» Super News |
Trời Kyiv 7 giờ rực lửa: UAV Nga bị hạ gần hết, nhưng 'đòn cuối' mới đáng sợ - Ukraine cầu viện đồng minh
New Tab ↗
Theo như Ukraine - quốc gia đã trải qua hơn bốn năm trong cuộc xâm lược quân Nga đang trở thành hình mẫu của một số lực lượng quân sự hùng mạnh nhất thế giới trong việc chống lại máy bay không người lái tầm xa, khiến Tổng thống Volodymyr Zelensky mới đây lại thừa nhận: "Thử thách khó khăn nhất là phòng thủ trước tên lửa đạn đạo." Đối với Ukraine, thực trạng này một lần nữa cho thấy sự thiếu hụt trầm trọng các hệ thống phòng không hiện đại của phương Tây và tên lửa đánh chặn đắt tiền dành cho chúng.
Tờ Japan Times đưa tin, cuộc oanh tạc dữ dội của Nga vào Kyiv cuối tuần qua, thắp sáng bầu trời đêm, tạo ra những tiếng nổ long trời lở đất vang vọng khắp thủ đô của Ukraine và khiến hơn hai chục người thiệt mạng, đã cho thấy một sự mâu thuẫn rõ rệt trong cấu trúc phòng không của nước này.
Ukraine - quốc gia đã trải qua hơn bốn năm xung đột - đang trở thành hình mẫu của một số lực lượng quân sự hùng mạnh nhất thế giới trong việc chống lại máy bay không người lái tầm xa.
Nhưng đồng thời, Ukraine lại đặc biệt dễ bị tổn thương trước tên lửa của Nga, và hầu như hoàn toàn phụ thuộc vào các đồng minh phương Tây để chống lại chúng.

Một thành viên của phái đoàn ngoại giao tại Ukraine đến thăm hiện trường một tòa nhà chung cư vào ngày 15/5, nơi 24 người đã thiệt mạng trong vụ tấn công tên lửa của Nga vào Kyiv một ngày trước đó. Ảnh: Reuters
Nga đã phóng 675 máy bay không người lái (UAV) và 56 tên lửa trong cuộc oanh tạc kéo dài 7 giờ, phá hủy một khu chung cư ở Kyiv và khiến 24 người thiệt mạng.
Hệ thống phòng không nội địa của Ukraine (bao gồm các hệ thống gây nhiễu điện tử, pháo phòng không, trực thăng và máy bay phản lực, cùng các máy bay không người lái đánh chặn cỡ nhỏ) đã bắn hạ gần như tất cả, chỉ bỏ sót 22 UAV của Nga.
Nhưng 15 quả tên lửa đã lọt qua.
Tên lửa đánh chặn ngày càng khó tìm
Đối với Ukraine, thực trạng này một lần nữa cho thấy sự thiếu hụt trầm trọng các hệ thống phòng không hiện đại của phương Tây và tên lửa đánh chặn đắt tiền dành cho chúng.
“Thiệt hại thực sự là do tên lửa gây ra, đặc biệt là ở Kyiv”, Sergii Beskrestnov - cố vấn của Bộ trưởng Quốc phòng Ukraine - cho biết sau vụ tấn công.
Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky đã ca ngợi lực lượng không quân nước mình vì đã bắn hạ 94% UAV Nga.
Nhưng ông thừa nhận: "Thử thách khó khăn nhất là phòng thủ trước tên lửa đạn đạo."
Ông Zelensky cũng nhắc lại lời kêu gọi các đồng minh hỗ trợ khẩn cấp, bao gồm cả thông qua chương trình PURL mà các đối tác của Kyiv mua vũ khí của Mỹ cho Ukraine.
Tuy nhiên, theo Japan Times, cuộc xung đột ở Trung Đông - trong đó các đồng minh của Mỹ đã tiêu tốn một lượng lớn tên lửa đánh chặn để bảo vệ các cơ sở vùng Vịnh - đã làm trầm trọng thêm tình trạng thiếu hụt mà Ukraine phải đối mặt kể từ khi xung đột với Nga bắt đầu.
Tên lửa đánh chặn dùng cho hệ thống phòng không Patriot do Mỹ sản xuất mà Ukraine đang sử dụng có giá khoảng 4 triệu USD/quả.
Mỹ chỉ sản xuất khoảng 600 quả/năm, và cần đến vài quả để bắn hạ một tên lửa đạn đạo.
Ông Zelensky cho biết các nước Trung Đông đã sử dụng 800 tên lửa đánh chặn PAC-3 để chống lại UAV và các loại vũ khí khác của Iran, đồng thời nói thêm rằng Ukraine chưa bao giờ có nhiều tên lửa đánh chặn như vậy trong suốt cuộc xung đột với Nga.
Một quan chức cấp cao Ukraine đã thẳng thắn nêu vấn đề về tên lửa đánh chặn cho các khẩu đội phòng không của nước này: "Chúng ngày càng khó tìm hơn."
Chỉ vài ngày trước khi Nga triển khai đợt tấn công mới nhất, Yuri Ignat - phát ngôn viên của Không quân Ukraine - đã nói với truyền thông nhà nước Ukraine rằng tên lửa đánh chặn đã được phân phối theo định mức do "vấn đề về nguồn cung".
“Các bệ phóng thuộc một số đơn vị và khẩu đội đang gần như cạn kiệt tên lửa – và đó là cách nói giảm nhẹ. Chúng chỉ còn một số lượng tên lửa hạn chế”, ông Ignat cho biết.
Ông nói thêm rằng lượng dự trữ tên lửa đánh chặn của Ukraine đã ở mức thấp sau chiến dịch tàn phá các cơ sở năng lượng của Ukraine do Nga tiến hành trong mùa đông vừa qua.
Ông Ignat còn cho biết, các đại diện của Không quân Ukraine đôi khi phải đàm phán với các đồng minh để đổi lấy từ 5 đến 10 tên lửa đánh chặn, chẳng hạn như tên lửa Patriot.

Hệ thống phòng không Ukraine bắn hạ một tên lửa Nga vào ngày 14/5. Ảnh: Reuters
Giải pháp từ Trung Đông
Japan Times đưa tin, cuộc xung đột ở Trung Đông cũng có thể mang đến một giải pháp cho Kyiv.
Thành công của Ukraine trong việc đối phó với UAV tấn công đã thu hút sự chú ý của các quốc gia vùng Vịnh giàu có - những nước đã bị nhắm mục tiêu bằng các loại UAV do Iran thiết kế.
Trong nhiều chuyến thăm Trung Đông, Tổng thống Ukraine Zelensky đã ký kết nhiều thỏa thuận phòng không với những quốc gia trong khu vực.
Các chi tiết chưa được tiết lộ, nhưng trước đó ông Zelensky đã đề xuất chia sẻ chuyên môn của Ukraine trong việc chống UAV để đổi lấy tên lửa đánh chặn Patriot hoặc đầu tư vào ngành công nghiệp quốc phòng Ukraine.
Lockheed Martin - nhà sản xuất tên lửa PAC-3 Patriot có trụ sở tại Mỹ - dự định tăng cường sản xuất trong 7 năm tới.
Về lâu dài, Ukraine cũng có thể mở rộng năng lực trong nước với sự giúp đỡ từ các đồng minh.
Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Jade McGlynn tại Khoa Nghiên cứu Chiến tranh thuộc Đại học King's College London, các lựa chọn để chống lại các cuộc tấn công mà Ukraine đang phải đối mặt hiện nay rất hạn chế.
"Thẳng thắn mà nói, tôi không thấy bất kỳ giải pháp hay cải thiện đáng kể nào khả thi trong ngắn hạn, ngoài việc chỉ cung cấp cho Ukraine nhiều hệ thống phòng không hiện có sẵn hơn so với Patriot", bà nói.
0 Replies | 8 Views |
May 18, 2026 - 4:17 PM - by vuitoichat
|
Xung đột eo biển Hormuz: Hàng loạt câu hỏi về sức mạnh hàng hải và chiến lược hải quân
New Tab ↗
Theo như trong một nền kinh tế toàn cầu hóa và liên kết chặt chẽ, hơn 90% trao đổi thương mại thế giới, tính theo trọng lượng, được thực hiện qua đường biển. Do đó, bất kỳ sự gián đoạn nào của hệ thống vận tải hàng hải đều có thể gây ra các hiệu ứng dây chuyền, ảnh hưởng đến tất cả mọi người từ chiến tranh Trung Đông và việc phong tỏa eo biển chiến lược Hormuz một lần nữa cho thấy tầm quan trọng sống còn của eo biển Hormuz.

Hàng không mẫu hạm Mỹ, USS Dwight D. Eisenhower, tại eo biển Hormuz ngày 26/11/2023. AP - Information Technician Second Class Ruskin Naval
Việc Iran đóng cửa eo biển Hormuz đã có tác động ngay lập tức đến giá nhiên liệu và giao thương phân bón hóa học. Trước cuộc khủng hoảng, khoảng 25% dầu mỏ và 30% phân bón được trao đổi trên toàn cầu đi qua eo biển này. Từ tháng 03/2026, chỉ một số ít tàu có thể đi qua tuyến đường này, trong khi trước đây trung bình có 129 tàu mỗi ngày. Tác động về kinh tế và đối với con người được dự báo là rất lớn.
Việc đóng cửa hoàn toàn Hormuz đã có thể dự đoán trước, vậy mà hải quân Mỹ - lực lượng thống trị các đại dương từ sau Đệ nhị Thế chiến - không thể mở lại một eo biển do một đối thủ kiểm soát, dù hải quân và không quân của đối thủ Iran phần lớn đã bị phá hủy. Đối với sử gia Ian Speller, thành viên của hội học thuật lịch sử Royal Historical Society, cũng là giám đốc Trung tâm Lịch sử Quân sự và Nghiên cứu Chiến lược tại Maynooth University của Ireland, thực trạng này đặt ra hàng loạt câu hỏi. Và cuộc khủng hoảng Hormuz đã minh họa rất rõ câu châm ngôn « trước khi hành động phải có chiến lược ».
Sức mạnh hàng hải có giá trị thế nào đối với các nước ?
Sử gia Ian Speller nhắc lại là có rất nhiều công trình khoa học nghiên cứu về chiến lược hàng hải, vốn được xem là thuộc lĩnh vực chiến lược quốc gia, nghiên cứu những nguyên tắc áp dụng trong các tình huống mà biển đóng vai trò quyết định.
Dù mỗi nhà bình luận có cách tiếp cận khác nhau, nhưng tất cả đều đồng thuận rằng trong lịch sử, quyền thống trị trên biển là nền tảng không thể thiếu của sức mạnh quốc gia : biển có chức năng kép, vừa là một phương tiện thiết yếu của thương mại quốc tế, vừa là không gian nơi các lực lượng quân sự di chuyển trong các chiến dịch.
Khả năng sử dụng không gian, tức là kiểm soát biển, và tước đoạt quyền sử dụng đó của kẻ thù, tức là ngăn chặn đối thủ tiếp cận biển, từ hàng ngàn năm nay đã là một bộ phận cấu thành chiến lược quân sự hoàn chỉnh. Ví dụ, nhờ sức mạnh hàng hải và khả năng triển khai lực lượng hướng tới bờ biển của một quốc gia khác mà Vương quốc Anh đồng thời có thể làm giàu thông qua thương mại và làm nghèo các đối thủ bằng các cuộc phong tỏa. Nói cách khác lực lượng hải quân Anh tấn công các bờ biển ấy, đồng thời ngăn cản đối phương làm điều tương tự với mình.
Nhưng sẽ là vô ích nếu lao vào một cuộc đối đầu hải quân với một kẻ thù mà mình không thể đánh bại ?
Đúng như vậy. Cũng vì thế là các nước thường nỗ lực làm suy yếu đối phương bằng cách nhắm vào một điểm yếu mang tính phổ quát : sự phụ thuộc vào thương mại hàng hải. Những cuộc tấn công đơn lẻ nhằm vào hạm đội thương mại là cách tiếp cận được Pháp, Hoa Kỳ rồi Đức ưu tiên áp dụng trong các cuộc chiến chống lại Vương quốc Anh vào các thế kỷ 18-20. Nhưng kết quả, thường là Anh giành chiến thắng, khiến các nhà chiến lược hàng hải truyền thống cho rằng giải pháp phong tỏa sẽ phù hợp hơn khi phải đối đầu hải quân với một kẻ thù mạnh hơn.
Tuy nhiên, chuyên gia Ian Speller nhấn mạnh là khi đối phó với một cường quốc hàng hải thống trị, phong tỏa cũng là lựa chọn phi thực tế. Vì vậy, mới xuất hiện chiến lược làm gián đoạn thương mại hàng hải, kể cả với hoạt động thương mại của các nước trung lập và không tham chiến. Chiến lược làm gián đoạn thương mại hàng hải đã được sử dụng suốt nhiều thế kỷ và đã chứng tỏ là một phương tiện chắc chắn gây tổn hại cho kẻ thù.
Nói một cách khái quát, theo sử gia Ian Speller, các quốc gia sở hữu lực lượng hải quân yếu thường có xu hướng tập trung vào phòng thủ ven biển nhằm giữ các đối thủ mạnh ở cách xa bờ biển của mình. Điều này đòi hỏi phải kết hợp các thành phần thuộc lực lượng hải quân với lực lượng trên bộ (pháo binh, pháo đài, lực lượng dự bị cơ động). Sự phát triển của thủy lôi và ngư lôi vào thế kỷ XIX, rồi đến máy bay và sau này là tên lửa chống hạm trong thế kỷ XX, đã tạo cho các lực lượng hải quân quy mô nhỏ một khả năng gây thiệt hại đáng kể, đặc biệt tại các vùng biển ven bờ.
Ví dụ tiêu biểu là Thổ Nhĩ Kỳ đã bảo vệ thành công eo biển Dardanelles năm 1915 khi đối mặt với hạm đội Anh-Pháp. Gần đây hơn, Ukraina đã cho thấy khả năng gây ra những tổn thất đáng kể cho hạm đội Nga ở Hắc Hải, thậm chí đã gần như vô hiệu hóa đối phương, bằng cách sử dụng tên lửa và drone có thiết bị dẫn đường nhờ thông tin tình báo. Trong cả hai trường hợp nói trên, lực lượng hải quân Anh - Pháp - Nga, đều được xem là hùng mạnh, đã bị các đối thủ yếu hơn, là Thổ Nhĩ Kỳ và Ukraina, đánh bại với đòn đáp trả bất đối xứng.
Trở lại trường hợp eo biển Hormuz, do tàu thuyền không có tuyến đường biển nào khác đi vòng, Iran càng có cơ hội tấn công quyền tự do lưu thông hàng hải ?
Theo tác giả bài viết, có nhiều khả năng Iran sẽ lấy cảm hứng từ những tư tưởng của Liên Xô trong các thập niên 1920 - 1930, hoặc của hải quân Trung Quốc những năm 1950 - 1960, xây dựng chiến lược dựa trên việc phát triển một hệ thống phòng thủ nhiều tầng, chìa khóa để bảo vệ bờ biển đối phó với các lực lượng hải quân mạnh hơn. Teheran cũng sẽ khai thác yếu tố địa lý địa phương, vốn cho phép Iran phong tỏa một eo biển chiến lược bằng cách sử dụng tập hợp các phương tiện quân sự hàng hải phi truyền thống.
Nói cách khác, đối với những quốc gia có lực lượng hải quân khiêm tốn, việc kiểm soát cục bộ trên biển là lựa chọn hợp lý nhất khi phải đối mặt với các đối thủ mạnh hơn. Và nếu họ nằm gần một nút thắt hàng hải chiến lược, thì các lựa chọn gần như đã quá rõ ràng. Tính dễ tổn thương của thương mại toàn cầu do các quyết định của Iran trong khu vực này có thể giải thích tại sao các chính quyền Mỹ trước đây dè dặt trong việc dấn thân vào những cuộc phiêu lưu quân sự không cần thiết chống lại một đối thủ như Iran.
Chiến lược phản phong tỏa dưới thời Trump ra sao ?
Hoàn toàn có thể hiểu sự dè dặt của Hoa Kỳ trong việc triển khai phương tiện hải quân tại eo biển Hormuz, trong khi các lực lượng thù địch kiểm soát bờ phía bắc. Sự thận trọng của các đồng minh của Mỹ khi phải can thiệp và làm điều mà chính Hoa Kỳ còn từ chối thực hiện cũng rất dễ hiểu. Phương án đổ bộ lực lượng mặt đất để bảo đảm an ninh cho eo biển từ phía bờ biển Iran là một lựa chọn hoàn toàn khó chấp nhận, xét đến quy mô lực lượng cần thiết, khả năng vấp phải sự kháng cự trên bộ của Iran, cũng như thái độ ác cảm công khai của tổng thống Donald Trump về việc khởi động một « cuộc chiến dài bất tận » mới ở Trung Đông.
Trong thập niên 1980, phản ứng đối với việc Iran rải thủy lôi trong khu vực này là huy động tàu chiến Mỹ, châu Âu và Liên Xô để hộ tống các tàu hàng, đồng thời triển khai một chiến dịch quốc tế quy mô lớn để rà phá thủy lôi, đi kèm với các đòn không kích trừng phạt của Mỹ nhằm mục đích răn đe. Chuyên gia Ian Speller nhận định cách tiếp cận đó phù hợp với bối cảnh thời bấy giờ, tức bối cảnh « vùng xám », thì ngày nay trong bối cảnh chiến tranh công khai với Iran, nó ít còn phù hợp. Iran đã cho thấy rằng hiện nay họ có rất ít lý do để phải tỏ ra thận trọng, và giới lãnh đạo Teheran đã chứng minh quyết tâm chấp nhận cái giá của các cuộc oanh kích quy mô lớn.
Theo hướng đó, một cuộc phong tỏa của Mỹ, nhằm buộc Iran phải chia sẻ gánh nặng từ sự gián đoạn thương mại quốc tế này, có thể trở thành một nước cờ hiệu quả. Lựa chọn chiến lược này thực sự cho phép tránh đặt các tài sản chiến lược quan trọng vào tình thế nguy hiểm, bởi các con tàu có thể bị chặn bắt ở bất kỳ giai đoạn nào trên hành trình đến hoặc rời khỏi Iran. Tuy nhiên, vẫn còn phải chờ xem liệu sức ép đó có đủ để buộc Teheran phải nhượng bộ hay không, bởi vì giới lãnh đạo Iran có thể cho rằng họ đang nắm giữ lợi thế đàm phán lớn hơn để đối phó với Hoa Kỳ, do cuộc phong tỏa lẫn nhau gây ra những tác động rộng lớn hơn đối với kinh tế toàn cầu.
Sức mạnh hải quân của Hoa Kỳ đã tạo điều kiện cho một cuộc tấn công quy mô lớn nhằm vào Iran và cho phép thiết lập một cuộc phong tỏa có thể thực sự gây tác động mạnh đến nền kinh tế Iran trong những tuần và tháng sắp tới. Tuy nhiên, bất chấp sự tàn phá do chiến dịch không kích mà Mỹ - Israel gây ra, việc Iran đóng cửa eo biển Hormuz vẫn là điều vừa dễ dự đoán vừa có sức gây rối loạn cực kỳ lớn. Chính vì vậy, đối với chuyên gia Ian Speller, thật đáng ngạc nhiên khi Hoa Kỳ dường như đã không chuẩn bị cho kịch bản này.
Cuộc tấn công của Mỹ và Israel đã biến chiến dịch quân sự thành một cuộc đối đầu trước hết là về hải quân, trong khi ban đầu chủ yếu xoay quanh các cuộc không kích. Biến chuyển của cuộc xung đột đã mang lại cho Washington một bài học cay đắng. Việc không thể giành được chiến thắng nhanh chóng đã phơi bày những giới hạn của sức mạnh Mỹ, và hiện nay Lầu Năm Góc vẫn đang phải đối mặt với một thách thức chưa có lời giải đáp.
Dù còn quá sớm để dự đoán kết cục thực sự của cuộc xung đột, nhưng ngay từ bây giờ chúng ta đã có thể rút ra một số bài học ?
Bài học đầu tiên và hiển nhiên nhất, đối với sử gia Ian Speller, là sự cần thiết của việc phải có một kế hoạch xác đáng trước khi sử dụng vũ lực. Quyền bá chủ trên biển và trên không chỉ có giá trị nếu nó cho phép đạt được một lợi thế bền vững sau khi chiến sự kết thúc.
Thứ hai, như các cuộc đối đầu gần đây cho thấy, một nước hoàn toàn có thể thua một cuộc chiến trên biển ngay cả khi hạm đội đối phương đã bị tiêu diệt trong một chiến dịch cực kỳ bất đối xứng : đối thủ đó có thể có trong tay những phương tiện khác để gây sức ép hoặc vô hiệu hóa ưu thế của đối phương. Điều này có nghĩa là Iran hoàn toàn có thể trở thành bên chiến thắng trong cuộc chiến hải quân này.
Và cuối cùng, tự do hàng hải vẫn giữ một tầm quan trọng mang tính nền tảng để hiểu được chiến lược hàng hải. Đó là một quyền tự do có thể sẽ bị thách thức và có thể sẽ cần được bảo vệ. Vì thế, hải quân sẽ tiếp tục đóng vai trò quyết định trong các lực lượng tác chiến liên quân, nhưng các lực lượng đó chỉ thực sự hiệu quả nếu được triển khai để phục vụ một chiến lược phù hợp và thực tế.
0 Replies | 10 Views |
May 18, 2026 - 4:08 PM - by vuitoichat
|
Donald Trump đã mắc bẫy Tập Cận Bình?
New Tab ↗
Theo như tổng thống Donald Trump mới đây đã vượt qua một lằn ranh đỏ trong chính sách đối ngoại của Mỹ trong gần 50 năm, sau khi ông Donald Trump lại xem xét khả năng sử dụng việc bán vũ khí cho Đài Loan như một “con bài mặc cả” trong quan hệ Mỹ-Trung, khiến có thể ông Donald Trump đã mắc bẫy chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình .

Tổng thống Mỹ Donald Trump tại Đại lễ đường Nhân dân, Bắc Kinh, Trung Quốc, ngày 14/05/2026. AP - Mark Schiefelbein
Trên chiếc chuyên cơ Air Force One trở về Washington ngày 15/05/2026, sau 2 ngày họp thượng đỉnh với chủ tịch Tập Cận Bình ở Bắc Kinh, tổng thống Mỹ Donald Trump đã mô tả một chuyến thăm “tuyệt vời” và “lịch sử”. Thật ra, không có bất kỳ tuyên bố chung hay thỏa thuận cụ thể nào giữa hai nền kinh tế lớn nhất thế giới. Điều mà lãnh đạo Trung Quốc quan tâm hơn hết đó là lập trường của chủ nhân Nhà Trắng về Đài Loan.
Ngay trong cuộc gặp đầu tiên hôm 14/05, Tập Cận Bình đã thẳng thừng cảnh cáo Donald Trump rằng nếu vấn đề Đài Loan không được “xử lý đúng đắn”, hai cường quốc hàng đầu thế giới có thể đi đến “xung đột”. Với lời cảnh cáo này, lãnh đạo họ Tập dường như hy vọng sẽ thuyết phục được tổng thống Mỹ không phê duyệt hợp đồng bán vũ khí mới trị giá 14 tỷ đôla cho Đài Loan sau hợp đồng 11 tỷ đôla đã được Washington bật đèn xanh vào tháng 12 năm ngoái.
Về mặt công khai, tổng thống Trump đã không nhượng bộ bất cứ điều gì với “người bạn tốt” Tập Cận Bình trong hồ sơ Đài Loan. Thế nhưng, trả lời kênh truyền hình Fox News ngay trước khi rời Bắc Kinh hôm 15/05, nguyên thủ quốc gia Hoa Kỳ lại lên tiếng cảnh cáo Đài Loan là không nên tuyên bố độc lập. Khi được hỏi về việc bán vũ khí cho Đài Loan, Donald Trump đã hàm ý là ông vẫn chưa đưa ra quyết định. Ông nói: "Điều đó sẽ phụ thuộc vào Trung Quốc. Đó là một con bài mặc cả rất tốt đối với chúng ta."
Những tuyên bố nói trên đã gây phản ứng mạnh từ Đài Bắc. Hôm qua, tổng thống Lại Thanh Đức khẳng định an ninh của Đài Loan là “không thể được mặc cả”. Trong một thông cáo đăng trên mạng Facebook, ông Lại Thanh Đức nhấn mạnh: "Việc Mỹ tiếp tục bán vũ khí cho Đài Loan, cùng với việc tăng cường hợp tác an ninh giữa Đài Loan và Hoa Kỳ, không chỉ cần thiết mà còn là những yếu tố then chốt để duy trì hòa bình và ổn định khu vực". Trước đó, hôm thứ bảy, chính phủ Đài Bắc cũng đã nhắc lại rằng cam kết của Hoa Kỳ bán vũ khí cho Đài Loan “đã được ghi rõ trong luật”.
Đúng là chiếu theo Đạo luật Quan hệ Đài Loan (Taiwan Relations Act), được Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua năm 1979 sau khi Hoa Kỳ chính thức công nhận Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Washington có nghĩa vụ cung cấp vũ khí phòng thủ cho Đài Bắc, với điều kiện hòn đảo này không tuyên bố độc lập. Kể từ năm 1982, một trong những nguyên tắc chính trong chiến lược của Hoa Kỳ là không “tham vấn” Bắc Kinh về các hợp đồng bán vũ khí cho Đài Loan.
Theo đúng nguyên tắc nói trên thì Donald Trump lẽ ra không cần thảo luận với Bắc Kinh về đợt giao vũ khí sắp tới cho Đài Loan. Thế nhưng, trên kênh truyền hình Fox News ông lại công khai bày tỏ ý định sử dụng việc bán vũ khí phòng thủ cho hòn đảo này như một lá bài mặc cả với Trung Quốc, bất chấp những cam kết chính thức của Washington với Đài Bắc.
Theo ghi nhận của nhật báo Pháp Le Monde, trước chuyến thăm Bắc Kinh của Donald Trump, nhiều nhà quan sát nghĩ rằng việc Trung Quốc yêu cầu Mỹ ngưng cung cấp vũ khí cho Đài Loan thực chất chỉ là một trò lừa bịp, bởi vì “phía Trung Quốc biết rất rõ rằng Mỹ có nghĩa vụ trang bị vũ khí cho Đài Loan để phòng thủ”. Nhưng bất kỳ nhà đàm phán giỏi nào cũng thường yêu cầu nhiều hơn những gì họ hy vọng đạt được và đó chính là điều mà Tập Cận Bình đã làm. Theo Le Monde, mọi dấu hiệu cho thấy rằng Donald Trump, người tự nhận là bậc thầy “nghệ thuật đàm phán”, thực sự đã mắc bẫy, chắc là do bị choáng ngợp bởi sự đón tiếp trọng thị mà lãnh đạo Trung Quốc đã dành cho ông.
0 Replies | 14 Views |
May 18, 2026 - 4:03 PM - by vuitoichat
|
NASA âm thầm quan sát Trái đất vào ban đêm, kết quả chỉ ra "nghịch lý" không ngờ tới, đặc biệt ở châu Âu
New Tab ↗
Các nhà nghiên cứu của NASA đã công bố những bản đồ toàn cầu mới cho thấy sự thay đổi của ánh sáng nhân tạo trên khắp Trái đất trong gần một thập kỷ qua, hé lộ một hành tinh được định hình bởi sự mở rộng đô thị, khủng hoảng năng lượng, tăng trưởng công nghiệp và các chính sách môi trường thay đổi.
Các bản đồ này được tạo ra bằng cách sử dụng dữ liệu từ Chương trình Black Marble của NASA, chương trình thu thập hình ảnh chi tiết về Trái đất vào ban đêm bằng các cảm biến vệ tinh hoạt động trong điều kiện ánh sáng yếu. Những chuyên gia đã phân tích các quan sát được thu thập từ năm 2014 đến năm 2022 và nhận thấy rằng các mô hình chiếu sáng toàn cầu năng động hơn nhiều so với dự kiến, với các khu vực liên tục sáng lên và tối đi theo thời gian, theo trang chính thức của Chương trình Black Marble.
Khi màn đêm phơi bày dòng chảy kinh tế toàn cầu
Nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí danh tiếng Nature đã phân tích dữ liệu ánh sáng nhân tạo ban đêm trong giai đoạn từ năm 2014 đến 2022. Bằng cách sử dụng cảm biến VIIRS tiên tiến trên ba vệ tinh (Suomi-NPP, NOAA-20 và NOAA-21), các nhà khoa học có thể đo lường bước sóng ánh sáng từ màu xanh lục đến cận hồng ngoại, đồng thời loại bỏ các nhiễu động tự nhiên như ánh trăng hay ánh cực quang.
Kết quả cho thấy, bức xạ ánh sáng toàn cầu đã tăng khoảng 34%, phản ánh tốc độ đô thị hóa mạnh mẽ của nhân loại. Tuy nhiên, mức tăng này phân bổ không hề đồng đều. Trên bản đồ trực quan của NASA, các vùng màu vàng và vàng kim đại diện cho những khu vực ngày càng sáng hơn, trong khi các vùng màu tím biểu thị xu hướng mờ đi.
Sự tương phản rõ rệt nhất diễn ra tại châu Á. Các quốc gia như Trung Quốc và khu vực phía Bắc Ấn Độ ghi nhận mức tăng trưởng ánh sáng đột biến. Đây là những nơi chứng kiến tốc độ mở rộng đô thị, xây dựng khu công nghiệp và mạng lưới giao thông với tốc độ chóng mặt. Những vùng đất vốn tối tăm mười năm trước giờ đây đã biến thành những hành lang đô thị rực rỡ, có thể nhìn thấy rõ ràng từ quỹ đạo Trái Đất.
Nghịch lý ánh sáng tại các quốc gia phát triển
Trong khi các nền kinh tế mới nổi đang thắp sáng màn đêm, xu hướng ngược lại lại diễn ra tại các khu vực phát triển như Bắc Mỹ và Tây Âu. Dữ liệu của NASA ghi nhận hiện tượng giảm độ sáng (chiếm khoảng 18% tổng thể) diễn ra song song, tạo nên một bức tranh dịch chuyển công nghệ sâu sắc.
Tại Mỹ, một nghịch lý thú vị đã được phơi bày: trong khi các thành phố bờ Tây ngày càng rực rỡ do gia tăng dân số, thì những vùng rộng lớn ở bờ Đông lại mờ đi trông thấy. Các nhà nghiên cứu khẳng định, sự sụt giảm ánh sáng này không đồng nghĩa với suy thoái, mà là minh chứng cho việc chuyển đổi sang công nghệ đèn LED tiết kiệm năng lượng. Đèn LED hiện đại tập trung ánh sáng xuống mặt đất hiệu quả hơn và giảm thiểu lượng ánh sáng thừa hắt ngược lên không gian mà các vệ tinh có thể thu nhận.
Tương tự, tại châu Âu, xu hướng "tối hóa" diễn ra một cách chủ động nhờ các chính sách môi trường. Giai đoạn nghiên cứu ghi nhận độ sáng ban đêm của Pháp giảm mạnh tới 33%, trong khi Vương quốc Anh giảm 22% và Hà Lan giảm 21%. Đây là kết quả trực tiếp từ nỗ lực cắt giảm ô nhiễm ánh sáng và tối ưu hóa hệ thống chiếu sáng công cộng của chính phủ các nước này.
Dự án "Black Marble" của NASA đã chứng minh rằng ánh sáng ban đêm không đơn thuần là biểu tượng của nền văn minh hiện đại, mà là tấm gương phản chiếu chân thực nhất mọi quyết định của con người. Từ những tòa nhà chọc trời mới mọc lên cho đến những thành phố chủ động tắt đèn để bảo vệ môi trường, mỗi sự thay đổi dù là nhỏ nhất đều đang để lại một dấu ấn không thể phai mờ khi nhìn từ vũ trụ.
Nghiên cứu này cũng đặt ra những câu hỏi về môi trường và sinh thái. Ánh sáng nhân tạo vào ban đêm từ lâu đã được cho là làm tăng tiêu thụ năng lượng, gây xáo trộn hành vi của động vật hoang dã và ảnh hưởng đến nhịp sinh học của con người. Bằng cách theo dõi nơi cường độ ánh sáng tăng hoặc giảm, các nhà nghiên cứu hy vọng sẽ hiểu rõ hơn về những tác động lâu dài của quá trình đô thị hóa và chuyển đổi năng lượng đối với cả hệ sinh thái và xã hội.
1 Reply | 47 Views |
May 18, 2026 - 3:42 PM - by Cupcake01
|
Nga phá vỡ "vùng mù" trong hợp kim ngành hàng không, làm được điều khoa học bó tay bấy lâu
New Tab ↗
Cánh quạt trong động cơ máy bay (làm bằng hợp kim titan ВТ6) sau khi gia công hoặc vận hành lâu dài sẽ tích tụ bên trong những "ứng suất ngầm" — gọi là ứng suất dư.
Đây là những lực nén/kéo ẩn bên trong vật liệu, mắt thường không thấy được, nhưng nếu không kiểm soát được chúng thì cánh quạt dễ bị nứt gãy sau nhiều chu kỳ hoạt động.
Vấn đề là đo được những ứng suất này rất khó. Phương pháp truyền thống chỉ đo ở cấp độ milimet (quá thô), còn phương pháp hiện đại hơn thì chỉ đo ở cấp độ vài micromet (quá nhỏ).
Hãng TASS ngày 15/5/2026 trích lời các nhà khoa học cho biết, khoảng giữa - từ 0,05 milimet đến 0,5 milimet - lâu nay là "vùng mù", khó tiếp cận để nghiên cứu cho đến khi Viện Skoltech (Nga) đưa ra giải pháp đột phá: Dùng hai loại ion (gali + xenon) lồng nhau, lần đầu tiên đo được toàn bộ khoảng trống này. "Vùng mù" bị phá vỡ, theo .
Giải pháp của người Nga
Các nhà khoa học từ Viện Khoa học và Công nghệ Skoltech, do Giáo sư Alexander Korsunsky dẫn đầu, dùng hai loại ion khác nhau - gali và xenon - bắn vào bề mặt vật liệu theo hình vành khuyên đồng tâm, tạo ra cấu trúc giống như búp bê Matryoshka lồng vào nhau.
Khi ion bắn vào và "khoét" đi một lớp vật liệu, vật liệu xung quanh sẽ giãn ra hoặc co lại, và từ mức độ biến dạng đó, máy tính sẽ tính ngược ra được ứng suất dư bên trong.
Các tác giả tin rằng công nghệ được phát triển sẽ giúp cải thiện độ tin cậy và tuổi thọ của các bộ phận động cơ máy bay, đồng thời cũng sẽ được ứng dụng trong thiết bị y sinh, vi điện tử và sản xuất bồi đắp.
Tại sao cần hai loại ion?
Mỗi loại ion "nhìn" vật liệu ở một tỷ lệ khác nhau:
Ion xenon (to hơn) đo ở vùng rộng sẽ cho bức tranh tổng thể, bỏ qua chi tiết nhỏ Ion gali (nhỏ hơn) vốn dùng để đo ở vùng hẹp và phát hiện biến động cục bộ theo từng hạt tinh thể.
Khi kết hợp cả hai, nhà khoa học có thể tự chọn độ phân giải muốn đo. Điều này giống như có cả kính viễn vọng lẫn kính hiển vi trong tay.
Khi các nhà khoa học đo được ứng suất dư chính xác hơn, họ sẽ hiểu rõ hơn vật liệu đang chịu lực như thế nào. Từ đó tạo thiết kế và kiểm tra cánh quạt động cơ an toàn hơn, bền hơn, giảm nguy cơ sự cố trong quá trình bay.
0 Replies | 15 Views |
May 18, 2026 - 3:41 PM - by Cupcake01
|
Cú bắt tay Mỹ - Trung có ‘đổi vận’ kinh tế toàn cầu?
New Tab ↗
Cuộc gặp giữa Tổng thống Donald Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình không chỉ thu hút sự chú ý bởi ý nghĩa ngoại giao giữa hai siêu cường, mà còn phản ánh những chuyển động sâu sắc của trật tự kinh tế toàn cầu sau gần một thập kỷ biến động.
Trả lời phỏng vấn VTC News, TS Bùi Ngọc Sơn - Chuyên gia Kinh tế, Viện Nghiên cứu Chiến lược Kinh tế (IESS) - phân tích sâu hơn những chuyển động đáng chú ý phía sau cuộc gặp lần này.
Thế giới đang đứng trước ngã rẽ mới
- Thưa ông, trong cuộc gặp Thượng đỉnh Mỹ - Trung vừa qua, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cho rằng thế giới đang đứng trước “một ngã rẽ mới”. Theo ông, phát biểu này phản ánh điều gì về trật tự kinh tế và địa chính trị hiện nay?
Thực ra, nếu nhìn lại từ năm 2017 thì thế giới đã bước vào một “ngã rẽ” rồi. Nhưng đến thời điểm hiện nay, những biến động ấy đang bước sang một giai đoạn mới với mức độ phức tạp lớn hơn nhiều.
Những căng thẳng địa chính trị trải dài từ châu Mỹ, Trung Đông cho tới châu Á cho thấy thế giới đang đứng trước hai khả năng: Tiếp tục đi sâu vào cạnh tranh, xung đột, hoặc tìm cách duy trì đối thoại để giữ ổn định.
Trong bối cảnh đó, phát biểu của ông Tập mang nhiều ý nghĩa ngoại giao. Thông điệp cốt lõi là quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc không còn chỉ là câu chuyện song phương, mà ảnh hưởng trực tiếp tới ổn định toàn cầu. Hai nền kinh tế lớn nhất thế giới đều hiểu rằng cách họ ứng xử với nhau sẽ tác động mạnh tới thương mại, tài chính, năng lượng và tâm lý thị trường quốc tế .
- Thế giới, đặc biệt là châu Á, đều dồn sự chú ý vào cuộc gặp lần này. Theo ông, khu vực này theo dõi cuộc gặp giữa Tổng thống Donald Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình trong tâm thế ra sao?
Tâm lý chung của châu Á là vừa lo ngại, vừa chờ đợi. Lo ngại bởi nếu bất đồng Mỹ - Trung tiếp tục leo thang, khu vực sẽ chịu tác động trực tiếp, từ thương mại, công nghệ cho tới vấn đề an ninh. Nhưng mặt khác, việc hai bên vẫn duy trì đối thoại cũng giúp các quốc gia phần nào cảm thấy “dễ thở” hơn.
Một trong những vấn đề được theo dõi sát nhất là Đài Loan. Nhiều bên lo ngại hòn đảo này có thể trở thành chủ đề mặc cả trong các cuộc thương lượng lớn giữa hai siêu cường. Tuy nhiên, tôi cho rằng các lo ngại hiện nay có phần đi xa hơn thực tế.
Điểm đáng chú ý là cả Washington lẫn Bắc Kinh đều phát đi tín hiệu muốn duy trì hợp tác ở mức cần thiết, tránh để cạnh tranh vượt khỏi tầm kiểm soát. Với nhiều nước châu Á, chỉ riêng việc hai bên tiếp tục nói chuyện với nhau cũng đã là một tín hiệu tích cực.
- Đông Nam Á là khu vực từng hưởng lợi từ làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng sau cạnh tranh Mỹ - Trung. Theo ông, khu vực này sẽ chịu tác động ra sao trong giai đoạn tới?
Từ năm 2018 đến nay, Đông Nam Á vẫn có cơ hội hưởng lợi nhờ sự dịch chuyển chuỗi cung ứng. Tuy nhiên, đi cùng cơ hội là áp lực lựa chọn chiến lược phát triển và đối tác công nghệ.
Ví dụ, trong lĩnh vực hạ tầng số và 5G, nhiều quốc gia từng rơi vào thế khó khi phải cân bằng giữa công nghệ từ Trung Quốc và yêu cầu an ninh từ phía Mỹ. Singapore là trường hợp điển hình. Khi nâng cấp hạ tầng viễn thông, nước này phải cân nhắc rất kỹ giữa yếu tố công nghệ, an ninh và quan hệ đối tác chiến lược.
Nếu căng thẳng Mỹ - Trung dịu bớt, các quốc gia trong khu vực sẽ có thêm dư địa để cân bằng lợi ích mà không phải chịu áp lực “chọn phe” quá mạnh như trước.
- Thưa ông việc hai bên thành lập cơ chế Hội đồng thương mại cùng thông điệp mở cửa từ Bắc Kinh cho thấy điều gì?
Theo tôi, mục tiêu lớn nhất là quản lý bất đồng trong các lĩnh vực thương mại và công nghệ mới. Nếu nhìn vào thành phần phái đoàn tham gia, có thể thấy trọng tâm chủ yếu vẫn là thương mại, công nghệ cao, AI, chip bán dẫn và chuỗi cung ứng.
Những lĩnh vực này hiện chưa có khung pháp lý hay tiêu chuẩn quốc tế thống nhất. Mỗi nước đều có quy định riêng, dẫn tới nhiều tranh chấp kỹ thuật. Vì vậy, hai bên cần một cơ chế để trao đổi, giảm va chạm và duy trì dòng chảy thương mại ở mức ổn định.
Cuộc gặp không tạo ra đột phá, mà nhằm giữ ổn định
- Theo ông, đâu là ý nghĩa thực sự của cuộc gặp Thượng đỉnh Mỹ - Trung lần này?
Nếu nhìn kỹ, đây chủ yếu vẫn là một cuộc gặp mang tính ổn định quan hệ trong ngắn hạn. Hai bên đều có lý do riêng để cần cuộc gặp này. Với Tổng thống Donald Trump, việc duy trì thương mại với Trung Quốc có ý nghĩa đối với tăng trưởng, việc làm và môi trường kinh tế trong nước.
Trong khi đó, Trung Quốc cũng đang phải xử lý nhiều thách thức nội tại về kinh tế và cần duy trì môi trường đối ngoại ổn định hơn.
Tuy nhiên, tôi không cho rằng cuộc gặp lần này tạo ra bước ngoặt lớn về thuế quan, thương mại hay luật chơi kinh tế toàn cầu. Nó giống như một thông điệp gửi tới thế giới rằng: giữa hai siêu cường vẫn tồn tại bất đồng lớn, nhưng cả hai đều muốn giữ ổn định và tránh để cạnh tranh vượt sang trạng thái đối đầu trực tiếp.
- Trung Quốc được cho là sẽ tăng mua nông sản, LNG và máy bay Boeing từ Mỹ. Theo ông, các cam kết này có đủ để thay đổi cán cân thương mại song phương?
Tôi cho rằng những thỏa thuận như vậy mang nhiều ý nghĩa biểu tượng hơn là tạo thay đổi thực chất. Trong quá khứ, hai bên từng có nhiều cam kết mua hàng rất lớn nhưng việc thực thi không hoàn toàn như kỳ vọng.
- Theo ông, đâu là khác biệt lớn nhất giữa bối cảnh kinh tế Mỹ - Trung hiện nay và giai đoạn 2017–2020?
Năm 2017, Mỹ bước vào cuộc cạnh tranh với tâm thế phải phản ứng trước sự trỗi dậy rất nhanh của Trung Quốc. Khi đó, khoảng cách quy mô kinh tế giữa hai nước đang thu hẹp nhanh, Trung Quốc mở rộng ảnh hưởng mạnh trên trường quốc tế và nhiều người tin Bắc Kinh có thể sớm vượt Mỹ.
Nhưng sau gần một thập kỷ, bối cảnh đã khác đáng kể. Mỹ hiện vẫn giữ lợi thế lớn về công nghệ lõi, thị trường tiêu dùng và năng lực sáng tạo. Trong khi đó, Trung Quốc đối mặt với nhiều sức ép từ bất động sản, việc làm, dòng vốn đầu tư và sự phân tán chuỗi cung ứng.
Cạnh tranh hiện nay không còn đơn thuần là thương mại, mà đã mở rộng sang công nghệ, dữ liệu, địa kinh tế và chuỗi cung ứng chiến lược. Hai nền kinh tế vẫn cần nhau, nhưng đồng thời cũng đang chủ động xây dựng các “vùng an toàn” để giảm phụ thuộc lẫn nhau trong những lĩnh vực cốt lõi.
Thế khó trong câu chuyện Iran
- Thưa ông, cuộc gặp thượng đỉnh lần này diễn ra trong bối cảnh vấn đề Iran và eo biển Hormuz phủ bóng lên tình hình quốc tế. Có ý kiến cho rằng Washington đang kỳ vọng Bắc Kinh đóng vai trò lớn hơn trong hồ sơ Iran. Ông nhìn nhận điều này thế nào?
Điều cần thấy là trong câu chuyện Hormuz, bên chịu tác động trực tiếp và lớn hơn lại chính là Trung Quốc chứ không phải Mỹ. Phần lớn nguồn dầu từ Iran hiện nay hướng về thị trường Trung Quốc, trong khi một tỷ trọng rất lớn nhu cầu năng lượng của Bắc Kinh cũng phụ thuộc vào tuyến vận tải đi qua khu vực này.
Cú bắt tay Mỹ - Trung có ‘đổi vận’ kinh tế toàn cầu?
Vì vậy, khi phía Mỹ nhắc tới vai trò của Trung Quốc trong vấn đề Iran, điều đó không hẳn mang nghĩa “nhờ cậy”, mà đúng hơn là một cách nhấn mạnh rằng Bắc Kinh cũng có lợi ích rất lớn cần phải bảo vệ. Nếu tình hình kéo dài hoặc leo thang, áp lực lên kinh tế Trung Quốc sẽ rất đáng kể.
Tuy nhiên, cả Washington lẫn Bắc Kinh đều hiểu rằng ảnh hưởng của Trung Quốc với Iran cũng có giới hạn nhất định. Những vấn đề liên quan tới an ninh hay hạt nhân là các hồ sơ rất phức tạp và không dễ để bất kỳ bên nào có thể tác động hoàn toàn theo mong muốn của mình.
- Như vậy, có thể hiểu rằng Mỹ và Trung Quốc đang nhìn vấn đề Hormuz từ hai góc độ lợi ích khác nhau?
Đúng vậy. Với Trung Quốc, đây trước hết là bài toán kinh tế và an ninh năng lượng. Bắc Kinh cần sự ổn định của tuyến vận tải này để bảo đảm nguồn cung dầu phục vụ sản xuất và tăng trưởng trong dài hạn.
Trong khi đó, với Mỹ, tác động trực tiếp về năng lượng không lớn như trước đây, nhưng giá dầu tăng lại gây áp lực lên lạm phát và môi trường kinh tế trong nước. Vì thế, Washington vẫn có lợi ích rất rõ trong việc duy trì ổn định tại khu vực Vùng Vịnh.
Nếu tình trạng bất ổn kéo dài, giá năng lượng tăng cao sẽ ảnh hưởng tới các chương trình kinh tế cũng như tâm lý thị trường. Đó là lý do cả hai bên đều theo dõi rất sát diễn biến tại Hormuz, dù động cơ và mức độ phụ thuộc là khác nhau.
Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình mời Tổng thống Trump thăm Trung Nam Hải.
- Có ý kiến cho rằng những trao đổi liên quan tới Iran cho thấy Mỹ và Trung Quốc bắt đầu chia sẻ trách nhiệm tại các điểm nóng toàn cầu. Ông đánh giá thế nào?
Tôi cho rằng hiện nay chưa thể gọi đó là “chia sẻ trách nhiệm”. Quan hệ giữa hai nước vẫn chủ yếu là cạnh tranh và kiềm chế lẫn nhau. Chỉ là trong một số hồ sơ, lợi ích của họ có điểm giao nên buộc phải trao đổi hoặc tham vấn.
Ở Trung Đông, Mỹ hiện vẫn có lợi thế lớn về an ninh, quân sự và mạng lưới đối tác trong khu vực. Trong khi đó, Trung Quốc mạnh về thương mại, đầu tư và nhu cầu năng lượng, nhưng vai trò an ninh vẫn hạn chế hơn nhiều.
Do đó, đây chưa phải là câu chuyện hai siêu cường cùng quản trị khu vực, mà đúng hơn là mỗi bên đều đang tìm cách bảo vệ lợi ích riêng của mình trong một môi trường địa chính trị ngày càng phức tạp.
- Theo ông, vai trò của Trung Quốc tại Trung Đông sẽ thay đổi như thế nào trong thời gian tới?
Bắc Kinh chắc chắn vẫn muốn duy trì và mở rộng ảnh hưởng tại Trung Đông, bởi đây là khu vực có ý nghĩa chiến lược cả về năng lượng lẫn thương mại. Tuy nhiên, môi trường hiện nay đã khác rất nhiều so với trước.
Các quốc gia Trung Đông giờ đây không chỉ quan tâm tới đầu tư hay thương mại, mà còn đặc biệt chú ý tới công nghệ, dữ liệu, quốc phòng và các hệ sinh thái công nghệ cao. Trong nhiều lĩnh vực then chốt như AI, chip hay trung tâm dữ liệu, ảnh hưởng của Mỹ vẫn đang chiếm ưu thế rất lớn.
Điều đó khiến không gian ảnh hưởng của Trung Quốc tại khu vực trở nên khó khăn hơn. Nếu Mỹ tiếp tục củng cố được vị thế tại Trung Đông và xử lý được các điểm nóng lớn trong khu vực, vai trò chiến lược của Bắc Kinh chắc chắn sẽ chịu thêm áp lực.
0 Replies | 11 Views |
May 18, 2026 - 3:40 PM - by Cupcake01
|
Một chuỗi nhà thuốc lớn vừa xin phá sản 2 lần chỉ trong 7 tháng, 50% cửa hàng ‘bốc hơi’ vì quá khó khăn
New Tab ↗
Chỉ vỏn vẹn bảy tháng sau khi hoàn tất thủ tục bảo hộ phá sản để trở thành một công ty tư nhân, Rite Aid - một trong những chuỗi nhà thuốc lớn nhất nước Mỹ - lại một lần nữa nộp đơn xin bảo hộ phá sản theo Chương 11 và ráo riết tìm kiếm người mua lại.
Rite Aid thừa nhận những khó khăn tài chính chồng chất đã buộc hãng phải tái viện dẫn Chương 11 của Luật Phá sản Mỹ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình chuyển nhượng. Dẫu vậy, chuỗi nhà thuốc khẳng định sẽ duy trì hoạt động của các cửa hàng trong suốt giai đoạn này.
“Dù liên tục đối mặt với các thách thức tài chính bởi sự thay đổi chóng mặt của thị trường bán lẻ và y tế, chúng tôi vẫn được tiếp thêm động lực khi nhận được sự quan tâm sâu sắc từ nhiều đối tác chiến lược trong khu vực và toàn quốc”, ông Matt Schroeder, CEO của Rite Aid, cho biết. “Ưu tiên cốt lõi của chúng tôi hiện nay là đảm bảo dịch vụ dược phẩm cho khách hàng không bị gián đoạn và giữ vững việc làm cho nhiều nhân viên nhất có thể”.
Kết cục được dự báo trước
Rite Aid nộp đơn phá sản lần đầu tiên vào tháng 10/2023, trở thành nạn nhân trong một giai đoạn đầy khắc nghiệt của ngành bán lẻ dược phẩm. Vị thế lép vế trước các đối thủ lớn cùng những cuộc chiến pháp lý đắt đỏ liên quan đến cáo buộc phân phối thuốc giảm đau opioid bất hợp pháp đã đẩy khối nợ của hãng lên tới gần 4 tỷ USD.
Phải mất gần một năm ròng rã, Rite Aid mới thoát khỏi Chương 11 vào tháng 9/2024 nhờ cắt giảm được 2 tỷ USD nợ vay, huy động thành công 2.500 tỷ USD vốn hoạt động và chấp nhận đóng cửa khoảng 500 chi nhánh. Để duy trì sự sống trong lần tái phá sản này, Rite Aid cho biết họ đã ký kết được khoản tài trợ mới trị giá gần 2 tỷ USD.
Hiện tại, Rite Aid là chuỗi nhà thuốc độc lập lớn thứ ba tại Mỹ xét về mạng lưới phân phối (và đứng thứ bảy toàn ngành nếu tính cả các quầy thuốc trong các siêu thị lớn). Hãng chỉ còn lại khoảng 1.250 cửa hàng, tức là đã bốc hơi một nửa quy mô so với hai năm trước.
Sai lầm chiến lược từ quá khứ
Nhìn lại quá khứ, Rite Aid từng có cơ hội lật ngược thế cờ vào năm 2015 khi đối thủ lớn hơn là Walgreens đề xuất mua lại toàn bộ chuỗi với giá 17 tỷ USD. Tuy nhiên, thương vụ đã vấp phải sự giám sát gắt gao từ các cơ quan quản lý Mỹ vì lo ngại vi phạm luật chống độc quyền và làm giảm tính cạnh tranh trên thị trường.
Đến năm 2017, hai bên buộc phải chấp nhận một thỏa thuận thu hẹp trị giá 4,4 tỷ USD, theo đó Walgreens chỉ mua lại gần 2.000 chi nhánh của Rite Aid. Kết quả là Rite Aid bị thu hẹp đáng kể về tầm vóc và hoàn toàn mất đi khả năng cạnh tranh sòng phẳng về mặt quy mô với các đối thủ sừng sỏ.
Ông Neil Saunders, Giám đốc điều hành công ty phân tích dữ liệu GlobalData, cho biết ông không hề bất ngờ trước việc Rite Aid phá sản lần hai, bởi chuỗi này thậm chí không còn đủ khả năng tài chính để nhập hàng hóa lấp đầy các kệ trống.
“Lần phá sản đầu tiên chẳng giải quyết được tận gốc các vấn đề của Rite Aid. Họ đã đứng mấp mé bên bờ vực sinh tồn suốt một thời gian dài rồi”, ông Saunders nhận định. Trong bối cảnh Walgreens không còn mặn mà mua đứt Rite Aid, kịch bản khả dĩ nhất hiện tại là các chuỗi bán lẻ khác sẽ nhảy vào nhặt nhạnh, mua lại từng cửa hàng riêng lẻ có vị trí đắc địa của Rite Aid để tiếp tục vận hành.
Cuộc khủng hoảng của Rite Aid không phải là cá biệt, mà phản ánh một “căn bệnh” chung đang gặm nhấm toàn bộ các đại gia dược phẩm Mỹ.
Hồi tháng 3 vừa qua, Walgreens Boots Alliance đã phải thông báo hủy niêm yết để trở thành công ty tư nhân trong một thương vụ trị giá tới 24 tỷ USD. Đây là lối thoát sau chuỗi ngày thảm hại trên thị trường chứng khoán khi vốn hóa hãng bốc hơi hàng tỷ USD và hơn 1.200 cửa hàng phải đóng cửa hoặc lên kế hoạch khai tử.
Gã khổng lồ CVS cũng vừa đóng cửa hơn 1.000 chi nhánh và sa thải hàng ngàn nhân sự trong vài tháng qua; hiện đang phải thử nghiệm mô hình cửa hàng thu nhỏ, chỉ tập trung thuần túy vào mảng bốc thuốc thay vì kết hợp bán lẻ tiện lợi như trước.
Cả ba ông lớn này đều đang phải vật lộn với tình trạng sụt giảm tỷ lệ hoàn trả tiền thuốc theo bảo hiểm. Hệ quả là tổng giá trị thị trường của cả ba đã lao dốc không phanh, từ mức 100 tỷ USD của một thập kỷ trước xuống chỉ còn vỏn vẹn khoảng 9,5 tỷ USD hiện nay.
Từng một thời bùng nổ quá đà và tự biến mình thành các cửa hàng tiện ích - nơi khách hàng có thể vừa lấy thuốc, vừa mua sắm tạp hóa - các chuỗi nhà thuốc truyền thống giờ đây đang hụt hơi hoàn toàn trong cuộc đua giao hàng công nghệ với Amazon hay các siêu thị như Target. Bên cạnh đó, làn sóng trộm cắp hoành hành tại các đô thị lớn của Mỹ cũng đang bào mòn chút lợi nhuận ít ỏi còn sót lại của họ. Cú ngã ngựa lần hai của Rite Aid chính là minh chứng rõ nhất cho thấy: mô hình nhà thuốc truyền thống kiểu Mỹ đang dần đi vào ngõ cụt.
Theo: CNN, The Guardian
0 Replies | 33 Views |
May 18, 2026 - 3:39 PM - by Cupcake01
|
Trung Quốc báo tin buồn chưa từng có kể từ năm 2022, không chuyên gia nào dự đoán được
New Tab ↗
Theo số liệu do Cục Thống kê Quốc gia Trung Quốc công bố ngày 18/5, đầu tư tài sản cố định trong 4 tháng đầu năm giảm 1,6% so với cùng kỳ năm trước, đảo chiều so với mức tăng 1,7% trong quý I.
Cùng lúc, doanh số bán lẻ trong tháng 4 chỉ tăng 0,2%, thấp hơn rất nhiều so với mức 1,7% của tháng 3 và kém xa dự báo 2% của giới phân tích. Đây cũng là mức tăng yếu nhất kể từ cuối năm 2022, thời điểm Trung Quốc vừa mở cửa trở lại sau dịch Covid-19.
Sản xuất công nghiệp cũng gây thất vọng khi chỉ tăng 4,1% trong tháng 4, thấp hơn mức 5,7% của tháng trước và thấp hơn dự báo khoảng 5,9%-6%. Đây là tốc độ tăng yếu nhất kể từ tháng 7/2023.
Đáng chú ý, không một chuyên gia nào trong các khảo sát trước đó dự đoán mức độ suy yếu bi quan đến như vậy đối với cả 3 chỉ số lớn là đầu tư, bán lẻ và sản xuất.
Dù vậy, thị trường lao động có tín hiệu bớt tiêu cực hơn. Tỷ lệ thất nghiệp thành thị được khảo sát giảm về 5,2% trong tháng 4, sau khi chạm mức cao nhất một năm là 5,4% trong tháng 3.
Song, áp lực việc làm với lao động trẻ vẫn là một điểm đáng lo. Trước đó, dữ liệu tháng 3 cho thấy tỷ lệ thất nghiệp của nhóm 16-24 tuổi ngoài sinh viên lên 16,9%, còn nhóm 25-29 tuổi tăng lên 7,7% - mức cao nhất kể từ khi cơ quan thống kê Trung Quốc tách riêng nhóm tuổi này hơn 2 năm trước.
Giới phân tích cho rằng nguyên nhân sâu xa vẫn là tình trạng mất cân đối của kinh tế Trung Quốc, khi sản xuất mạnh nhưng cầu trong nước yếu. Cục Thống kê Trung Quốc cũng thừa nhận môi trường bên ngoài “phức tạp và biến động”, trong khi mâu thuẫn giữa “cung mạnh, cầu yếu” vẫn rất nổi bật và một bộ phận doanh nghiệp còn gặp nhiều khó khăn trong vận hành.
Một điểm nghịch lý là trong khi nhu cầu nội địa suy yếu, xuất khẩu vẫn tiếp tục tăng mạnh và tạm thời che bớt các vết nứt trong nền kinh tế.
Reuters chỉ ra, xuất khẩu của Trung Quốc trong 4 tháng đầu năm tăng khoảng 15%, được hỗ trợ bởi làn sóng đầu tư trí tuệ nhân tạo toàn cầu cũng như xu hướng gom hàng trước. Quan hệ thương mại với Mỹ ổn định hơn sau chuyến thăm Bắc Kinh của Tổng thống Donald Trump cũng được xem là yếu tố hỗ trợ triển vọng bên ngoài.
Dẫu vậy, phần “sáng” từ thương mại vẫn không đủ bù đắp cho xu hướng chậm lại trong tiêu dùng. Các khoản vay hộ gia đình đã sụt giảm trong tháng trước, phản ánh niềm tin của người tiêu dùng chưa cải thiện rõ rệt.
Trong bối cảnh chiến sự Trung Đông đẩy giá dầu lên cao, chi phí đầu vào tại các nhà máy Trung Quốc cũng tăng mạnh hơn. Điều này khiến doanh nghiệp phải chịu sức ép lớn hơn về nguyên liệu, năng lượng và biên lợi nhuận.
Phản ứng của thị trường sau khi số liệu được công bố tương đối dè dặt. Đồng nhân dân tệ giao dịch ở thị trường nước ngoài giảm 0,1%, xuống 6,8215 đổi 1 USD - mức yếu nhất trong gần hai tuần. Lợi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm gần như đi ngang ở 1,76%, trong khi hợp đồng tương lai trái phiếu 30 năm thu hẹp đà giảm.
Diễn biến này cho thấy giới đầu tư đã phần nào quen với bức tranh “hai tốc độ” của kinh tế Trung Quốc: khu vực xuất khẩu còn trụ được, nhưng nhu cầu nội địa vẫn trì trệ.
Hiện tại, các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc dường như vẫn chọn cách quan sát thêm thay vì tung ra các biện pháp kích thích mạnh. Chính phủ đã rút bớt tốc độ chi tiêu tài khóa từ tháng 3, trong khi Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBOC) cũng chưa phát tín hiệu nới lỏng thêm, dù thanh khoản trên thị trường vẫn dồi dào và nhu cầu tín dụng yếu.
Theo Reuters, Financial Post
0 Replies | 24 Views |
May 18, 2026 - 3:38 PM - by Cupcake01
|
Đại gia ngân hàng 160 năm tuổi nắm trong tay quyền sinh sát cả 1 đất nước, khối tài sản 1.600 tỷ USD vượt quy mô toàn nền kinh tế
New Tab ↗
Vào một ngày tháng 3/2023, Chủ tịch UBS Colm Kelleher đang trên đường lái xe trở về Zurich thì điện thoại đổ chuông. Nhà ngân hàng người Ireland này vừa trải qua một cuối tuần đàm phán nghẹt thở để đi đến thỏa thuận lịch sử trị giá 3,25 tỷ USD nhằm giải cứu đối thủ truyền kiếp Credit Suisse. Ở đầu dây bên kia là Jamie Dimon, CEO của gã khổng lồ Mỹ JPMorgan Chase.
Ông Dimon gọi điện vừa để cảm ơn Kelleher vì đã góp phần ổn định hệ thống tài chính toàn cầu, vừa để đưa ra một lời khuyên xương máu: Tuyệt đối không được để các cơ quan quản lý Thụy Sĩ thay đổi các điều khoản trong thỏa thuận thâu tóm.
Hơn ba năm trôi qua kể từ cuộc gọi định mệnh đó, UBS và chính phủ Thụy Sĩ hiện vẫn đang rơi vào một cuộc chiến pháp lý gay gắt về quy mô vốn dự trữ mà ngân hàng này phải nắm giữ để phòng ngừa rủi ro thảm họa. Cuộc đối đầu công khai một cách bất thường này đã chạm đến cốt lõi mô hình kinh tế của Thụy Sĩ, đồng thời đặt ra một bài toán tiến thoái lưỡng nan: Liệu một quốc gia nhỏ bé với 9 triệu dân có đủ sức chứa một “quái vật tài chính” như UBS - nơi sở hữu khối tài sản 1,6 nghìn tỷ USD, vượt quá quy mô của toàn bộ nền kinh tế Thụy Sĩ.
Cuộc thâu tóm khẩn cấp Credit Suisse là một trong những khoảnh khắc kịch tính nhất của ngành ngân hàng châu Âu kể từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, chấm dứt hơn 150 năm thế vị độc quyền của hai định chế tài chính này. Những bê bối và thua lỗ kéo dài một thập kỷ đã đẩy Credit Suisse đến bờ vực sụp đổ trước khi Bộ trưởng Tài chính Thụy Sĩ Karin Keller-Sutter đứng ra môi giới cho cuộc giải cứu của UBS nhằm ngăn chặn một cuộc hoảng loạn thị trường trên diện rộng.
Đến cuối năm 2023, ban lãnh đạo UBS tin rằng họ đã dập tắt được những lo ngại chính trị khi hoàn trả trước hạn các gói hỗ trợ bằng tiền thuế của người dân. Thế nhưng, vào tháng 4/2024, Bộ trưởng Keller-Sutter bất ngờ đề xuất một gói cải cách “Quá lớn để sụp đổ” (Too big to fail) nhằm bảo vệ ngân khố quốc gia trong tương lai. Theo đó, Thụy Sĩ yêu cầu UBS phải bổ sung thêm từ 15 tỷ đến 25 tỷ USD vốn dự trữ cho các chi nhánh nước ngoài.
Phía UBS lập tức phản pháo dữ dội. Họ cho rằng yêu cầu tăng thêm hàng chục tỷ USD vốn sẽ làm tổn hại nghiêm trọng đến khả năng cạnh tranh toàn cầu của ngân hàng, đặc biệt là khi các đối thủ tại Mỹ đang được hưởng lợi từ việc nới lỏng các quy định an toàn vốn. CEO Sergio Ermotti thẳng thắn chỉ trích các đề xuất này là thiếu cân nhắc, không có mục tiêu rõ ràng và không phù hợp với thông lệ quốc tế.
Một cuộc chiến căng thẳng
Cuộc chiến căng thẳng này đã khiến nhiều nhà đầu tư lớn mất kiên nhẫn và bắt đầu thúc ép UBS cân nhắc một kịch bản cực đoan: Rời bỏ Thụy Sĩ để chuyển trụ sở ra nước ngoài nếu các cải cách tài khóa không được giảm nhẹ.
“UBS chỉ tồn tại được nhờ vào quy mô toàn cầu của nó”, Davide Serra, nhà sáng lập Algebris Investments, một cổ đông của UBS, nhận định. “Họ sẽ có động lực rất lớn để di dời trụ sở. UBS không thể cạnh tranh với những đối thủ như Morgan Stanley nếu bị buộc phải nắm giữ lượng vốn dự trữ cao gấp đôi”.
Một số nguồn tin nội bộ cho biết, ban lãnh đạo UBS dưới sự dẫn dắt của Chủ tịch Kelleher đã âm thầm xây dựng các kế hoạch dự phòng cho việc thay đổi quốc tịch pháp lý (redomiciling) từ hơn một năm qua. Điểm đến tiềm năng nhất được chỉ ra là Mỹ, nơi có môi trường pháp lý thông thoáng hơn và phù hợp với tham vọng mở rộng mảng quản lý tài sản của UBS tại Phố Wall.
Mặc dù vậy, việc rời bỏ quê hương không phải là chuyện dễ dàng. Thương hiệu của UBS gắn liền với di sản và uy tín của ngành tài chính Thụy Sĩ. Việc di dời một định chế quy mô lớn như vậy sẽ mất nhiều năm ròng rã với những xáo trộn khủng khiếp về mặt pháp lý và chính trị.
Tìm kiếm một giải pháp thỏa hiệp
Dự luật cải cách hiện đã được trình lên Quốc hội Thụy Sĩ để thảo luận, và dự kiến quá trình phê chuẩn sẽ kéo dài đến năm 2027. Giới phân tích tin rằng một lối thoát khả dĩ nhất cho cả hai bên là một giải pháp thỏa hiệp về cấu trúc vốn.
Thay vì bắt buộc UBS phải sử dụng toàn bộ vốn cổ phần phổ thông hạng 1 (CET1) - loại vốn đắt đỏ nhất, chính phủ có thể cho phép ngân hàng sử dụng một phần trái phiếu chuyển đổi (AT1). Trái phiếu AT1 có thể chuyển đổi thành cổ phiếu, giúp giảm chi phí huy động vốn cho UBS. Trớ trêu thay, chính loại trái phiếu AT1 này lại là thứ liên quan đến sự sụp đổ trước đây của Credit Suisse.
Bất chấp những thành tích kinh doanh ấn tượng gần đây với lợi nhuận tăng vọt 80% trong quý 1 nhờ thị trường chứng khoán thăng hoa, giá cổ phiếu của UBS vẫn liên tục bị kìm hãm bởi bóng ma từ cuộc tranh luận về vốn này. Hiện tại, UBS đang giao dịch ở mức khoảng 1,5 lần giá trị sổ sách, thấp hơn nhiều so với mức 2,9 lần của Morgan Stanley. Khoảng cách quá lớn này khiến một số giám đốc điều hành lo ngại UBS có thể tự biến mình thành mục tiêu bị thâu tóm bởi các thế lực tài chính nước ngoài.
Bàn cờ chính trị Thụy Sĩ đang bị chia rẽ sâu sắc. Phe cánh tả ủng hộ các quy định siết chặt hơn đối với UBS để bảo vệ người đóng thuế, trong khi phe cánh hữu cảnh báo điều này sẽ làm suy yếu vị thế trung tâm tài chính toàn cầu của đất nước. Thậm chí, một cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc hoàn toàn có thể bị kích hoạt nếu phe phản đối thu thập đủ 50.000 chữ ký từ công chúng - những người vốn đang có tâm lý không mấy thiện cảm với giới ngân hàng.
Thụy Sĩ đã mất nhiều thập kỷ để xây dựng các ngân hàng toàn cầu như một biểu tượng cho sức mạnh và sự thịnh vượng quốc gia. Giờ đây, họ đang phải đối mặt với một thực tế nghiệt ngã: Nhà vô địch duy nhất còn sót lại dường như đã phát triển vượt quá khả năng.
“Nếu UBS sụp đổ, nó có thể kéo theo toàn bộ nền kinh tế Thụy Sĩ chìm xuống”, một giám đốc ngân hàng châu Âu cảnh báo. “Đó là lý do tại sao chính phủ Thụy Sĩ bằng mọi giá muốn nhồi nhét thật nhiều vốn vào ngân hàng này”.
Theo: Financial Times
0 Replies | 16 Views |
May 18, 2026 - 3:38 PM - by Cupcake01
|
Mỹ hủy bỏ hoạt động triển khai quân đội đến Ba Lan
New Tab ↗
Xe tăng M1A2 Abrams của quân đội Mỹ vượt sông Vistula trong một cuộc tập trận quân sự của NATO tại Ba Lan.
Ngày 15/5, hãng AP đưa tin, một số lượng binh sĩ thuộc Lữ đoàn Chiến đấu Thiết giáp số 2, Sư đoàn Kỵ binh số 1 - cùng với xe tăng Abrams và xe chiến đấu Bradley - đã đến Ba Lan hoặc đang trên đường đến đó khi Lầu Năm Góc thông báo với họ việc triển khai đã bị hủy bỏ.
Tướng Christopher LaNeve, quyền Tham mưu trưởng Lục quân, cho biết trước Quốc hội rằng người đứng đầu Bộ Tư lệnh châu Âu của Mỹ “đã nhận được chỉ thị về việc giảm quân số”.
Ông nói thêm, “việc không triển khai lữ đoàn đó đến chiến trường là hợp lý nhất”.
Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk dường như đã hạ thấp tầm quan trọng của động thái này, cho biết, ông đã “nhận được sự đảm bảo… rằng những quyết định này mang tính chất hậu cần”.
Bộ trưởng Quốc phòng Wladyslaw Kosiniak-Kamysz lưu ý, việc rút quân có liên quan đến “sự thay đổi đã được công bố trước đó về sự hiện diện của một số lực lượng vũ trang Mỹ tại châu Âu”.
Mặc dù ông Trump thường xuyên cáo buộc các thành viên NATO không chi đủ cho quốc phòng, nhưng Bộ trưởng Chiến tranh Mỹ Pete Hegseth mới đây đã mô tả Ba Lan là một “đồng minh kiểu mẫu”, sau khi nước này chi khoảng 4,7% GDP cho quốc phòng năm ngoái - nhiều hơn các thành viên NATO khác.
Đầu tháng 5/2026, Lầu Năm Góc thông báo rút 5.000 binh sĩ khỏi lực lượng khoảng 38.000 quân nhân Mỹ đóng tại Đức.
Thủ tướng Đức Friedrich Merz nằm trong số các nhà lãnh đạo châu Âu chỉ trích chính sách của Mỹ và Israel đối với Iran.
Ngược lại, ông Trump kêu gọi nhà lãnh đạo Đức tập trung vào việc “sửa chữa đất nước đang tan vỡ của ông ấy”.
Tổng thống Trump cũng gợi ý, ông có thể rút quân khỏi Tây Ban Nha và Ý sau khi hai nước này được cho là đã phủ nhận việc sử dụng các căn cứ và sân bay để thực hiện các cuộc tấn công liên quan đến Iran.
Theo RT
0 Replies | 13 Views |
May 18, 2026 - 3:36 PM - by therealrtz
|
|