Tôi không hiểu vì sao, tiếng Việt mình gọi là
tình mẫu tử, tình phụ tử, chữ
"tình" bao hàm bản năng trong đó, không thể cho tách rời. Nhưng
"hiếu thảo" lại gọi là
"lòng hiếu thảo", chứ không phải là
"tình hiếu thảo".
Chữ
"lòng" ở đây có tính tự nguyện, nên hiếu thảo là lựa chọn của tâm, không phải bổn phận. Tôi không phải là nhà ngôn ngữ học. Tôi chỉ cảm nhận ra như vậy.
Lòng hiếu thảo có tính phổ quát, dù là tự nguyện, thì nếu hiếu thảo ở đâu, phương Đông hay phương Tây gì cũng vậy. Chỉ có điều là thể hiện ra hơi khác nhau.
Tôi đọc được dòng status của một phụ nữ Mỹ chia sẻ câu chuyện, khi cô đến thăm mẹ ở viện dưỡng lão. Cả tuần cô mới sắp xếp được một ngày đến thăm, tuần nào cũng vậy. Khi cô đến, bà cụ đã ngồi chờ sẵn ở trong sân viện. Hai mẹ con chuyện trò đủ thứ. Khi cô về, bà cụ cũng ngồi ở sân viện, dõi mắt trông theo. Cô lên xe, ngoái cổ lại, vẫn thấy cụ đang nhìn theo. Cô chia sẻ điều này trên Facebook, qua giọng văn viết vội, không đầu không đuôi, lại sai chính tả. Cô bị ám ảnh bởi đôi mắt
"trông theo" của mẹ mình.
Tôi cũng bị ám ảnh khi đọc những dòng chia sẻ của cô. Tôi nhớ lại đôi mắt của mẹ tôi, cũng dõi nhìn tôi như thế, khi tôi phải đi công tác xa vài ngày, trong những ngày tháng bà đang bệnh nặng. Bà sợ sẽ không kịp nhìn thấy tôi lần cuối trước khi qua đời.
Với phương Tây, lòng hiếu thảo không đồng nghĩa với
"ở cạnh và tự tay chăm sóc". Bác sĩ và nhân viên điều dưỡng có chuyên môn luôn chăm sóc tốt hơn. Điều này rất thực tế. Đi làm cả ngày, có khi đi công tác xa, chăm sóc như thể nào được, khi đến tuổi già mong manh.
Hiếu thảo là làm như thế nào để cho cha mẹ được chăm sóc theo đúng cách, tự họ quyết định mà không phải lệ thuộc ở con cái. Con cái chỉ cần thỉnh thoảng tới thăm. Và nếu cần, hỗ trợ tiền viện phí cho nhà dưỡng lão.
Ở VN ta, do ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo, lòng hiếu thảo bị ràng buộc nặng nề bởi đạo lý và xã hội, và cả sự kỳ vọng của cộng đồng. Chút tiền trợ cấp, theo pháp luật, không nói lên được điều gì về hiếu thảo. Chăm sóc cha mẹ già mới là vấn đề cốt lõi.
Thế hệ con cái bây giờ sống trong đô thị, dù làm việc gần hay xa, đều muốn ra ở riêng. Mô hình gia đình, tam tứ đại đồng đường hầu như đã biến mất, may ra còn sót lại đâu đó ở chốn nông thôn.
Cha mẹ sống chung với một đứa con nào đó, cũng đang dần dần bị thu hẹp. Lập gia đình là ra ở riêng. Vẫn thỉnh thoảng về thăm nom cha mẹ, vẫn hỏi han qua phone hàng ngày. Nếu ở chung, con cái sẽ chăm sóc cha mẹ theo phương cách riêng của chúng. Áp lực xã hội còn quá nặng nề, chưa đủ để cho con cái nghĩ đến đưa cha mẹ già vào viện dưỡng lão, dù là tiền đóng phí không rẻ, tùy theo dịch vụ lựa chọn.
Bọn già tụi mình cũng thế. Căn nhà không chỉ là căn nhà, mà đó còn là tài sản chắt chiu, chất chứa biết bao ký ức một thời vất vả, vì bổn phận lo cho cả gia đình. Căn phòng ở viện dưỡng lão dù có đủ tiện nghi đến đâu, cũng chỉ là nhà thuê, không phải là
"home", mà chỉ đơn thuần là
"house".
Sự xung đột nửa Tây nửa ta như vậy, quả là một thách thức không dễ dàng để thích nghi. Thách thức không chỉ với con cái, mà còn với tuổi già. Con cái chăm sóc chúng ta theo kiểu hiện đại. Còn tuổi già bọn mình mong muốn những gì ở tuổi xế chiều? Khi mà đầu óc đã lãng đãng, chuyện xưa thì nhớ, chuyện nay thì quên.
Chúng ta chưa đủ tinh thần để tách rời ra khỏi căn nhà. Hầu hết người già muốn được sống gần con cháu, không phải vì cần sự giúp đỡ vật chất, mà vì mong muốn được hiện diện, được nghe tiếng người, được thấy thế hệ tiếp nối. Mong muốn đó không phải là lệ thuộc vào con cái, mà là một cách níu kéo sợi dây liên hệ với đời.
Đôi lúc chúng mang con cái về nhà gửi cả ngày, vợ chồng chúng tha hồ thoải mái đi chơi. Vừa là nhờ vả, vừa là ân huệ với tuổi già, mà chắc gì là ân huệ thiệt. Tuổi già thèm thủ thỉ với trẻ thơ. Chẳng phải chúng ta đã mua bánh kẹo sẵn, chờ đợi bọn trẻ đến đấy hay sao? Vừa chăm sóc, vừa chiều chuộng, vừa hỏi han. Chỉ có già mới kiên nhẫn lắng nghe, những câu hỏi thật nhanh, và quên thật nhanh của trẻ con. Dù sao, đó cũng là chút chứng tỏ mình còn có ích, con cái mới nhờ vả, chứ chưa phải hoàn toàn vô dụng.
Có khi mình trông con cho chúng, không đúng như chúng dặn, là bị cằn nhằn. Nghĩ cũng thấy buồn!
Dù sao, con cái còn quan tâm, chăm sóc đến mình là điều đáng mừng. Dù là quan tâm cho có lệ, hay thỉnh thoảng gọi điện thăm hỏi cũng là điều đáng mừng rồi.
Nếu có đứa nào tới lui chăm sóc là điều vượt quá mong đợi của tuổi già. Hãnh diện chứ! Nhưng mọi chăm sóc của chúng thường theo xu hướng hiện đại. Có điều gì đó mà đôi khi tuổi già miễn cưỡng nghe theo để khỏi làm phụ lòng.
Miễn cưỡng nghe như là chịu đựng… Có cách quan tâm, chăm sóc nào khác hay không?
Thỉnh thoảng, con cái đặt mua "
món ngon mẹ nấu", ship về tận nhà cho mình, nhưng chẳng bao giờ chúng đãi người già
"món ngon do con nấu".
Con nấu như thế này, có ngon như hồi xưa mẹ đã nấu hay không? Khẩu vị người già dù đã thay đổi ít nhiều, nhưng trong khoảng khắc sẽ được hồi tỉnh lại. Tuổi già sẽ chỉ bảo, phải làm như thế này, thêm như thứ nọ mới đúng. Già rồi, đi đứng hết nổi, nhưng cũng cảm thấy mình còn có ích đôi chút, còn
"truyền nghề" cho chúng. Niềm vui tuổi già chỉ giản dị có thế thôi.
Nhưng có đứa nào chịu làm
"món ngon do con nấu" đâu. Chúng chỉ đặt hàng vài phút là có ngay
"món ngon mẹ nấu". Ký ức ẩm thực tuổi già bị lãng quên!
Người già thèm những món ăn quen thuộc. Thèm để nhớ một thời gian khổ, mà sao hồi đó lại ngon đến lạ thường. Món phá lấu, chẳng hạn. Hồi trước, ngày nào rủng rỉnh chút đỉnh, tôi mua đĩa phá lấu. Phần của chúng nhiều gấp ba bốn phần mình. Nhìn chúng ăn ngon lành, ăn xong còn thòm thèm. Cha mẹ nào nuốt nổi hết phần mình nữa.
Bây giờ thèm, mình đi mua món phá lấu. Chúng cằn nhằn, chê món phá lấu mất vệ sinh. Ăn nội tạng heo bò làm tăng mỡ máu, có hại cho sức khỏe. Chúng ép mình phải ăn
"món ngon mẹ nấu" do chúng đặt hàng. Có đứa còn ép mình ăn kiêng, chỉ toàn món chay hảo hạng. Không ăn đúng như vậy lại theo cằn nhằn.
Hồi đó mình thèm món phá lấu, nó cũng thèm. Mình nhường hết cho nó. Bây giờ mình thèm phá lấu, chúng lại bắt mình ăn
"nem công chả phượng" như cách chúng nó gọi. Món ăn dĩ vãng của tuổi già đã bị bỏ rơi!
Tôi làm ở phòng lab, điều chỉnh chính xác từng giọt dung dịch từ burette để định lượng. Bây giờ tay chân vụng về, rót nước từ bình đun vào chai, bị rơi vãi. Con cái cằn nhằn, nói để cho chúng làm. Không, tôi muốn tự làm những gì còn có thể tự làm được. Các bạn già cũng vậy, có phải không?
Thế hệ chúng ta làm cật lực, bất kể ngày đêm chỉ để trang trải gánh nặng gia đình. Bây giờ ngồi không, như kẻ vô dụng. Thật là khó chịu!
Không ít bạn già, theo chân các đoàn thể tôn giáo, đóng góp và giúp đỡ những nơi bị thiên tai, những vùng đói kém. Cũng làm được chút gì đó có ích cho đời.
Tôi cũng vậy. Tôi vẫn viết lai rai về an toàn thực phẩm, chỉ muốn chia sẻ lại chút kiến thức, không chỉ lý thuyết, mà cả những kinh nghiệm tích lũy trong suốt mấy chục năm. Có được một người nghe, và làm theo cũng là niềm vui. Không làm được chuyện lớn cho đời, thì làm chuyện nhỏ, dù là rất nhỏ. Còn hơn ngồi cứ than thở, và nguyền rủa những chuyện chướng mắt ở đời.
Gần hết cả đời, chúng ta đã cho đi. Già rồi, có cần gì nữa đâu, mà chỉ e rằng mình trở thành gánh nặng, hoặc bị lãng quên. Nếu sợ, đó là sợ tình thương, pha lẫn lòng thương hại.
Các bạn trẻ, xin đừng tước đi niềm kiêu hãnh cuối cùng của tuổi già. Đừng nên
"xả láng" chuyện báo hiếu, để rồi chăm sóc quá đáng – Hãy để cho chúng tôi tự làm. Đừng nên khuấy động mặc cảm vô dụng của tuổi già.
Quê mẹ tôi không trồng lúa được, vì nước sông dâng cao cả vài tháng, chỉ có thể trồng bắp, khoai, vài loại rau ngắn ngày. Năm 1945, quê mẹ tôi bị nạn chết đói nhiều lắm, tứ tán cả. Ngay từ hồi tôi 4 tuổi, bà đã dạy tôi phải biết quý hạt gạo. Hạt cơm rơi xuống cũng phải nhặt lên.
Khi mẹ tôi mất, tôi bỏ lên Đà Lạt. Đêm giao thừa đầu tiên, không có bà bên cạnh. Tôi nâng ly rượu, chợt nhớ đến
"hạt cơm rơi". Tôi ngước nhìn bàn thờ, và tự hỏi – Đời bà gian truân như thế nào? Nước sông dâng cao như vậy, khi nước rút, làm sao nhận ra mồ mả của ông bà? Bà bỏ lên Hà Nội kiếm sống như thế nào? Vào Sài Gòn, bà đi bán xôi. Tôi chưa bao giờ hỏi bà cách để đồ xôi như thế nào, chọn loại nếp ra sao? Còn nhiều câu hỏi trong đầu, nhiều điều mà tôi muốn biết nữa, nhưng lại không thể…
Những năm cuối đời, nếu ai hỏi chuyện xưa, mẹ tôi sẽ nói cả giờ. Tôi chỉ miễn cưỡng nghe vài phút, rồi đi lên lầu. Còn nhiều công việc mưu sinh phải làm. Tôi nghĩ, chỉ cần chăm sóc bà đầy đủ là được.
Thế hệ chúng ta lớn lên trong chiến tranh – Khổ! Tàn cuộc chiến – Khổ. Khổ đủ kiểu, tùy theo môi trường xuất thân. Ở cái thời
"rau muống bổ hơn thịt bò" – Thật là xấu hổ! Có lẽ mấy bà khổ nhất – Cái khổ ngấm ngầm mà dai dẳng. Đó là cầm giỏ ra chợ với chút xíu tiền. Làm sao thu vén cho bữa ăn gia đình. Những năm tháng đó, làm sao mà ai biết? Mà có ai lại muốn biết đâu!
Tuổi già ở nhà là một thế giới khép kín, cô đơn giữa mọi tiện nghi, giữa những
"món ngon mẹ nấu", và những cú điện thoại
"chăm sóc" quá kỹ lưỡng của con cái. Muốn được chia sẻ, nhưng có ai lắng nghe để chia sẻ? Con cái ư?
Tôi chỉ nín lặng chấp nhận
"quả báo", không dám gượng ép. Nhưng mấy bà thì tâm tư chất chứa đủ thứ. Về đến nhà là cứ dồn nén, dồn nén… Các bạn marketing rất tinh quái, nếu biết số phone, sẽ gọi lại tỉ tê đủ thứ, và chào bán thực phẩm chức năng. Sa bẫy là điều dễ hiểu. Đừng nên trách tuổi già! Marketing biết lắng nghe họ hơn là con cái.
Già rồi, cổ lỗ sĩ mọi thứ. Dĩ vãng cũng cổ lỗ sĩ. Nhu cầu lắng nghe nhiều nhất, nhưng cũng mong manh nhất. Tôi thì đã quá muộn rồi! Ai còn cơ hội thì chớ nên bỏ lỡ.
Tuổi già muốn được chăm sóc. Muốn chỉ vì gìn giữ sự kết nối, không phải muốn để lệ thuộc. Muốn được làm theo ý nguyện, muốn được tôn trọng, và muốn được lắng nghe, nhưng đôi lúc bất khả thi. Chăm sóc, xin đừng vừa là thương, vừa là nợ.
Sự giao thoa giữa xã hội cũ và mới, sự lạc nhịp giữa hai thế hệ già và trẻ đã dẫn đến lạc nhịp về chăm sóc người già. Đôi lúc chợt nhận ra, hình như đã lâu lắm rồi, mình chưa biết thương đến chính bản thân. Mong muốn chăm sóc tuổi già của chúng ta, tôi biết, chỉ là giấc mơ – Chỉ là giấc mơ thôi.
Vũ Thế Thành (trích từ sách "Chia sẻ với các bạn già–Ăn kiêng cũng phải sướng", nxb Phụ Nữ 2025)