vực nghĩa địa CSVN báo cáo có dấu hiệu địch hoạt động áp sát vị trí của Đại đội. Tiểu đoàn chỉ thị Đại đội âm thầm lùi về phía sau 1 cây số, lựa vị trí tốt để chuẩn bị đối phó với trận tấn công có thể xảy ra vào sáng sớm ngày mai, trước khi rút lui th́ gài lựu đạn tại chỗ để ngừa địch bám theo. Tiểu đoàn gởi về BCH hành quân hỏa tập tiên liệu ngay tại khu vực mà Đại đội 4 vừa rút đi. Đồng thời cũng cho lệnh Đại đội 1 âm thầm rút lui 1 cây số như Đại đội 4, hỏa tập tiên liệu trước pḥng tuyến của ĐĐ 1 cũng được chuẩn bị sẵn.
Trong khi đó Đại đội 2 di chuyển trong đêm, tạt về hướng Bắc của Đại đội 4, nhường điểm vừa rút làm điểm dự trù cho Đại đội 4 rút về nếu bị tấn công, lúc đó ĐĐ2 sẽ trở thành lực lượng yểm trợ cho ĐĐ 4 lui binh.

Chú giải : Cũng trong ngày này, ngày 18-3-1975, trên các tần số vô tuyến của chiến trường Khánh Dương vắng tiếng chỉ huy của Thiếu tướng Phạm Văn Phú bởi v́ 9 giờ sáng Bộ TTM chuyển cho ông tin dơm rằng Sư đoàn 320 CSVN đă đuổi kịp đoàn di tản và đang chuẩn bị pháo vào dân. Tướng Phú đành phải bỏ chiến trường Khánh Dương để bay ra Phú Bổn.
Lúc 10 giờ 45, tại Phú Bổn, Tướng Phú ra chỉ thị cho Tướng Cẩm, tướng Tất và t́m Đại tá Lư cùng với Bộ tham mưu Quân đoàn 2 nhưng t́m không ra. 11 giờ 20 Tướng Phú quay về Nha Trang. Tới 3 giờ chiều Tướng Phú tiếp Tướng Trần Thiện Khiêm tại Nha Trang. Đến 5 giờ 40 chiều đích thân Tướng Phú bay ra Phú Bổn t́m bốc Đại tá Lư và Bộ tham mưu của Lư. Đồng thời ra lệnh cho quân đội bỏ xe tăng và súng đại bác để băng rừng về Phú Yên.

Trong khi đó tại chiến trường Khánh Dương, từ giữa trưa bắt đầu xảy ra đụng độ ác liệt giữa TĐ. 231 VNCH và quân CSVN. Tướng Phú không thể phân thân ra chỉ huy cả 2 chiến trường cùng một lúc.
BÙI ANH TRINH

TRẬN KHÁNH DƯƠNG NGÀY THỨ 4 VÀ THỨ 5

Ngày 19-3, lúc 5 giờ sáng, băi lựu đạn gài trước pḥng tuyến của ĐĐ1 phát nổ, Tiểu đoàn gọi 200 tràng ( 2.400 trái ) vào hỏa tập tiên liệu.
Lúc 5 giờ 15, vị trí của Đại đội 4 bị pháo và băi lựu đạn gài trong đêm cũng phát nổ, Tiểu đoàn gọi 200 tràng vào hỏa tập tiên liệu.

Lúc 6 giờ sáng, ĐĐ 4 bị tấn công nhưng lực lượng tấn công rời rạc. ĐĐ 4 tiếp tục rút nhanh về phía sau trong khi ĐĐ 2 báo cáo quân địch đuổi theo ĐĐ 4 rất đông. Tiểu đoàn gọi 200 tràng nữa chận phía sau ĐĐ 4 theo hướng dẫn của ĐĐ 2. Quân CSVN chựng lại giữa băi trận địa pháo của VNCH. Đại đội 2 được lệnh rút về phía sau ngang với vị trí của ĐĐ 4. Quân của Đại đội 4 chỉ bị tổn thất 7 người.

Lúc 8 giờ sáng, ĐĐ 1 cho quân thám sát vị trí trận địa pháo nhưng toán thám sát bị pháo 75 ly của quân CSVN. Cùng lúc đó 1 phi tuần A.37 lên yểm trợ cho TĐ 231 ĐPQ được phi cơ quan sát hướng dẫn thả bom vào vị trí đặt pháo đồng thời báo cho biết nhiều toán quân CSVN từ khu vực bị bom đang chạy ngược về phía Tây. Đợi phi cơ rời vùng, Tiểu đoàn 231 gọi 100 tràng vào vị trí mà phi cơ quan sát chỉ điểm.

Lúc 10 giờ sáng, Đại đội 2 di chuyển về phía sau vị trí của BCH/ Tiểu đoàn để lập tuyến án ngữ chặn hậu trong trường hợp Tiểu đoàn lui binh, ĐĐ 3 lên thế vị trí của ĐĐ 2, lúc này quân số của ĐĐ 3 chỉ c̣n một nửa
Lúc 3 giờ chiều, ĐĐ3 phát hiện trong đám rừng cây trước mặt có dấu hiệu cờ trắng, sau đó có vài người dân cầm cờ trắng ra phất trước đám rừng, Thiếu úy Phúc, Đại đội phó, xin được ra đón dân; Tiểu đoàn không đồng ư, phải cho vài người ra trước pḥng tuyến ra hiệu cho dân chạy về hướng của ḿnh.

Nhận được hiệu cho phép của quân VNCH, khoảng 200 người dân Ban Mê Thuột từ trong rừng chạy ùa về phía quân VNCH, đích thân Thiếu úy Phúc dẫn quân ra trước cửa rừng đón dân. Không ngờ phía sau dân là quân CSVN, họ nổ súng thẳng vào đội h́nh của ĐĐ3 . Quân ĐĐ3 buộc ḷng phải nổ súng vào cả dân để chận quân CSVN đang tràn tới, cả đám dân chạy ngược lại khu rừng phía bên kia.

Một số quân CSVN cố gắng tràn tới nhưng bị bắn hạ, một số c̣n lại chạy theo dân để trở lại phía bên kia. Ngay khi đó đại bác 57 ly, 75 ly và súng cối 61 ly của quân CSVN từ trong rừng phía bên kia bắn tràn ngập vào vị trí của ĐĐ3. Đại đội hoàn toàn tan ră, riêng Thiếu úy Phúc bị thương ở chân nhưng vẫn chạy được. Mọi việc diễn ra trước ống ḍm của Trưởng ban hành quân Tiểu đoàn 231 ĐPQ.

Tiểu đoàn gọi về BCH hành quân để hỏi ư kiến v́ có dân trong đám rừng của quân CSVN. Lệnh của BCH hành quân ( Trung tá Ngô Quư Hùng ) là bắt buộc phải phải tiêu diệt cả khu rừng. Tiểu đoàn gọi 200 tràng. BCH trách là sao kêu ít như vậy? Trưởng ban 3 Tiểu đoàn cho biết để xem 200 tràng ( 2.400 trái ) ra sao cái đă, rồi sẽ kêu tiếp. Tuy nhiên sau khi khói tan th́ cả khu rừng rộng gấp 4 cái sân banh chỉ c̣n như là một đống rác toàn màu khói đen và màu bụi đỏ (sic).

Lúc 6 giờ 15, đến phiên BCH tiểu đoàn 231 ĐPQ lọt vào trận địa pháo của quân CSVN, nguyên Tiểu đội t́nh báo và Trung đội truyền tin bị tiêu diệt ngay loạt đạn đầu. Thiếu úy Đại đội phó Đại đội Chỉ huy Nguyễn Ngọc Ḥa tử trận.

Cùng lúc đó ĐĐ4 báo cáo đang bị tràn ngập. Lúc này trời nhá nhem tối, đây là lần đầu tiên có chuyện tấn công lúc trời mới tối, hoàn toàn khác với thông lệ từ trước tới giờ, có lẽ ĐĐ 4 chọn điểm đóng quân đêm trùng với điểm di quân của quân CSVN ( tao ngộ chiến ), quân CSVN đông hơn và ra tay trước.

Lúc 10 giờ đêm, tổng số quân gom lại được của BCH và Đại đội chỉ huy Tiểu đoàn là 28 người, hy vọng sáng mai sẽ có thêm người thất lạc t́m về. Cũng lúc đó ĐĐ4 cho biết là gom được 47 người, hy vọng sẽ có thêm vào sáng mai.

Ngày 20-3, lúc 6 giờ sáng, Đại đội 1 bị lọt ổ phục kích trên đường di chuyển về phía BCH Tiểu đoàn. Quân số địch khoảng 1 tiểu đoàn. Không thể gọi Pháo binh v́ ta và địch ở trong thế cài răng lược. Đại đội trưởng cho biết ông cùng với khoảng 1 chục binh sĩ đang chạy tháo về phía sau. Đợi 15 phút cho toán quân đang tháo chạy đă cách xa điểm chạm súng một khoảng an toàn, Tiểu đoàn gọi 200 tràng vào ngay vị trí của ta và địch trước đó 15 phút. Sau đó gọi 200 tràng bắt đầu từ nơi chạm địch rải về phía Tây, tức là trên đường quân CSVN rút về.

Lúc 8 giờ, kiểm điểm quân số BCH Tiểu đoàn và Đại đội chỉ huy, có thêm 10 người chạy lạc trong đêm đă nhập lại đơn vị. Trong khi đó ĐĐ 4 đang trên đường di chuyển về hướng BCH Tiểu đoàn, quân số của Đại đội vẫn là 47 người, không có ai về thêm.

Lúc 11giờ 30, toán 12 người của ĐĐ1 về đến BCH Tiểu đoàn. Toàn bộ BCH Tiểu đoàn rút về phía sau vị trí của ĐĐ2. Lúc này ĐĐ3 và ĐĐ1 đă bị xóa sổ. Đại úy Đại đội trưởng ĐĐ3 dẫn được vài người sống xót nhập vào ĐĐ4. Đại úy đại đội trưởng ĐĐ3 ( Lư ) nhận được lệnh chỉ huy luôn cả số quân c̣n lại của ĐĐ 4. Trước đó ĐĐ4 do Thiếu úy Đại đội phó ( Thanh ) chỉ huy; Đại úy Đại đội trưởng ( Châu ) đi phép trước khi hành quân.
Lúc 2 giờ chiều Đại đội 4 về ngang vị trí pḥng thủ của ĐĐ2. Được lệnh tiếp tục di chuyển về phía sau của BCH Tiểu đoàn để án ngữ chặn hậu trong trường hợp BCH Tiểu đoàn và ĐĐ2 lui binh.

Lúc chiều tối, ĐĐ2 của Tiểu đoàn 231/ĐPQ bị pháo nhưng không chính xác, vị trí bị pháo cách vị trí của đại đội 500 mét. Tiếng nổ cho thấy là đạn cỡ 130 ly hay 122 ly chứ không phải là đại bác không giật 82 ly và sơn pháo 75 ly như trước đây. Tiếng súng “đề pa” nghe rất xa cho nên không thể nào xác định được vị trí đặt pháo để gọi phản pháo.

Sau khi biết vị trí pḥng ngự đă bị lộ, BCH Tiểu đoàn và ĐĐ2 chuẩn bị rút lui về phía sau, gởi hỏa tập tiên liệu để dự pḥng quân CSVN sẽ tấn công vào sáng sớm ngày mai. Nhưng ngay khi đó lại nhận được lệnh bàn giao khu vực hành quân cho Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 40 BB thuộc Sư đoàn 22 BB/VNCH.

Như vậy là đă
hoàn thành tốt đẹp giao hẹn 3 ngày cầm chân địch. Giao hẹn có 3 ngày nhưng nay đă hết ngày thứ 5. Cũng sau ngày này th́ Trung đoàn 25 CSVN và Trung đoàn 95B /CSVN không c̣n được nhắc tới trong lịch sử trận chiến “Mùa Xuân 1975”.

Lúc 8 giờ tối, Tiểu đoàn 2/40 BB ( Thiếu tá Tốt ) vào tần số liên lạc với TĐ 231, xin xác nhận điểm đứng của BCH 231 để tới gặp và bàn giao vị trí. Qua trao đổi giữa ông và Trưởng ban hành quân TĐ 231 th́ có vẻ như ông không tin điểm đứng hiện tại của 231 là thật ( Nghi rằng báo cáo dối chứ sự thực phải ở phía sau xa ). Tiểu đoàn 231 xác nhận đó là vị trí đang đóng quân thật sự.

Lúc 10 giờ đêm, Tiểu đoàn trưởng TĐ 2/40 BB cùng với Trung úy Trưởng ban hành quân và hai binh sĩ đến gặp Tiểu đoàn trưởng 231/ĐPQ ( Thiếu tá Nguyễn Duy Hoàng ). Thiếu tá Tốt đă nhận được đầy đủ thông tin tại chiến trường, ông và vị sĩ quan Trưởng ban 3 của ông rất tự tin, cho biết sáng mai ông sẽ lấy vị trí này làm tuyến pḥng thủ trên cùng để chặn đoàn quân CSVN từ BMT tràn xuống. Hai bên trao đổi trong đêm tối và chỉ dẫn bản đồ dưới ánh đèn pin. Thiếu tá Tốt cũng cho biết là
quân Dù đă lên tới đèo M’Drak vào chiều hôm qua.
Cùng lúc đó Đại đội Trinh sát của Trung đoàn 40 BB vào tần số để bắt liên lạc, tiếp nhận vị trí của Đại đội 4/231 ĐPQ.

Ngày 21-3, lúc 6 giờ sáng. Tiểu đoàn 231 ĐPQ chào giả từ Tiểu đoàn 2/40 BB để rút về tuyến sau ( BCH Chi khu Khánh Dương ).
Lúc 11 giờ 30, Tiểu đoàn 231 về tới vị trí của BCH hành quân tại Buôn M’Dung. Quân số c̣n không tới một nửa ( Khoảng 180 người, bởi v́ các đại đội thay đổi báo cáo liên tục, có một số rời đại đội để vào bệnh xá hoặc lên phi cơ tản thương do bi thương nhưng cố lết về tới nơi, một số khác được tản thương trong 3 ngày trước nhưng chỉ bị thương nhẹ nên nhập trở lại đơn vị. Trong số mới nhập đơn vị có 1 sĩ quan và 3 binh sĩ mới đi phép về ).
Lúc 12 giờ trưa, toàn tiểu đoàn nghỉ ngơi tắm giặt và nhận lương khô
Lúc 12giờ 15 trưa, phi trường Khánh Dương bị tấn công. Quân CSVN pháo vào phi trường và BCH Chi khu khoảng vài chục trái 82 ly và 57 ly, sau đó khoảng 2 đại đội từ trong chân núi tràn vào hàng rào phi đạo. Trước đó họ đă âm thầm thanh toán Trung đội Nghĩa quân chốt tại chân núi ( Toàn là người sắc tộc Miền Núi, có lẽ họ đă ngă theo quân CSVN ).
Khi vừa bị pháo kích, khoảng 35 chiếc trực thăng và L.19 tại phi trường đồng một loạt bay lên lánh nạn, vô t́nh 2 tiểu đoàn CSVN đang chuẩn bị tấn công phi trường làm mồi cho trực thăng vơ trang ( Lực lượng CSVN không có súng pḥng không, có lẽ đây là 2 trong số 4 tiểu đoàn địa phương của Tỉnh đội CSVN tại Khánh Ḥa ). V́ có sẵn quá nhiều đạn cho nên các trực thăng rưới đạn như mưa vào khu rừng dọc chân núi chạy song song với phi đạo. Không ai ngờ là quân CSVN nằm chết la liệt trong rừng mà tới chiều tối mới phát hiện được.

Sau nửa tiếng náo loạn, các phi cơ lại đáp trở xuống phi trường để ứng trực cho chiến trường. Toán quân CSVN tràn vào hàng rào phi đạo đă chạy ngược vào rừng, một số ngă chết giữa đường từ rừng tới phi đạo nhưng v́ BCH hành quân không c̣n lực lượng phản kích cho nên không ai nghĩ tới chuyện lục soát trận địa để kiểm tra kết quả tác xạ của trực thăng. Vả lại BCH hành quân đang cần thêm lực lượng để tăng cường pḥng thủ phi trường Khánh Dương nhưng không c̣n quân.

Chú giải : So lại với sổ tay chiến trường của Thiếu tá Phạm Huấn :

“12 giờ 15 phi trường Khánh Dương bị pháo. Một lực lượng địch chưa biết rơ quân số về cách phi trường Khánh Dương 1 cây số theo hướng Nam. Bộ tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh lùi thêm 10 cây cố về phía Nam Khánh Dương….” ( Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên, trang 191 ).

“14 giờ 20 phút, Tỉnh trưởng Nha Trang báo cáo lực lượng chính Việt Cộng vẫn ở trên cây số 62 Quốc lộ 21. Phi cơ quan sát cho tin sai, không có Việt Cộng ở phi trường Khánh Dương…” ( trang 192 ).
BTL Quân khu 2 và Phạm Huấn nghĩ rằng quân CSVN tấn công phi trường Khánh Dương th́ phải tràn từ hướng Ban Mê Thuột xuống, nghĩa là phải đánh tan lực lượng của Sư đoàn 22 Bộ binh đang hành quân tại khu vực cây số 62. Cho nên khi nghe tin phi trường KD bị tấn công th́ Đại tá Lư Bá Phẩm, Tiểu khu Trưởng Khánh Ḥa, hỏi lại BCH hành quân tại Khánh Dương, BCH hành quân đă hỏi lại Tiểu đoàn 2 của Trung đoàn 40 thuộc Sư đoàn 22 BB th́ Thiếu tá Tốt cho biết ông đang hành quân tại khu vực cây số 62 và t́nh h́nh tại đây đang yên tĩnh.

Do đó Đại tá Phẩm xác nhận lại với BTL QK 2 để bác bỏ tin quân CSVN từ BMT đă tới thị trấn Khánh Dương. Thực ra đây là do Phạm Huấn ( và cũng có thể là cả BTL Quân Khu 2 ) suy diễn sai : Phi cơ L.19 đă trông thấy quân CSVN tràn vào phi trường từ khu rừng phía
Nam BCH Chi khu KD chứ không phải trông thấy quân CSVN từ phía
Tây Bắc của BCH Chi khu. Nghĩa là quân tấn công không phải từ BMT tràn xuống , mà từ trong rừng Khánh Dương đánh ra. Phi cơ đă báo đúng, nhưng nhà báo Phạm Huấn suy diễn sai.
Cũng theo sổ tay chiến trường của Phạm Huấn :

“17 giờ , Tư lệnh Sư đoàn 23 Bộ binh được lệnh trở lại Khánh Dương chỉ huy, không được lùi thêm…” ( trang 192 ).
Nhưng sau đó 20 phút, cũng theo Phạm Huấn :

“17 giờ 20 phút, tin từ mặt trận Khánh Dương xác nhận toàn bộ sư đoàn F.10 Cọng sản Bắc Việt đă ở vùng cây số 62. Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 40 vừa giao tranh với một trung đoàn Cọng sản Bắc Việt. Quân ta hạ 2 xe tăng Bắc Việt ở 10 cây số Tây Khánh Dương. Gần 100 xác Việt Cộng bỏ lại chiến trường với vũ khí. Hai tù binh Cọng sản Bắc Việt bị bắt đă khai thuộc Sư đoàn F.10 Cọng sản Bắc Việt…” ( trang 192, 193 ).
Đọc qua đoạn ghi chép này của Thiếu tá Phạm Huấn th́ những nhà quân sự học buộc phải đánh dấu hỏi về mức khả tín của tài liệu do nhà báo Phạm Huấn ghi lại : Vào lúc 17 giờ th́ t́nh h́nh yên tĩnh đến nổi Tướng Phú ra lệnh cho Đại tá Tư lệnh Sư đoàn 23 phải trở lại Khánh Dương. Nhưng 20 phút sau th́ 2 xe tăng Bắc Việt cháy, 100 xác địch bỏ lại chiến trường, hai tù binh bị bắt khai là thuộc Sư đoàn 10 CSVN (!).

Một chuỗi biến cố như vậy không thể nào diễn ra trong ṿng 20 phút, nhanh nhất phải là 2 tiếng, hoặc 3 tiếng đồng hồ. ( Sự thực là TĐ 2/40 đánh nhau với quân CSVN khoảng 2 giờ 30 trưa nhưng không hiểu v́ sao tới 5 giờ chiều Tướng Phú lại nhận được báo cáo Khánh Dương vô sự ).
Có thể giải đoán những khúc mắc khó hiểu này như sau :

Lúc 14 giờ 20, sau khi nhận được tin Phi trường Khánh Dương vô sự th́ Tướng Phú bay ra chỉ huy mặt trận Liên Tỉnh lộ 7. Đến 5 giờ chiều th́ ông về đến Nha Trang và ngồi nghe thuyết tŕnh diễn tiến hành quân tại chiến trường Khánh Dương. Việc đầu tiên là ông ra lệnh cho Đại tá Đức phải trở lại BCH/Chi khu Khánh Dương. Phạm Huấn có mặt tại pḥng thuyết tŕnh cho nên ông ta ghi vào sổ tay ( lúc 17 giờ ).

Sau đó các sĩ quan hành quân của BTL/QK 2 bắt đầu thuyết tŕnh về cuộc đụng độ giữa Tiểu đoàn 2/TrĐ 40 BB và quân CSVN từ 2 giờ 30 chiều. Và sau 20 phút thuyết tŕnh th́ tới đoạn tổng kết về kết quả của trận đánh. Lúc đó Phạm Huấn cũng ghi vào sổ tay ( lúc 17 giờ 20 ). Cho nên mới có chuyện là 17 giờ yên tĩnh và 20 phút sau th́ “2 xe tăng cháy, 100 xác chết, 2 tù binh”!

Lúc 3 giờ chiều, Toàn bộ Tiểu đoàn 231/ĐPQ được đặt dưới quyền điều động của Chi khu Khánh Dương, có nhiệm vụ pḥng thủ phi trường và BCH Chi khu thay thế cho Tiểu đoàn 272/ĐPQ đang pḥng thủ BCH Chi khu rút về Diên Khánh.

Đại đội 2/231 ĐPQ di quân vào án ngữ pḥng thủ bên khu rừng dọc chân núi phía Tây Bắc phi trường Khánh Dương ( Đỉnh núi có Cao độ 612 ). Thực ra Tiểu đoàn 231/ĐPQ chỉ c̣n 2 đại đội : Đại đội 2 c̣n nguyên vẹn như ngày đầu bởi v́ được dùng làm lực lượng yểm trợ phía sau BCH Tiểu đoàn, đại đội 4 c̣n một nửa sau trận tao ngộ chiến đêm 19-3, đại đội chỉ huy c̣n 1 nửa sau trận pháo đêm 19-3. Đại đội 1 và Đại đội 3 đă bị xóa sổ.

Lúc 4 giờ chiều Đại đội 4 và BCH/Tiểu đoàn chiếm lĩnh ngọn núi phía sau BCH Chi khu Khánh Dương ( Có cao độ 528, cũng thuộc dăy núi 612 ). Lúc này ĐĐ 4 do Đại úy Châu mới đi phép về chỉ huy. Đại đội trưởng ĐĐ 3 ( Lư ) chỉ huy Đại đội chỉ huy.

Lúc 4 giờ 15, Đại đội 2/ 231/ ĐPQ báo cáo trong khu rừng dưới chân núi có xác CSVN nằm la liệt, có khoảng 20 CSVN bị thương nhẹ xin đầu hàng, khoảng 10 bị thương nặng xin được cứu. Đây là toán quân thuộc 2 tiểu đoàn tấn công phi trường Khánh Dương lúc trưa đă bị trực thăng vũ trang tiêu diệt; số mạnh khỏe c̣n lại đă tháo chạy bỏ lại đồng bạn. Theo lời khai của họ th́ họ thuộc lực lượng cơ động tỉnh của Tỉnh đội Khánh Ḥa ( Tiểu đoàn địa phương ).

Lệnh của Chi khu trưởng Chi khu Khánh Dương ( Thiếu tá Trịnh Thanh B́nh ) là cứ bỏ mặc quân CSVN ở đó, cho họ thức ăn, nước uống; c̣n Đại đội di chuyển đi chỗ khác. Đại đội 2 báo cáo không thể nào pḥng thủ qua đêm tại khu vực đầy xác chết và cả người bị thương c̣n sống. Vả lại không thể biết được c̣n bao nhiêu quân CSVN có vũ khí đang c̣n lẩn quẩn trong rừng. Sau đó do sự nằn ń của Trung úy Đại đội trưởng Lê Bá Luyện ( Nguyên Trưởng ban hành quân Chi khu Khánh Dương, có thân t́nh với ông Chi khu trưởng ) Thiếu tá B́nh chấp thuận cho ĐĐ 2 di chuyển về ṿng đai pḥng thủ phi trường.

Lúc 8 giờ đêm, Trung đội 1 của ĐĐ 4 ( Chuẩn úy Đạo ) đụng độ với 1 toán quân CSVN giữa khu vực trách nhiệm của ĐĐ4 và BCH/TĐ, kết quả có 2 chết 2 bị thương nhưng toàn trung đội bị lạc nhau trong đêm tối. Thiếu úy Đại đội phó ( Thanh) dẫn 1 tiểu đội đi t́m gom lại Trung đội 1. Lúc này Đại đội 4 chỉ c̣n 2 trung đội.

TRẬN KHÁNH DƯƠNG NGÀY CHÓT

Ngày 22-3,

Lúc 7 giờ sáng, quân CSVN bắn sơn pháo 75 ly vào lô cốt trên đỉnh núi 528 của ĐĐ4, đồng thời pháo vào BCH/ TĐ 231. Đại úy Châu và 16 lính ĐĐ 4 chết ngay loạt đạn đầu, Thiếu úy Thanh dẫn số c̣n lại chạy tạt vế phía BCH Tiểu đoàn. Chuẩn úy Đạo chỉ huy trung đội bắn chận quân CSVN từ đỉnh 612 tràn qua.

Có thể đây là lực lượng quân địa phương của CSVN thuộc 2 tiểu đoàn đánh vào phi trường Khánh Dương vào chiều hôm qua. C̣n quân chính quy CSVN từ BMT vẫn c̣n cách BCH Chi khu Khánh Dương trên 5 cây số.

Cùng lúc 7 giờ sáng, quân CSVN pháo khoảng 1.000 quả đạn 130 ly vào phi trường Khánh Dương, đạn đạo bay xà qua đỉnh 528, nơi BCH/TĐ đóng quân, một số vướng đá nổ ngay trên đỉnh núi. Ống ḍm của Trưởng ban hành quân TĐ không nh́n thấy vị trí đặt súng của pháo binh CSVN ( v́ quá xa, đại bác 130 ly của CSVN bắn xa tới 28 cây số ).

Pháo binh VNCH xin Trưởng ban hành quân TĐ 231 xác định hướng bay của đạn đạo để các khẩu đội có thể áng chừng vị trí pháo binh của quân CSVN để phản pháo. Tuy nhiên theo quan sát của TĐ 231 th́ điểm nổ áng chừng của pháo binh VNCH c̣n cách quá xa vị trí đặt súng của CSVN, mặc dầu pháo binh VNCH đă bắn hết tầm.
BCH/ Tiểu đoàn 231 và BCH Chi khu Khánh Dương mất liên lạc với ĐĐ 2 đang giữ nhiệm vụ pḥng thủ phi trường.

Cùng lúc 7 giờ, Tiểu đoàn 2/40 của Sư đoàn 2 BB bị tấn công tràn ngập, ống ḍm của Trưởng ban 3 TĐ 231 từ trên đỉnh 528 thấy rơ quân CSVN dàn hàng ngang từ trên sườn núi tiến xuống truy kích quân của TĐ 2/40 BB/VNCH. Do v́ cả hai bên cùng bận áo trận màu xanh nên không thể điều chỉnh pháo binh để ngăn chặn đoàn quân đang đuổi theo. Vả lại đoàn quân đuổi phía sau cũng không nổ súng cho nên trên đỉnh núi cũng không chắc quân đuổi theo là quân CSVN, có thể cũng là một đoàn quân di tản thứ hai của TĐ 2/40 BB/VNCH.

Lúc 7 giờ 20, người lính mang máy của TĐ 2/40 VNCH vừa khóc vừa báo cho TĐ 231 là Thiếu tá Tốt đă tử trận ( Lúc đó 2 máy của 2 tiểu đoàn đang ở tần số liên lạc riêng để 231 hướng dẫn cho 2/40 biết hướng đuổi theo của quân CSVN, và máy truyền tin của pháo binh Trung đoàn 40 BB cũng đang ở trên tần số này để chuẩn bị bắn giải cứu cho 2/40 BB ). Pháo binh TrĐ.40 hỏi thăm về Trưởng ban hành quân Tiểu đoàn 2/40 nhưng ông này cũng đă tử trận.

Lúc 7 giờ 30, quân CSVN bắn khoảng 50 trái sơn pháo 75 ly vào vị trí của BCH Tiểu đoàn 231 và ĐĐ4. Toàn bộ Tiểu đoàn tan ră, mạnh ai nấy chạy xuống chân núi. Quân CSVN tiếp tục pháo 130 ly vào BCH Chi khu Khánh Dương.
Lúc 8 giờ Chi khu Khánh Dương di tản theo Quốc lộ về đèo M’Drak
Những người sống sót của Tiểu đoàn 231/ĐPQ di tản dọc theo sườn núi phía Bắc Quốc lộ để xuống đèo M’Drak

Lúc 3 giờ chiều, toán di tản đầu tiên về đến cầu 24 ( Trung tâm huấn luyện Lam Sơn ). Đến 10 giờ đêm vẫn có người tiếp tục về đến cầu 24.

Ngày 23-3,
Lúc 8 giờ sáng, tổng kiểm điểm quân số, Tiểu đoàn 231 về được 72 người, kể cả những người bị thương nặng, nhẹ. ĐĐ 2 là đại đội
c̣n nguyên tới ngày cuối cùng nhưng đă bị pháo binh CSVN tiêu diệt trong giờ cuối cùng. Đại đội trưởng Lê Bá Luyện và 4 người nữa c̣n sống sót.

*( Và 1 năm sau có một người thứ 73 trở về với gia đ́nh tại Văn Sơn, Phan Rang. Đó là Trung úy Đại đội phó Đại đội 2 Huỳnh Văn Hồng. Ông bị bắt ngày 23-3-1975 trên chốt đèo M’Drak.

Sau khi thẩm vấn, biết ông là sĩ quan của Tiểu đoàn 231, viên Thượng úy Tiểu đoàn Trưởng CSVN dẫn ông ra xa, bắt ngồi xuống một hố đá rồi bắn 7 phát đạn K.54 vào người của ông; 3 viên bắn ra ngoài, 4 viên trúng vào người nhưng không chết. Sau 1 năm ông mới gượng đi lại được và được CSVN cho về nhà để tiếp tục điều trị. Trong thời gian bị giam Trung úy Hồng hỏi thăm th́ mới biết người ta lầm Tiểu đoàn 231 ĐPQ với Tiểu đoàn 231 Pháo binh tại Phi Trường Phụng Dực, BMT.

Nguyên do ngày 10-3-1975, Trung đoàn 149 thuộc Sư đoàn 316/CSVN tấn công BCH Trung đoàn 53 BB/VNCH và Tiểu đoàn 1/53 tại phi trường Phụng Dực; nhưng cuộc tấn công bị thất bại nặng nề v́ quân 231/PB VNCH bắn đạn trực xạ vào lưng 2 tiểu đoàn CSVN đang tấn công.
Ba ngày sau, ngày 14-3 CSVN tập trung 2 trung đoàn c̣n lại của Sư đoàn 316/CSVN tấn công vị trí của Trung đoàn 53, nhưng lại bị pháo trực xạ nên phải rút lui.

Qua ngày sau, ngày 15-3, toàn bộ số quân c̣n lại của Sư đoàn 316 CSVN tập trung tấn công Căn cứ pháo binh, nhưng lần này th́ bị đạn chống biển người khiến cho Sư đoàn 316 bị xóa sổ. Chiều ngày 15-3, các trung đội Pháo binh 231 hết đạn và không c̣n tiếp tế nên hủy súng để di tản. Ba ngày sau, ngày 17, Sư đoàn 10/CSVN mới hạ được Trung đoàn 53 BB. Từ đó những quân nhân c̣n sống xót trong Sư đoàn 316 CSVN thâm thù quân 231/PB VNCH đến xương tủy ).
Năm 1975, ngày 23-3, lúc 10 giờ sáng, Đại tá Trần Văn Tự, Tiểu khu trưởng Ninh Thuận ra tại cầu 24, phát cho mỗi chiến sĩ 2.000 đồng và cho xe chở về Ninh Thuận
Diễn tiến hành quân trên đây được viết theo sổ tay hành quân của
Trung úy Bùi Anh Trinh, Trưởng ban hành quân Tiểu đoàn 231/ĐPQ.
BÙI ANH TRINH

Vài lời chân t́nh của tác giả
Trưởng ban hành quân của Tiểu đoàn 231 ĐPQ chính là tôi, Trung Úy Bùi Anh Trinh. Hiện nay Tiểu đoàn trưởng Nguyễn Duy Hoàng, Đại úy Đại đội trưởng ĐĐ chỉ huy Lương Văn Thông và tôi đang sinh sống tại Little Saigon, Cali. Thiếu tá Nguyễn Xuân Hớn đang sinh sống tại Boston USA. Trung tá Ngô Quư Hùng lâu nay sinh sống tại VN, ông từ chối đi Mỹ mặc dầu ông trải qua 13 năm trong trại tù. Ông vừa mới mất ngày 10 tháng 7 năm 2016.

Tiểu đoàn chúng tôi đă hoàn thành nhiệm vụ cầm chân quân CSVN từ Ban Mê Thuột tràn xuống Nha Trang. Thành công này là do chiến thuật “Pháo binh + Trinh sát bộ binh” của Thiếu tướng Phạm Văn Phú.
Quân CSVN bị chặn lại trong 5 ngày v́ pháo binh và phi cơ chứ không phải v́ 1 tiểu đoàn ĐPQ.

Người ngoài quân đội khó mà h́nh dung được tầm mức khủng khiếp của những tràng đạn đại bác mà chúng tôi đă sử dụng tại chiến trường Khánh Dương. Nhưng có một cách để so sánh dành cho người ngoài quân đội : Đó là năm 1954, trong suốt trận Điện Biên Phủ, 36 khẩu đại bác 105 ly của quân CSVN đă bắn tất cả 20.000 trái đạn vào quân Pháp tại ĐBP. Trong khi đó tiểu đoàn chúng tôi chỉ trong 1 ngày, như ngày 19-3, đă gọi tất cả 900 tràng, tức là 10.800 trái đại bác 105 và 155 ly vào đội h́nh tấn công của quân CSVN !

Từ trước tới nay trong sách hay các bài viết của ḿnh tôi không bao giờ đề cập đến chiến tích của cá nhân ḿnh bởi v́ tôi tự thấy không hay ho ǵ nếu đem đặt bên cạnh cái chết của 250 ngàn chiến hữu VNCH và 58 ngàn chiến hữu Hoa Kỳ. Riêng đối với gia đ́nh của 304 chiến hữu trong Tiểu đoàn 231/ĐPQ đă nằm lại tại chiến trường Khánh Dương th́ là một tội lỗi quá lớn của chính tôi.

Trong những năm tháng u ám ở trong tù tôi có dư th́ giờ để hối hận. Lúc quyết định chấp nhận hy sinh mạng sống của ḿnh tôi đă quyết định hy sinh mạng sống của 376 chiến hữu khác. Rốt cuộc th́ chúng tôi đă làm được ǵ? Tại sao tôi lại phải sống trong khi 304 người khác đă chết v́ quyết định vô ích của tôi ? Tệ hơn nữa, cái chết của 304 người kéo theo 304 gia đ́nh ! Nếu ngày đó tôi dẫn nguyên Tiểu đoàn bỏ chạy trong ngày đầu tiên th́ kết quả cũng đến như thế này mà thôi.
Tháng Tư năm 2012 trong một buổi ngồi nói chuyện ngoài quán cà phê với Thanh Toàn, phóng viên của đài SPTN, Thanh Toàn đă bất ngờ hỏi tôi :
“Anh đă làm ǵ trong những ngày tháng Tư năm 1975”. Tôi trả lời ngay mà không kịp suy nghĩ :
“Tôi chỉ biết hết ḷng hết sức làm theo những ǵ mà cấp chỉ huy của tôi mong nuốn. Và tôi nghĩ tôi đă làm hết sức của ḿnh rồi”.
Không ngờ lúc đó Thanh Toàn đă bật máy thu h́nh mà tôi không biết bởi v́ tánh tôi không ưa xuất hiện trước công chúng. Và rồi Thanh Toàn cũng đă lén đưa đoạn phim đó lên truyền h́nh mà không hỏi ư kiến của tôi. Sau khi phát h́nh xong, Thanh Toàn đưa cho tôi dĩa DVD và cười giả lả : “Bởi v́ em thấy anh trả lời dễ thương quá, bỏ qua rất uổng”.

Trước đó cũng tại quán cà phê đó tôi thường ngồi nói chuyện với nhà văn Cao Xuân Huy, chiến hữu TQLC. CXH thường thúc tôi viết lại trận Khánh Dương nhưng tôi nói với anh là tôi sẽ không viết bởi v́ nếu viết th́ trước tiên tôi phải vạch mặt những người đâm sau lưng chúng tôi. Đó là những người bận áo lính ngồi lê đôi mách chuyên môn bươi móc hoặc bịa đặt những điều xấu xa trong quân đội VNCH.

Hoặc những người bận đồ lính ngồi trong văn pḥng thổi ống đu đủ, bơm chúng tôi thành những ông thánh, những anh hùng không biết sợ chết là ǵ. Và hễ chúng tôi thua trận hoặc hơi lùi th́ họ cho là chết nhát (sic). Trong khi sự thực chúng tôi là con người cho nên chúng tôi cũng ham sống, sợ chết như ai. Đă đánh trận th́ có khi thắng có khi thua chứ không ai cầm thanh gươm mà nói chắc là ḿnh luôn luôn thắng.
Cao Xuân Huy cũng có kinh nghiệm buồn về cuốn sách “Tháng Ba Găy Súng” của anh. Có nhiều người ở trong quân đội VNCH nhưng chưa bao giờ được hân hạnh bắn một phát súng đă kết tội CXH là “Chuyên môn nói xấu các cấp chỉ huy”, “Nó làm như chỉ có ḿnh nó là anh hùng, c̣n tất cả là hèn nhát”, “Tại sao lại viết về mặt trái không đẹp của VNCH”, “Thua trận rồi đổ cho cấp trên làm ǵ nữa” v.v…Trong khi CXH chỉ nói lên
sự thật chua xót của những người lính bị bỏ rơi.

Tôi không sợ sẽ bị hiểu lầm như Cao Xuân Huy, nhưng tự sâu xa trong đáy ḷng tôi rất ngại phải khơi gợi lại một lỗi lầm mà ḿnh đă cố chôn vùi từ lâu. Ngoài ra, có thể người ta sẽ cho rằng tôi là một sĩ quan cấp nhỏ muốn đổ hết trách nhiệm cho “bọn to đầu” để cho sự thua trận của ḿnh khả dĩ “coi được”.

Tuy nhiên sau khi xem lại đoạn băng nói chuyện với Thanh Toàn tôi mới nhận ra là ngày đó ḿnh không c̣n một lựa chọn nào khác, cho dù kết quả rất bi đát nhưng ḿnh đă làm đúng. Ngược lại, nếu giờ đây tôi chôn vùi câu chuyện này vào dĩ văng th́ cái chết của Tướng Phú và 304 chiến hữu của tôi sẽ trở thành oan uổng. Từ đó tôi mới có ư định viết lại trận đánh với tất cả mặt trái đen tối của nó.

Nhưng rồi năm nay tôi được làm quen với người bạn nhỏ tuổi hơn là Châu Xuân Nguyễn. Châu đă nói với tôi
: “Cái cần là anh là người trong cuộc chiến, anh chỉ kể những huy hoàng và “amnesia” ( tự nhiên mất trí nhớ ) về mặt trái th́ ai trách anh đâu”. Nghe lời Châu tôi quyết định xóa bỏ những đoạn có dính dáng đến mặt trái đau xót mà tôi đă viết xong.

Vậy th́ xin lượng thứ nếu thấy trong bài tường thuật này tôi toàn nói tốt.
Và chúng tôi tự nghĩ, chúng tôi đă làm hết sức của ḿnh rồi

C̣n tiếp
hoanglan22_is_offline   Reply With Quote
The Following User Says Thank You to hoanglan22 For This Useful Post:
phokhuya (3 Weeks Ago)
Reply
Page 54 of 55 « First 4445253 54 55

User Tag List

Thread Tools

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is On


 
iPad Tablet Menu

Announcement

Breaking News

Society News

VietOversea

World News

Business News

Other News

History

Car News

Computer News

Game News

USA News

Mobile News

Music News

Movies News

Sport News

Stranger Stories

Comedy Stories

Cooking Chat

Nice Pictures

Fashion

School

Travelling

Funny Videos


Page generated in 0.12580 seconds with 13 queries