News Library Technology Giải Trí Portals Tin Sốt Home

Go Back   VietBF > Other News|Tin Khác > Member News | Tin thành viên

Số bài trả lời (Reply's) : 112   -   Số người đă xem (Viewers) : 10537
 
Thread Tools
Old 03-25-2019   #81
hoanglan22
hoanglan22's Avatar
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Apr 2011
Posts: 5,908
Thanks: 3,711
Thanked 7,527 Times in 3,566 Posts
Mentioned: 47 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 2477 Post(s)
Rep Power: 15
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
Reputation: 23623
Default Tử h́nh khủng bố VC Trần Văn Đang tại pháp trường cát

TỬ H̀NH KHỦNG BỐ VC TRẦN VĂN ĐANG TẠI PHÁP TRƯỜNG CÁT

LS NGUYỄN VĂN CHỨC



“Em đă bị chúng nó lừa. Luật sư nhớ bảo vợ em đừng ở dưới vườn, đừng nghe theo chúng nó và gắng nuôi con.”
(Lời nói cuối cùng của “liệt sĩ” Trần Văn Đang trước khi bị xử bắn)

Chi tiết vụ án:

Luật sư Nguyễn Văn Chức, người được luật sư đoàn Sài G̣n chỉ định biện hộ (thày căi) cho Trần Văn Đang, đă kể lại sự vụ của y như dưới đây. Xin chép lại (trích trong báo Con Ong số 84) để quư bạn đọc thấy trong số các nạn nhân của Việt Cộng, cũng có cả các "liệt sĩ" của chúng như trường hợp Trần Văn Đang ở trong bài viết này.

* * *

Tôi về đến nhà, đă thấy chiếc xe mô tô đen của trung sĩ Ân đỗ trong sân. Ân giơ tay chào, đưa cho tôi một phong thư mầu vàng của ṭa án Mặt Trận, và yêu cầu tôi đọc ngay. Phong thư đóng dấu " tối mật ". Tôi xé ra. Bức thư bên trong chỉ vỏn vẹn mấy ḍng chữ đánh máy, nhưng tôi đọc rất lâu. Tôi kư sổ biên nhận, rồi bước vào trong nhà.

Ân có chào tôi hay không, và chiếc mô tô rồ máy bỏ đi lúc nào, tôi cũng không để ư. Tôi đang bận nghĩ đến hắn...

Cách đây khoảng 3 tháng, luật sư đoàn Sài G̣n chỉ định tôi biện hộ cho hắn trước ṭa án Mặt Trận Vùng Ba Chiến Thuật. Hắn là tên đặc công bị bắt trong khi đặt chất nổ trên đường Tự Do. Hắn bị truy tố về hai tội phản nghịch và mưu sát; hắn có thể bị tử h́nh. Sau khi xem xong hồ sơ, tôi vào nhà lao để gặp hắn. Đây là một thói quen nghề nghiệp, và cũng là một cái thú. Nói chuyện với tử tù, thường phạm hay chính trị, đôi khi hấp dẫn hơn đọc một cuốn tiểu thuyết bán chạy nhất.

Tôi ngồi trong pḥng đợi, nh́n ra vạt sân nắng bên kia chấn song sắt, rồi chợt nhớ đến Nguyễn Văn Trỗi. Trước đây, Trỗi cũng đă ngồi nói chuyện với tôi trong căn pḥng này. Trỗi khóc như một đứa con nít, thỉnh thoảng đưa hai tay lên vắt nước mũi rồi quẹt xuống gầm bàn. Trỗi c̣n trẻ, mới 26 tuổi, nhưng trông già như người 40.

Hắn trẻ hơn Trỗi. Khi nhân viên nhà lao dẫn hắn đến gặp luật sư, miệng hắn đang c̣n nhai nhóp nhép, h́nh như là khô mực. Người hắn sặc mùi dầu khuynh diệp. Hắn khép nép ngồi xuống một cái ghế trước mặt, rồi chăm chú nh́n tôi. Lúc đó tôi mới để ư đến cái đầu húi cua và khuôn mặt non nớt của hắn. Khác hẳn với tấm h́nh đăng trên các báo: tóc dài bù xù, và mặt nhăn nheo như mang đầy thẹo. Tôi mỉm cười hỏi: " Em vừa húi tóc? ". Hắn gật. Tôi lại hỏi: " Em là Trần Văn Đang? ". Hắn gật.

- Em có bí danh Sáu Nhỏ, Hai Gà, Năm Lựu Đạn, có phải vậy không? Hắn gật.

- Em bị bắt khi đặt chất nổ trên đường Tự Do, có phải vậy không? Hắn gật.

Tôi nói cho hắn biết: tôi là luật sư sẽ căi cho hắn trước ṭa, hôm nay tôi vào nhà lao gặp hắn để t́m hiểu thêm về tội trạng của hắn. Và tôi yêu cầu hắn kể lại tất cả sự việc từ đầu đến cuối, để giúp tôi phối kiểm lại hồ sơ.

Hắn nh́n tập hồ sơ trên bàn, rồi nh́n ra ngoài sân rất lâu, như đang suy nghĩ lung về một vấn đề. Tôi cũng nh́n hắn và chợt thấy hắn dễ thương. Hắn vẫn ngồi im. Tôi hỏi: " Khi lấy cung, người ta có tra tấn và hăm dọa em không? ". Hắn mở to mắt nh́n tôi. Tôi lại dục: " Em nên kể lại tất cả sự việc, từ lúc được móc nối cho đến khi bị bắt, bị hỏi cung. Em kể lại hay không, đó là quyền của em. Em cũng có thể từ chối không nhận tôi là luật sư của em và chọn một luật sư khác. Đó là quyền của em ".

H́nh như tôi c̣n nói nhiều nữa. Tôi muốn đến gần hắn, tôi muốn được " hân hạnh " nói chuyện với hắn.

Hắn nh́n tôi, tỏ vẻ dè dặt. Tôi đợi một lúc khá lâu, rồi lại hỏi: " Tất cả những điều em khai trong hồ sơ đều là sự thật, có phải vậy không? ". Hắn gật đầu một cách thản nhiên.

Bên ngoài vạt nắng đă thu hẹp lại ở góc tường bao quanh cái sân nhỏ. Tiếng người gọi đi thăm nuôi, tiếng quát tháo, tiếng chửi thề... đă bắt đầu thưa thớt. Tôi không đeo đồng hồ, và trong pḥng cũng không có đồng hồ, nhưng tôi đoán lúc đó khoảng 4 giờ chiều, nghĩa là gần hết giờ thăm nuôi phạm nhân. Riêng tôi, v́ là luật sư, tôi có thể nói chuyện với thân chủ cho đến 5 giờ chiều. Khổ một nỗi, thân chủ lại không muốn nói chuyện với luật sư. Tôi đành phải làm cái công việc bất đắc dĩ của nghề nghiệp, là tóm tắt hồ sơ và đọc những điểm quan trọng cho thân chủ nghe, để thân chủ hoặc xác nhận, hoặc phủ nhận.

Hồ sơ hắn dầy gần trăm trang đánh máy, gồm phúc tŕnh của CS và An Ninh Quân Đội. Cô thư kư của tôi đă chép độ 20 trang quan trọng nhất. Riêng tôi đă lận đận trọn một ngày ở ṭa án Mặt Trận để đọc lại toàn bộ hồ sơ và ghi chú thêm. Lận đận như vậy, v́ lương tâm nghề nghiệp, và cũng v́ ṭ ṃ nghề nghiệp. Trong những vụ án chính trị lớn tại miền Nam, tôi từng tiêu hoang th́ giờ tại ṭa án, để đọc và suy nghĩ về những lời khai của các bị can. Nhờ đó, tôi đă biết được cái lư do sâu xa đă khiến văn hào Nhất Linh-Nguyễn Tường Tam uống thuốc độc tự vận, một ngày trước khi ṭa xử.

Tôi giở hồ sơ hắn ra và bắt đầu đọc:

Hắn sinh tại G̣ Dầu Hạ, bố vô danh. Mười lăm tuổi, hắn mồ côi mẹ và được người chú mang lên làm công cho một tiệm sửa xe Vespa tại đường Trương Minh Giảng-Sài G̣n. Trong thời gian sống ở Sài G̣n hắn làm quen với một tên Tư. Tên này " xây dựng " hắn, và gửi hắn vào bưng học tập.

Bốn tháng sau, hắn trở về Sài G̣n hoạt động trong tổ đặc công của tên Tư. Một ngày trước khi bị bắt, hắn được tên Tư cho đi ăn uống tại một con hẻm đường Nguyễn Huệ. Sau bữa ăn, cả hai thả bộ ra đường Tự Do để quan sát địa điểm hành động. Đó là một cái " bar " Mỹ mà hắn đă từng đi ngang qua nhiều lần. Chiều hôm sau, một buổi chiều thứ Bẩy, tên Tư đem về hai cái bọc, mỗi cái đựng 10 kg thuốc nổ và bộ phận nổ chậm. Tên Tư gài bộ phận nổ chậm, rồi đặt cái bọc thứ nhất trong thùng một chiếc Vespa mầu xanh. Cái bọc thứ hai được đặt trong thùng một chiếc Vespa mầu trắng. Rồi cả hai cùng đi tới địa điểm hành động. Lúc đó, đồng hồ nhà tên Tư chỉ đúng 5 giờ 15 phút. Hắn cưỡi chiếc xe Vespa mầu xanh, tên Tư cưỡi chiếc xe mầu trắng, hai xe cách nhau khoảng 200 thước. Hắn có nhiệm vụ phá cái bar Mỹ đă quan sát chiều hôm trước. C̣n tên Tư có nhiệm vụ phá cái bar khác gần khách sạn Eden Rock ở cuối đường Tự Do. Khoảng 15 phút sau, hắn tới cái bar Mỹ. Hắn ngừng xe lại, c̣n tên Tư tiếp tục đi về phía cuối đường Tự Do. Hắn xuống xe, nhấc chiếc Vespa lên lề đường, rồi dắt chiếc xe về phía cái bar Mỹ. Theo chỉ thị của tên Tư, hắn có nhiệm vụ đỗ chiếc xe Vespa trước cửa cái bar Mỹ rồi bỏ đi. Tên Tư cũng cho hắn biết: quả ḿn sẽ nổ đúng 6 giờ. Hắn không đeo đồng hồ. Hắn biết chắc hắn c̣n nhiều th́ giờ, ít nhất là 15 phút để thi hành phận sự. Hắn lấy chân đạp vào chiếc cần sắt của chiếc Vespa, kéo ngược chiếc Vespa lên và dựng chiếc Vespa ngay trước cửa bar. Hắn chưa kịp bỏ đi, th́ người cảnh sát đứng bên kia đường thổi c̣i và ngoắc tay làm hiệu cho hắn phải dắt chiếc xe đi chỗ khác. Hắn đâm ra lúng túng, và trong lúc hạ cần xe xuống, hắn làm đổ chiếc Vespa. Hắn h́ hục dựng chiếc Vespa lên. Người cảnh sát bên kia đường lại thổi c̣i. Hắn đâm ra hốt hoảng. Chiếc Vespa trở nên quá nặng đối với hắn. Hắn sẽ phải dựng chiếc xe lên. Hắn sẽ phải dắt chiếc xe đi chỗ khác. Và hắn chợt nhớ tới quả ḿn. Quả ḿn sẽ nổ banh xác hắn. Hắn không kịp nghĩ thêm ǵ nữa. Hắn rầm chạy. Hắn chạy ngược về phía tiệm sơn mài Thành Lễ. Mấy người cảnh sát bên kia đường rút súng, huưt c̣i đuổi theo. Và hắn đă bị bắt. Khoảng 20 phút sau, nhân viên cảnh sát lục soát chiếc xe Vespa và đă t́m thấy quả ḿn. Theo phúc tŕnh của cảnh sát, th́ bộ phận nổ chậm bị hư, nếu không, quả ḿn đă nổ vào lúc 5 giờ 50 phút, nghĩa là lúc hắn đang lúng túng với chiếc xe Vespa. Theo hồ sơ, hắn nhận hết tội, tại nha CS cũng như tại An Ninh Quân Đội, và không một lần nào phản cung. Hắn có vợ và một đứa con trai 10 tháng.

Tôi đọc hồ sơ rất chậm, chờ đợi ở hắn một phản ứng, một cử chỉ, một lời nói. Nhưng tôi đă đọc hết ḍng chót, mà hắn vẫn ngồi im, mặt cúi gầm xuống đất. Có lẽ hắn không nghe tôi đọc.

Tôi muốn hỏi hắn về những điểm trong hồ sơ, nhất là về tên Tư nào đó. Nhưng nhân viên nhà lao đă bước vào cho tôi biết chỉ c̣n đúng 5 phút với hắn. Tôi nh́n ra ngoài, thở dài. Vạt sân đă hết nắng. Khi xốc hồ sơ bỏ vô cặp, tôi vô ư làm rớt tấm ảnh của thằng con trai tôi mới được 8 tháng. Tôi chợt nhớ ra: hắn cũng có một đứa con trai trạc tuổi đó. Tôi liền hỏi: " Từ ngày em bị bắt, em đă gặp con chưa? ". Hắn nh́n tôi rất nhanh, đôi mắt vụt trở nên khẩn thiết. Tôi lại hỏi: " Em có muốn gặp vợ con em không? ". Hắn túm tím miệng, nuốt nước bọt cái ực, rồi nói một cách vội vàng: " Ông có giúp tôi được không? ". Tôi gật. Lúc đó hắn mới cho tôi biết: theo lời khuyên của tên Tư, một tuần trước khi đặt chất nổ, hắn đă cho vợ con về sống với quê ngoại ở Mỏ Cày. Hắn hy vọng vợ hắn đọc báo đă biết tin hắn bị bắt và đă đem con lên Sài G̣n ở với người chú. Hắn cho tôi hai địa chỉ ở miệt Cầu Ông Lănh, và xin tôi làm mọi cách để vợ con hắn vào thăm hắn trong tù. H́nh như hắn muốn nói nhiều nữa, nhưng nhân viên nhà lao đă bước vào đem hắn đi. Hắn bỗng nắm chặt bàn tay tôi, cánh tay run run. Hắn nh́n tôi, và tôi thấy mắt hắn ướt.

Chiều hôm ấy, khi ra khỏi nhà lao, tôi lái xe thẳng đến khuôn viên nhà thờ Đức Bà, gửi xe cho một đứa bé, rồi thuê xích lô đạp về chợ Cầu Ông Lănh. Tối mịt, tôi mới ra về. Tôi không t́m thấy vợ con hắn.

Trưa hôm sau, tôi viết hai lá thư, một cho người chú, một cho vợ hắn, báo tin ngày ṭa xử và nhắn vợ hắn đến văn pḥng tôi để làm thủ tục xin giấy đi thăm nuôi chồng. Kư xong bức thư, tôi vào nhà lao báo cho hắn biết về cuộc t́m kiếm của tôi. Nhưng tôi không được gặp hắn: hắn đă bị trả về An Ninh Quân Đội để bổ túc hồ sơ. Từ hôm đó đến ngày xử, tôi không có dịp gặp hắn nữa.

Hôm ṭa xử, tôi đi rất sớm. Mới 8 giờ sáng tôi đă có mặt ở bến Bạch Đằng. Khi lái xe vào cổng ṭa án Mặt Trận, tôi thấy một thiếu phụ ôm con ngồi nép ở lối đi, bên cạnh một cái lẵng mây. Không hiểu sao tôi nghĩ đó là vợ hắn. Tôi đỗ xe trong sân ṭa án, rồi đi bộ ra cổng gặp người thiếu phụ. Tôi hỏi ngay: " Chị là vợ anh Đang? ". Thiếu phụ gật. Tôi hỏi: " Chị được tin hôm nào? ". Thiếu phụ cho biết: khi đọc báo biết tin chồng bị bắt, chị muốn lên Sài G̣n ngay, nhưng v́ đứa con đau nặng, nên ông bà già không cho đi. Cách đây bốn hôm, chị nhận được thư của người chú báo tin ngày ṭa xử, vả lại đứa con cũng đă gần hết bịnh, nên ông bà già cho đi.

Tôi nh́n đứa bé nằm ngủ trong ḷng mẹ. Da nó xanh mét. Thỉnh thoảng nó cựa ḿnh rên khe khẽ, người mẹ lại vỗ nhẹ lên người nó để ru. Chị ta hỏi tôi: " Thưa ông, liệu ảnh có việc ǵ không? ". Tôi không t́m được câu trả lời. Tôi nh́n đứa bé rồi hỏi: " Cháu được mấy tháng? ". Chị ta trả lời: " Con sanh cháu được 10 tháng th́ ảnh bị bắt ".

Bỗng có tiếng c̣i hụ và tiếng người nhốn nháo. Tôi nh́n về phía đường Bạch Đằng. Một chiếc xe nhà binh đang trờ tới. Đó là xe chở tội nhân. Những người đứng dưới đường vội vàng dạt ra hai bên để cho xe quẹo vào cổng ṭa án. Khi chiếc xe đi ngang qua, tôi nh́n thấy hắn, và người vợ cũng nh́n thấy chồng. Chị ta vội vă đứng lên, một tay xách chiếc lẵng mây, một tay ôm con, lễ mễ chạy vào trong sân ṭa.

Đoàn tội nhân đă xuống khỏi xe, đứng xếp hàng giữa sân ṭa. Hắn đứng ở hàng chót, ngơ ngác nh́n quanh như t́m kiếm. Vợ hắn gọi lớn: " Anh hai, em và con đây nè ". Hắn quay mặt về phía tiếng gọi, và khi trông thấy vợ hắn, hắn giơ hai tay bị c̣ng lên như muốn ôm gh́ một h́nh bóng. Vợ hắn đứng cách xa hắn chỉ một khoảng sân nhỏ. Chị ta bỏ chiếc lẵng mây xuống đất, ôm con xăm xăm chạy về phía hắn. Nhưng người lính đă ngăn chị ta lại, rồi ra lệnh cho đoàn tội nhân đi vào hành lang. Đây là một lối đi lộ thiên, nằm giữa hai bức tường của hai dăy nhà quay lưng vào nhau. Người ta dùng chỗ đó để tạm giữ tội nhân, trong khi chờ ṭa gọi tội nhân ra trước vành móng ngựa.

Hắn ngồi hàng chót, nép vào chân tường. Tay hắn đă được mở c̣ng. Vợ hắn lễ mễ ôm con lại gần. Người lính định cản lại, nhưng thấy tội nghiệp, nên đă để cho đi qua.

Tôi chỉ kịp trông thấy người đàn bà ngồi thụp xuống đất bên cạnh người chồng rồi khóc nức nở. Hắn không khóc, mở to mắt nh́n về trước mặt, một tay để lên vai vợ, một tay vuốt tóc con. Lúc sau người vợ lấy vạt áo lau nước mắt, rồi lấy ở trong lẵng ra một xị nước ngọt đựng trong túi nylon đưa cho chồng: " Anh uống đi cho đă khát, em có mua cho anh ổ bánh ḿ thịt ở trong lẵng ". Hắn rời tay khỏi vai vợ, đỡ lấy túi nước ngọt đưa lên môi, nhưng tay kia vẫn sờ trên ḿnh đứa con, đôi mắt dịu hẳn xuống. Trong một lúc t́nh cờ, hắn ngẩng đầu lên. Hắn nh́n thấy tôi đứng bên kia tường. Tôi giơ tay làm hiệu chào hắn.

Chỉ c̣n độ một hai giờ nữa, ṭa sẽ kêu đến vụ hắn. Tôi muốn nói chuyện với hắn. Nhưng tôi không nỡ làm bận rộn cuộc xum họp mà tôi linh cảm là cuộc xum họp lần chót. Tôi thở dài ái ngại, rồi bỏ đi ra phía sân ṭa. Thời gian như chậm lại. Hắn, con hắn, vợ hắn, lởn vởn trong đầu tôi. Làm thế nào để cứu hắn khỏi chết? Làm thế nào để ṭa án hiểu rằng: hắn, cũng như Nguyễn Văn Trỗi, cũng như bao thanh thiếu niên khác, chỉ là nạn nhân đáng thương của một hệ thống đểu cáng và vô nhân đạo nhất lịch sử loài người.

Măi mười một giờ trưa, ṭa mới kêu đến tên hắn. Hắn từ hành lang đi ra, bên cạnh hai người lính. Vợ hắn lễ mễ ôm con theo từ đằng xa, rồi ngồi xuống một chiếc ghế cuối pḥng xử. Pḥng xử hôm đó đông nghẹt dân chúng. Bên ngoài, trời oi ả như sắp có cơn dông.



Trần Văn Đang trước vành móng ngựa (h́nh: AP)


Trước vành móng ngựa, hắn nhỏ bé và non nớt hơn cái hôm tôi gặp hắn trong nhà lao. Da hắn xanh mướt, và nét mặt thản nhiên. Tôi đến bên hắn, hắn quay lại nh́n tôi một thoáng rồi lại nh́n thẳng đàng trước mặt. Không khí nặng nề. Cả pḥng xử im lặng. Ông chánh thẩm hỏi lư lịch, rồi truyền cho hắn trở về ghế bị can để nghe bản cáo trạng. Tôi cũng từ vành móng ngựa đi theo xuống ngồi bên cạnh hắn. Hắn xích lại gần, như để tỏ ḷng biết ơn. Viên lục sự bắt đầu đọc bản cáo trạng, tiếng ông ta vang lên đều đều. Cả ṭa, từ ông chánh thẩm, ủy viên chính phủ, đến công chúng ngồi dưới, đều lắng tai nghe. Chỉ có hắn là không. Hắn nh́n đăm đăm đàng trước mặt, như đang suy nghĩ. Có lẽ hắn nghĩ tới vợ con hắn. Một lần, tôi chợt thấy hắn quay đầu lại nh́n xuống cuối pḥng xử, như muốn t́m xem vợ con hắn ngồi ở đâu. Bỗng nhiên, mặt hắn biến sắc, tay hắn run run, đầu cúi rầm xuống.

Viên lục sự đă đọc xong bản cáo trạng. Hắn rời ghế bị can, rồi cùng tôi bước lên vành móng ngựa.

Ông chánh thẩm hỏi: " Anh đă nghe bản cáo trạng. Anh bị cáo về tội phản nghịch và mưu sát. Anh có nhận tội không? ". Hắn gật đầu.

- Anh có thể kể lại cho ṭa nghe tất cả sự việc từ đầu đến cuối không?

Hắn nh́n ông chánh thẩm, nh́n bồi thẩm đoàn, nh́n ủy viên chính phủ, nh́n tôi, rồi lắc đầu.

Ông chánh thẩm lại hỏi: " Có phải anh đă đỗ chiếc Vespa trước cái bar Mỹ? ". Hắn gật.

- Anh có biết chiếc Vespa có chất nổ không?

Hắn gật.

- Anh đỗ chiếc Vespa trước cửa bar, để phá cái bar đó, có phải không?

Hắn gật.

- Tên Tư bao nhiêu tuổi, vóc dáng như thế nào?

Hắn đứng im không trả lời.

Ông chánh thẩm nh́n tôi, tôi nh́n ông ta. Một bên ở vào cái thế khó xử, một bên ở cái thế khó căi. Đại tá Ủy viên Chính Phủ bỗng quát lớn: " Tại sao bị can không trả lời? ". Hắn ngước mắt nh́n ủy viên chính phủ, rồi đứng im như pho tượng.

Khi ṭa trao lời cho ủy viên chính Phủ chính thức đặt câu hỏi, th́ ủy viên chính phủ nhún vai, như muốn nói với ṭa rằng ông không có ǵ để hỏi một bị can chỉ biết gật với lắc đầu. Nhưng chỉ một vài giây sau, ông nói như hét: " Thằng Tư, tên thật nó là ǵ. Địa chỉ nó ở đâu? ". Hắn lại nh́n ủy viên chính phủ rồi im lặng. Một lần nữa, ủy viên chính phủ lại nhún vai và làm cái cử chi quen thuộc để ṭa hiểu rằng ông ta không c̣n ǵ để hỏi nữa.

Đến lượt tôi đặt câu hỏi. Tôi hỏi hắn: " Khi bị lấy cung tại nha CS và An Ninh Quân Đội, em có bị tra tấn hoặc bị hăm dọa không? ". Hắn lắc đầu. Tôi lại hỏi: " Em có hối hận v́ đă trót nghe lời dụ dỗ của tên Tư không? ". Hắn cúi gầm mặt xuống lắc đầu.

Tôi đă đưa ra hai cây sào để cứu hắn. Không ngờ hắn đă từ chối không nắm lấy và h́nh như c̣n thích thú để cho nước cuốn trôi đi. Nước mắt người vợ và t́nh thương con đă không làm hắn thay đổi. Một đời luật sư, tôi từng ngang dọc trong những vụ kiện lớn của chế độ, nhưng chưa bao giờ tôi cảm thấy ḿnh bất lực như hôm nay.

Ủy viên Chính Phủ đứng lên buộc tội. Trong 15 phút hùng biện, ông gay gắt lên án bị can. Ông nhấn mạnh đến trường hợp quả tang phạm pháp, đến bản chất của tội trạng (phản nghịch và mưu sát) và sự ngoan cố của bị can. Ông kết luận: " Trong cuộc đấu tranh chống lại bọn cộng sản " kẻ thù của dân tộc " chúng ta cần phải nghiêm trị những bọn phá hoại, những tên cán bộ nằm vùng, những tên đặc công khủng bố giết người không gớm tay. Nếu hôm đó quả ḿn nổ, bao nhiêu dân chúng qua đường đă bị chết thảm, bao nhiêu người dân vô tội đă bị què cụt đui mù... ". Ông yêu cầu ṭa lên án tử h́nh. Ṭa trao lời cho tôi. Trách nhiệm của tôi quá lớn, và nhiệm vụ của tôi quá khó khăn. Tôi biện hộ cho một bị can phạm tội phản nghịch và mưu sát với trường hợp gia trọng. Bị can ấy nhận tội tại nha CS, tại An Ninh Quân Đội, và trước ṭa án. Bị can ấy từ đầu đến cuối không lúc nào phản cung. Bị can ấy từ chối không trả lời ṭa án, không trả lời ủy viên chính phủ, không trả lời luật sư. Bị can ấy im lặng tuyệt đối, như để bảo mật cái tổ đặc công giết người của hắn, theo một mệnh lệnh... Giọng tôi trầm trầm. Tôi nói, h́nh như không phải cho ṭa nghe, mà cho chính tôi nghe. Tôi nói, để cố trả lời cho những câu hỏi mà chính tôi đang thắc mắc. Tại sao hắn không có một lời để tự bào chữa? Tại sao hắn đă nhận tội một cách thản nhiên, và không một lần nào phản cung, trong hồ sơ cũng như trước ṭa án? Hắn là một tên đặc công bị bắt quả tang trong khi đặt chất nổ, chắc chắn hắn đă bị tra tấn của công an trong khi lấy cung. Tại sao hắn không nói điều ấy ra trước ṭa? Và tên Tư? Tên Tư là ai? Tại sao hắn lại im lặng không chịu cung khai về tên Tư? Tại sao hắn lại từ chối không trả lời những câu hỏi có lợi cho hắn?

Không ai muốn chết. Không ai muốn bị hành h́nh. Không ai muốn bị đập chết như một con chó ở góc tường, như những nhân vật trong tiểu thuyết Kafka. Huống chi, hắn mới 21 tuổi, có vợ, có con, và thương vợ thương con. Thế th́ tại sao hắn lại im lặng? Chỉ có một câu trả lời. Hắn bị quyến rũ phạm tội ác, và sau khi bị bắt, hắn vẫn bị theo rơi. Hắn sợ vợ con hắn bị trả thù, hắn đă phải im lặng, tuyệt đối im lặng. Biết đâu trong pḥng xử hôm nay, lại không có tên Tư nào đó đang ngồi theo rơi hắn. Hướng về phía ông Ủy viên Chính Phủ, tôi nói như tâm sự: " Tôi đồng ư với ông là chúng ta, những người quốc gia, phải thẳng tay trừng trị, nếu cần, phải giết những tên đặc công gian manh, những tên cán bộ khát máu, những tên đặc công giết người không gớm tay. Nhưng trong hiện vụ, tôi không nghĩ bị can là một tên cộng sản gian manh, một tên cán bộ khát máu, một tên giết người không gớm tay. Và đây là điểm cực kỳ quan trọng: quả ḿn hôm ấy đă không nổ ".

Kết luận, tôi yêu cầu ṭa khoan hồng. Bị can mới hai mươi mốt tuổi, chưa hề can án, có vợ c̣n trẻ và con c̣n nhỏ, v́ vậy đáng được hưởng sự khoan hồng của luật pháp.

Sau lời biện hộ của tôi, ṭa hỏi hắn: " Luật sư đă biện hộ cho anh rồi. Anh có quyền nói lời chót. Anh muốn nói ǵ không? ". Hắn lắc đầu. Ṭa ngưng xử, bước vào pḥng để nghị án. Khoảng một giờ sau, ṭa trở lại tuyên án: tử h́nh. Lập tức, hắn bị c̣ng tay mang đi. Lúc đó, đă quá trưa, những đám mây đen từ đâu kéo về bao kín cả một góc trời đă mất ánh sáng. Dân chúng kéo nhau ra về. Tôi xách cặp đi ra xe như người mất hồn. Khi lái xe qua cổng ṭa án, tôi thấy vợ hắn ôm con ngồi khóc. Tôi về văn pḥng, viết đơn xin ân xá cho hắn. Đây chỉ là thủ tục ṭa án, nhưng tôi đă làm với tất cả sự cẩn trọng của một lễ nghi tôn giáo. Tôi muốn cứu hắn khỏi chết. V́ nhân đạo. V́ nghề nghiệp. Và cũng v́ trường hợp cá biệt của hắn.

Hắn khác Nguyễn Văn Trỗi. Nguyễn Văn Trỗi khóc lóc van xin trước ṭa, và sau khi bị ṭa lên án tử h́nh, Trỗi đă hô lớn " Hồ Chí Minh muôn năm ". Hô xong lại khóc, lại van xin. C̣n hắn, hắn nín thinh. Không khóc lóc, không van xin, không hô khẩu hiệu.

Hắn khác Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Hữu Thọ huênh hoang và cao ngạo trước ṭa. Hắn chịu đựng, nhẫn nhục, đến độ gần như khắc kỷ. Tôi nghĩ đến con chó sói trong bài thơ " La Mort du Loup " của thi hào Vigny.

* * *

Ba tháng đă trôi qua. Bức thư của ṭa án Mặt Trận mà trung sĩ Ân đưa cho tôi chiều hôm nay chỉ vỏn vẹn mấy ḍng chữ đánh máy: " Trân trọng báo để luật sư tường: đơn xin ân xá của Trần Văn Đang đă bị bác. Ngày mai, hồi 5 giờ sáng, bản án tử h́nh sẽ được thi hành. Nếu luật sư muốn hiện diện nơi hành quyết, th́ xin có mặt tại khám Chí Ḥa vào lúc 4 giờ sáng. Trân trọng ".

Suốt đêm, tôi trằn trọc không ngủ, đầu óc lởn vởn khuôn mặt của hắn, và h́nh ảnh của hắn ngồi trong hành lang ṭa án, một tay để lên vai vợ, một tay sờ lên ḿnh đứa con. Chưa đầy 3 giờ sáng, tôi đă thức dậy, đi vào khám Chí Ḥa. Tôi bước vào pḥng đợi, đă thấy một nhà sư gầy g̣ mặc nâu ṣng đang ngồi lần chuỗi hạt. Viên quản đốc nhà lao cho tôi biết: nhà sư đă đến trước tôi cả nửa giờ. Lát sau, một linh mục béo tốt bước vào, trong bộ quân phục thiếu tá tuyên úy. Bốn giờ ba mươi phút, ủy viên chính phủ đến. Rồi đoàn người, gồm viên quản đốc nhà lao, ủy viên chính phủ, luật sư, và hai vị tuyên úy, lặng lẽ đi vào một căn pḥng rộng. Thường nhật, đây là chỗ điểm danh tội nhân. Hắn đă ngồi đó từ bao giờ, bên cạnh cái bọc quần áo. Ánh sáng vàng bệch của ngọn đèn cáu bụi trên trần nhà phả xuống bốn bức tường trắng xóa. Tôi chợt có ư nghĩ kỳ lạ là đang bước vào căn nhà xác của bệnh viện. Đoàn người tiến lại gần hắn. Hắn đứng dậy, đôi mắt như ḍ hỏi. Một phút im lặng, dài như một ngày. Đại tá ủy viên chính phủ trịnh trọng nói với hắn: " Anh hăy cam đảm lên, và nghe tôi đọc ". Rồi ông lớn tiếng đọc bản án tử h́nh và bản quyết định bác đơn xin ân xá của hắn. Hắn cúi đầu nh́n xuống sàn nhà, đôi mắt mở to. Người hắn run lên. Nhưng chỉ giây lát, hắn lấy lại b́nh tĩnh. Hắn hỏi: " Bao giờ người ta xử tôi? ". Viên quản đốc nhà lao để tay lên vai hắn: " Ngay sáng hôm nay, trước khi mặt trời mọc ". Rồi ông thân mật nói với hắn: " Bây giờ em muốn ăn uống ǵ không, khám đường sẽ chu tất cho em ? ". Hắn lắc đầu.

Lúc đó, không ai bảo ai, mỗi người nói với hắn một vài câu an ủi. Không khí trở nên thân mật và âu yếm như trong một cuộc tiễn đưa. Riêng tôi chỉ nh́n hắn, tôi muốn nói chuyện riêng với hắn; đó là quyền của tôi, quyền của luật sư biện hộ. Ủy viên chính phủ đồng ư, và cho tôi biết: tôi có 5 phút. Rồi đoàn người bước ra khỏi pḥng, để một ḿnh tôi với hắn. Người cuối cùng đă bước ra khỏi pḥng. Hắn nắm lấy tay tôi, và nh́n tôi rất lâu, đôi mắt ướt sũng. Tôi hỏi: " Em có muốn nói nhắn với vợ em điều ǵ không? ". Hắn suy nghĩ giây lát, rồi nói: " Em bị chúng nó lừa. Luật sư có gặp vợ em, th́ bảo đừng ở dưới vườn nữa, và nuôi lấy con ". Tôi hỏi: " Em chết, có điều ǵ oán hận không? ". Hắn không trả lời. Tôi an ủi hắn: " Người ta, ai cũng phải chết một lần, đời sau mới là quan hệ. Em theo đạo nào? ". Tôi là người Công giáo. Tôi ước ao hắn dành một vài phút để nghĩ đến Thượng Đế và t́nh thương bao la của Người. Nhưng ủy viên chính phủ đă bước vào nói nhỏ: " Luật sư hết giờ rồi ". Rồi ông thân mật hỏi hắn: " Ở đây có hai vị tuyên úy em muốn nói chuyện với ai? ". Hắn nh́n nhà sư mặc áo tu hành, hắn nh́n vị linh mục mặc quân phục thiếu tá, rồi xin được nói chuyện với nhà sư. Tôi cúi đầu theo ủy viên chính phủ và vị linh mục đi ra một góc pḥng. Nh́n về phía hắn, tôi thấy nhà sư cúi đầu tụng kinh, và hắn cũng cúi đầu như lắng tai nghe kinh. Khoảng khắc, nhà sư ngẩng đầu lên, đặt tay lên vai hắn, trong một cử chỉ vỗ về bao dung. Lúc đó, đồng hồ trên tường chỉ đúng 5 giờ sáng, giờ khởi hành. Người ta xúm lại chung quanh hắn, mỗi người nói với hắn một câu chân t́nh. Hắn như chợt nhớ ra, xin phép được thay quần áo. Một cảnh sát viên chạy lại cầm cái bọc quần áo đưa cho hắn. Hắn mở bọc, lấy ra một chiếc sơ mi cụt mầu xám, và một chiếc quần vải dragon đen đă bạc mầu. Khi hắn quay mặt vào tường để thay quần áo, tôi nh́n thấy những lằn roi trên da thịt xanh xao của hắn. Thay xong quần áo, hắn xin một điếu thuốc. Viên quản đốc nhà lao mỉm cười, rút trong túi ra một bao thuốc lá Ách Chuồn. Ông ta trịnh trọng lấy ra một điếu, dộng dộng trên ngón tay cái, rồi đưa cho hắn. Hắn ngậm điếu thuốc, và được viên quản đốc châm lửa. Lúc đó, nhân viên an ninh đến. Hắn ngoan ngoăn đưa hai tay chụm ra đằng trước để người ta c̣ng. Rồi đoàn người lặng lẽ đi ra. Hắn đi đầu, thản nhiên bước qua từng đợt cửa, thỉnh thoảng dùng hai tay c̣ng đưa điếu thuốc lên môi. Khi đoàn người ra tới sân nhà lao, điếu thuốc gần lụi, và hắn buông rơi xuống đất. Hắn bước lên chiếc xe bít bùng, đầu hơi cúi xuống. Cửa xe đóng sập lại. Tôi lên xe riêng, lái thật nhanh ra khỏi nhà lao.

Chiếc xe của tôi lầm lũi đi trong đêm, ánh đèn pha chiếu dài cả con đường Ḥa Hưng, rồi đường Lê Văn Duyệt. Thành phố Sài G̣n đang trở ḿnh thức giấc, một vài gánh hàng đi nép bên lề đường. Và đó đây, có tiếng động cơ quen thuộc của những chiếc xe Lam dậy sớm. Tới bùng binh chợ Bến Thành, tôi đă thấy một đám đông bu quanh vùng ánh sáng của pháp trường cát. Những phóng viên ngoại quốc chạy nhốn nháo, với máy ảnh và máy quay phim. Cảnh sát chận xe tôi lại. Khi nh́n thấy chiếc áo đen của tôi, họ dẹp đám đông cho xe tôi tiến vào. Tôi đỗ xe sát chân tường Nha Hỏa Xa, cách pháp trường cát độ 30 thước. Những ngọn đèn pha cực mạnh đă được đặt tại đó chiều hôm trước. Tất cả đều chiếu vào pháp trường cát, tạo nên một vùng ánh sáng rợn người. Một chiếc cọc đen đứng cô đơn, đằng sau là những bao cát chất thành ṿng cung. Cách đó 3 thước, là chiếc quan tài đậy nắp, trên nắp có một tấm vải trắng. Xa nữa là chiếc xe chữa lửa.

Tôi đứng trong ṿng ánh sáng chưa được 10 phút th́ nghe tiếng c̣i hụ. Người ta chạy nhốn nháo. Tôi háy mắt nh́n về phía tiếng c̣i hụ, th́ thấy đoàn xe chở tội nhân đang tiến tới. Chiếc xe bít bùng đỗ lại bên lề đường. Lát sau hắn bước xuống khỏi xe. Tôi vội choàng lên người chiếc áo đen, chạy ra với hắn. Hắn và tôi đi đầu, theo sau là đoàn áp giải. Hắn bước đều đều, mặt cúi xuống đất. Dân chúng bu nghẹt chung quanh, chỉ chừa một lối đi được ngăn giữ bằng hàng rào an ninh. Bây giờ chúng tôi đă bước vào vùng ánh sáng. Hắn bỗng ngửng đầu lên, và đứng khựng lại. Người lính đằng sau lấy tay đẩy nhẹ vào lưng hắn, hắn lại tiếp tục bước đi. Tôi đoán chiếc quan tài và chiếc khăn liệm đă làm hắn khựng lại. H́nh ảnh trung thực của chiến tranh không được t́m thấy ở chiến trường " da ngựa bọc thây ", mà được t́m thấy trong các bệnh viện, nơi đó có những h́nh hài cụt chân cụt tay, những đống thịt bầy nhầy, những hố mắt sâu thẳm, những cuốn băng bê bết máu, và những tiếng rên rỉ đau đớn. Và h́nh ảnh trung thực của cái chết vẫn là chiếc quan tài, tấm khăn liệm và những người thân yêu tiễn đưa. Bây giờ, hắn và tôi đă bước vào trong ṿng những bao cát. Người ta mở c̣ng, rồi giữ gh́ lấy hai cánh tay hắn, đẩy hắn dựa lưng vào chiếc cọc sắt. Hai cổ chân hắn bị cột chặt vào thân cọc, hai cánh tay hắn bị kéo ngược ra đằng sau, cột ngược vào một cái cọc ngang. Chiếc cọc ngang này hơi cao, hắn phải kiễng chân lên. Hắn nhăn mặt kêu đau. Tôi nói với viên sĩ quan: " Đằng nào tội nhân cũng sắp chết, ông nên cho hạ thấp chiếc cọc ngang xuống, kẻo máu bị ngừng ở nơi nách, tội nghiệp ". Viên sĩ quan gật đầu, hạ thấp chiếc cọc ngang xuống. Hắn nh́n tôi, và lần đầu tiên hắn nói: " Cám ơn luật sư ". Lúc đó, đội hành quyết đă sắp hàng chỉnh tề, chỉ c̣n đợi sĩ quan Quân Trấn Trưởng của Quân khu Sài G̣n đến là khởi sự. Một phút, hai phút, rồi ba phút... Cả pháp trường im lặng, trong sự đợi chờ và trong ánh sáng chói chang.

Chỉ c̣n ḿnh tôi đứng bên cạnh hắn. Hắn bỗng trăn trối: " Em đă bị chúng nó lừa. Luật sư nhớ bảo vợ em đừng ở dưới vườn, đừng nghe theo chúng nó và gắng nuôi con ". Tôi gật đầu. Hắn nấc lên: " Con ơi, Cảnh ơi, Cảnh ơi ". Tiếng nấc của hắn làm tôi mủi ḷng. Tôi để tay lên vai hắn, định an ủi, nhưng cổ họng bị tắc nghẽn. Tôi chợt nghĩ đến linh hồn hắn. Tôi th́ thầm bên tai hắn: " Em hăy ăn năn hối cải, và cầu xin Chúa giúp em chết lành. Em chết, nhớ phù hộ cho vợ con em ". Hắn lại nấc lên: " Con ơi, con ơi, Cảnh ơi, Cảnh ơi ". Lúc đó, có tiếng c̣i hụ. Quân Trấn Trưởng đến. Đội hành quyết đứng nghiêm. Người ta bịt mắt hắn. Hắn vẫn nấc, vẫn gọi tên con. Có tiếng lên đạn đàng sau lưng tôi. Ủy viên chính phủ nói lớn: " Xin ông luật sư đứng tránh xa ra một bên ". Tôi đi giật lùi ngang về phía bên trái, mắt không rời hắn. Miệng hắn vẫn lắp bắp gọi tên con. Một tiếng hô. Một loạt đạn nổ. Đầu hắn ngoẹo xuống, gục về bên trái. Máu từ trong người hắn chảy róc xuống đùi, xuống chân, rồi ḅ ngoằn ngoèo trên lề đường. Viên đội trưởng hành quyết tiến lại, nắm tóc kéo ngược đầu hắn về phía sau, dí khẩu súng lục vào màng tang bên trái của hắn, bắn phát súng ân huệ. Một tiếng " đẹt " khô khan. Người ta vội vàng liệm xác hắn, và chiếc ṿi nước của chiếc xe chữa lửa vội vă phụt sạch những vết máu trên lề đường. Phương Đông, chân trời đă bắt đầu hừng đỏ.

Tối hôm đó, đài phát thanh Hà Nội mặc niệm hắn, hết lời ca tụng cái chết anh hùng của hắn. Đài phát thanh Hà Nội nói rơ ràng: từ lúc bị trói vào cọc cho đến lúc bị hành quyết, hắn đă noi gương anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, không ngớt đả đảo Mỹ Ngụy và hô to khẩu hiệu " Hồ Chí Minh muôn năm ".

Nguyễn Văn Chức

Chú thích (của luật sư Nguyễn Văn Chức):

Dưới đây là những chi tiết liên quan đến vụ Trần Văn Đang. Bị can sinh năm 1942 tại Vĩnh Long, bị bắt ngày 30 tháng 3 năm 1965 trong khi đặt chất nổ, bị đem ra ṭa án Mặt Trận hai tuần sau, và bị bắn tại pháp trường cát bùng binh chợ Bến Thành sáng ngày 21 tháng 6 năm 1965.

Chánh thẩm xử án là đại tá Phan Đ́nh Thứ (tức Lam Sơn), linh mục tuyên úy Công giáo tên Thông, nhà sư tuyên úy Phật giáo là đại đức Sĩ. Quân Trấn Trưởng là đại tá Giám.

Nguyễn Văn Trỗi bị bắt ngày 9 tháng 5 năm 1964, trong lúc đặt bom ở gầm cầu Công Lư, chờ ám sát phái đoàn của Bộ trưởng Quốc pḥng Hoa Kỳ Mc Namara. Y bị toà án Vùng 3 Chiến Thuật xử tử h́nh. Trước toà, y khóc lóc, chửi bọn xúi y đi ôm bom là bọn " chó đẻ ", và xin toà tha tội. Khi toà tuyên án tử h́nh, y hô to Hồ Chí Minh muôn năm. Hô xong y lại khóc và xin toà tha.

Năm 1993, tôi (luật sư Nguyễn Văn Chức) có đọc cuốn "Chung Một Bóng Cờ" do nhà xuất bản Chính Trị Quốc Gia (Hà Nội) ấn hành, gồm những bài viết của Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Hữu Thọ, Phạm Văn Đồng... Cuốn sách đă dành một trang để nói về cái chết của Anh Hùng Trần Văn Đang. Xin trích một vài ḍng cuối: " Sáng ngày 21 tháng 6 năm 1965 lúc 5 giờ 52 phút, Mỹ và chính quyền Sài G̣n đem anh ra xử bắn tại pháp trường cát, với hy vọng có thể khủng bố được tinh thần nhân dân Sài G̣n. Nhưng chúng đă lầm. Trước đông đảo đồng bào và phóng viên trong và ngoài nước đang tụ tập dọc đường Hàm Nghi và chợ Bến Thành, vừa bước xuống xe, Trần Văn Đang dơng dạc nói lớn: Hỡi đồng bào chợ Bến Thành, hỡi đồng bào Sài G̣n thân yêu, tôi là Trần Văn Đang đây, chiến sĩ giải phóng, tôi đánh Mỹ để giải phóng dân tộc... Đả đảo đế quốc Mỹ... đả đảo tập đoàn tay sai bán nước. Ngay sau khi súng đă nổ, anh vẫn không ngừng hô to Hồ chủ tịch muôn năm, đả đảo đế quốc Mỹ " (trích trong Chung Một Bóng Cờ, trang 886-887).
Attached Thumbnails
Click image for larger version

Name:	1553434350-xu ban VC tran van dang.jpg
Views:	0
Size:	40.2 KB
ID:	1354926   Click image for larger version

Name:	1553467816-tran van dang.jpg
Views:	0
Size:	103.5 KB
ID:	1354928  
hoanglan22_is_offline   Reply With Quote
Old 03-27-2019   #82
hoanglan22
hoanglan22's Avatar
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Apr 2011
Posts: 5,908
Thanks: 3,711
Thanked 7,527 Times in 3,566 Posts
Mentioned: 47 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 2477 Post(s)
Rep Power: 15
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
Reputation: 23623
Default 50 năm sự kiện Vịnh Bắc bộ: Nghị Quyết Vịnh Bắc bộ – 1964



Diễn tiến

Trước hết tôi xin nói về diễn tiến của sự kiện lịch sử này theo lời cựu Bộ trưởng quốc pḥng McNamara và nhận định của ông (1). Nước Mỹ tiến gần tới tuyên chiến tại Việt Nam đó là vụ Nghị quyết vịnh Bắc Việt tháng 8-1964. Những biến chuyển quanh Nghị quyết này cho tới nay vẫn c̣n nhiều tranh căi mâu thuẫn.

Trước tháng 8-1964 chỉ có một số ít người Mỹ không quan tâm đến diễn tiến ở VN, chiến tranh có vẻ c̣n xa nhưng biến cố Vịnh Bắc Việt đă thay đổi cái nh́n đó. Về đoản kỳ khi tầu chiến Mỹ bị tấn công trong vịnh và nghị quyết của Quốc hội sau đó đă đưa tới khả năng Mỹ can thiệp vào cuộc chiến chưa từng có trước đây. Theo McNamara điều quan trọng hơn là chính phủ Johnson đă xin Quốc hội ra Nghị quyết này để hợp thức hóa về mặt hiến pháp mọi hoạt động quân sự của Hành pháp Mỹ tại VN từ 1965.

Quốc hội nh́n nhận quyền hạn lớn của Nghị quyết dành cho TT nhưng nó không có nghĩa như một tuyên chiến và cũng không có nghĩa đó là sự cho phép mở rộng lực lực lượng Mỹ tại VN từ 16,000 cố vấn lên 550,000 quân tác chiến. Bảo đảm sự tuyên chiến và cho phép quân tác chiến những năm sau đó chắc là không được.

Nhiều người coi chín ngày từ 30-7 tới 7-8-1964 như một giai đoạn nhiều tranh căi nhất của cuộc chiến 25 năm. Qua nhiều thập niên, đă có nhiều tranh luận về những sự kiện tại vịnh, Hành pháp tường tŕnh cho Quốc hội và người dân thế nào, xin Quốc hội quyền hành động và hai ông Tổng thống đă xử dụng quyền này qua các năm ra sao

McNamara nêu nên một số câu hỏi và tự ông trả lời như sau.

Tầu tuần duyên của Bác Việt tấn công khu trục hạm Mỹ ngày 2-8 và 4-8-1964, có thật không?

Trả lời: ngày 2-4 th́ chắc chắn không chối căi được. Ngày 9-11-1995 tại Hà Nội, McNamara có gặp gỡ và nói chuyện với Vơ nguyên Giáp, ông ta nói ngày 4-8 không có cuộc tấn công của tầu BV như người Mỹ tưởng.

Hồi đó và sau này một số vị dân cử Quốc hội và người dân Mỹ cho rằng chính phủ Johnson khiêu khích địch để có cớ leo thang chiến tranh và dùng mưu mẹo để được Quốc hội chấp thuận cho leo thang.

Trả lời: hoàn toàn không có chuyện này.

Tổng thống trả đũa, cho máy bay ném bom bốn căn cứ tầu tuần duyên và một kho nhiên liệu, như thế có đúng không?

Trả lời: có thể.

Những biến cố tại vịnh BV có liên hệ tới hai chiến dịch riêng rẽ của Mỹ trước đây: Kế hoạch 34A và DESOTO.

Từ tháng 1-1964 Hội đồng an ninh quốc gia đă chấp nhận cho CIA yểm trợ miền nam VN những hoạt động bí mật chống phá BV, mật danh 34A gồm hai hoạt động trước hết thả biệt kích ra Bắc, thứ hai dùng tầu tuần duyên nhỏ, tốc độ cao do người Việt hoặc Mỹ lái đánh phá bờ biển hoặc hải đảo BV những nơi được coi là xuất phát xâm nhập, yểm trợ VC tại miền nam, đánh rồi chạy (hit and run).

DESOTO là một phần của hệ thống thám thính toàn cầu bằng điện tử do những tầu hải quân Mỹ chạy ngoài hải phận quốc tế. Những tầu này thu lượm những tín hiệu của radar, những truyền tin từ các trạm trên bờ các nước CS như Nga, Trung cộng, Bắc Hàn, Bắc Việt cũng giống như Nga dùng tầu lưới cá tại bờ biển Mỹ.

Tối 30-7 -1964, tầu tuần duyên của VNCH tấn công hai hải đảo thuộc vịnh BV được cho là dùng để yểm trợ xâm nhập miền nam VN. Sáng hôm sau khu trục hạm Mỹ Maddox đi vào vịnh (chiến dịch DESOTO ) rất xa các đảo. Hai ngày rưỡi sau tức 2-8 lúc 3 giờ 40 (giờ VN, tức 3 giờ 40 sáng Mỹ) tầu Maddox báo cáo bị những tầu tuần duyên cao tốc đuổi theo, một lúc sau bị tấn công bằng ngư lôi và súng tự động nhưng Maddox không bị trúng đạn hoặc hư hại. Thủy thủ lấy được những mảnh đạn trên boong tầu mà McNamara yêu cầu gửi cho ông làm bằng chứng. Trong quân sử của BV, họ xác nhận đă đưa ra lệnh tấn công Maddox, khi biến cố sẩy ta khu trục hạm này nằm ở hải phận quốc tế, cách bờ biển BV hơn 25 dặm.

Lúc 11:30 sáng (2-8) Tổng thống Johnson họp các cố vấn để nghiên cứu t́nh h́nh. Mọi người tin là do cấp chỉ huy địa phương BV hơn là do cấp lớn đă khởi động. Tổng thống v́ thế không trả đũa mà chỉ gửi kháng thư cho Hà Nội, ông vẫn cho tiếp tục tuần tiễu, cho thêm khu trục hạm C.Turner Joy đi kèm. Maxwell Taylor, Đại sứ Mỹ tại Sài G̣n phản đối tại sao không giáng trả BV, có thể coi như Mỹ lùi bước không dám đối đầu với CS.

Vào lúc 3 giờ chiều hôm sau Dean Rusk (bộ trưởng ngoại giao) và McNamara thuyết tŕnh cho các Thượng nghị sĩ thuộc Ủy ban ngoại vụ và Ủy ban quân sự để diễn tả chiến dịch 34A, DESOTO và tại sao Tổng thống đă không giáng trả địch. Hai ông cũng giải thích cho biết DESOTO không có ư khiêu khích BV để tầu Maddox bị tấn công, vẫn tiếp tục chiến dịch DESOTO.

Vào lúc 7 giờ sáng (7 giờ chiều VN) ngày 4-8 tầu Maddox cho biết bị tầu lạ tấn công. Một giờ sau tầu Maddox nói radar cho thấy ba tầu lạ. Hàng không mẫu hạm Ticonderoga ở gần đó đă cho máy bay tới yểm trợ hai tầu Mỹ Maddox và Turner Joy. Trời nhiều mây, có mưa băo lớn rất khó quan sát. Mấy tiếng sau hai tầu này báo cáo bị hơn hai mươi ngư lôi tấn công, thấy vệt sóng của ngư lôi, ánh đèn chiếu sáng trên boong tầu địch, súng tự động nhả đạn, radar của tầu Mỹ có báo hiệu.

McNamara cùng ông phụ tá họp với bộ tham mưu để đối phó. Mọi người đồng ư nếu báo cáo này đúng, cần trừng trị thích đáng kẻ tấn công tầu Mỹ ngoài hải phận quốc tế , v́ thế họ vội triển khai ngay kế hoạch cho máy bay từ hàng không mẫu hạm đánh phá bốn căn cứ tầu tuần duyên và và hai kho nhiên liệu. Lúc 11 giờ 40 sáng, McNamara họp với Dean, Mac (Bundy) và các Tướng khác để duyệt lại quyết định, họ tiếp tục bàn tại phiên họp tại Hội đồng an ninh QG và họp với Tổng thống. Johnson đồng ư lần này nếu được xác nhận đúng cần phải trừng trị nhanh và mạnh.

Vấn đề c̣n lại là cuộc tấn công lần thứ hai có thật không?

Như đă nói tầm nh́n khi bị tấn công đợt hai rất hạn chế, v́ thế và v́ tiếng động máy ḍ tầu ngầm thường không đáng tin lắm cho thấy báo cáo về cuộc tấn công đợt hai (4-8) không chắc chắn lắm. V́ thế McNamara cố điều tra để t́m sự thật, ông yêu cầu Trung tướng David A Burchinal liên lạc hỏi Đô đốc Sharp ở Honolulu để biết hư thực.

Lúc 1 giờ 27 chiều đại úy Herrick, người điều hành DESOTO trên tầu Maddox cho biết tin tức về việc bị tấn công bằng ngư lôi có vẻ nghi ngờ. Thời tiêt xấu ảnh hưởng radar có thể gây lên báo cáo đó, đề nghị lượng giá lại trước khi hành động. Bốn mươi phút sau Đô đốc Sharp gọi cho tướng Burchinal nói mặc dù đại úy Herrick nói thế nhưng ông vẫn tin là cuộc tấn công lần thứ hai (4-8) là có thật. McNamara gọi hỏi thẳng Sharp, ông này cho biết có vài nghi ngờ xong cũng tin có bị tấn công bằng một số ngư lôi, tầu Turner Joy báo cáo đánh ch́m ba tầu tuần duyên, Maddox báo cáo đánh ch́m một hoặc hai cái. McNamara nói khi nào biết chắc là có thật th́ sẽ trả đũa. Sharp nói có thể có và sẽ điều tra thêm.

Lúc 4 giờ 47 McNamara họp với các tham mưu trưởng duyệt các chứng cớ liên quan cuộc tấn công, có năm yếu tố cho thấy cuộc tấn công có thật. Tầu Turner Joy bị chiếu sáng khi bị bắn bằng súng tự động, một trong hai khu trục hạm thấy đèn pha trên boong tầu tuần duyên, súng pḥng không của họ đă bắn hai phi cơ Mỹ bay ở trên, đă bắt được và giải mă một bản tin của BV được biết họ có hai chiếc tầu bị bắn ch́m. Đô đốc Sharp nói có thể có tấn công ngày 4-8. Đến 5 giờ 23 Đô đốc gọi Tướng Burchinal và nói chắc chắn có tấn công các khu trục hạm Mỹ.

Lúc 6 giờ 15 chiều, Hội đồng an ninh QG họp, McNamara kể sơ chứng cớ và đề nghị trả đũa. Mọi người nhất trí hành động, Tổng thống cho lệnh máy bay thuộc Hải quân trừng phạt. Lúc 6 giờ 45 TT Johnson, Dean Rusk, Bus Wheeler (Tham mưu trưởng mới), McNamara họp với các vị Chủ tịch ủy ban Quốc hội để thuyết tŕnh sự việc, giải thích sự trừng phạt. Dean nói BV đă cố ư tấn công, ta cần trừng trị giới hạn. Tổng thống nói ông muốn đưa ra Quốc hội để xin yểm trợ cuộc chiến nếu cần, một số vị dân cử nói họ sẽ ủng hộ.

Lúc 7 giờ 22 hàng không mẫu hạm Ticonderoga và Constelletion được lệnh tấn công trả đũa. Tổng cộng có 64 phi vụ tấn công các căn cứ tuần duyên và kho dầu để trả đũa, chỉ là tấn công giới hạn.

Mấy năm sau, tháng 2-1968 Thượng viện họp xét lại chứng cớ và chỉ trích tường tŕnh của chính phủ. Năm 1972, Tordella, phụ tá giám đốc cơ quan an ninh QG kết luận bản tin nghe được của BV cho là lệnh tấn công ngày 4-8 thực ra là lệnh tấn công ngày 2-8. Cline, phụ tá giám đốc CIA 1964 trả lời một cuộc phỏng vấn năm 1984 nói thế. Phi công Stockdale, năm 1964 đă bay yểm trợ cho hai khu trục hạm Mỹ tối 4-8, sau này viết hồi kư nói tối hôm đó khi bay ngang hai khu trục hạm ông ta chẳng thấy cái tầu BV nào cả và nói chắc không hề có cuộc tấn công này.

Ngày 6-8-1964, lúc 9 giờ sáng các ông Dean, Bus, McNamara vào pḥng họp với Ủy ban Ngoại vụ và Quân sự Thượng viện để xác nhận vụ tấn công 2-8 và 4-8 và xin Thượng viện ủng hộ. Dean nhấn mạnh cuộc tấn công này không phải là biến cố riêng mà nó nằm chung trong kế hoạch xâm chiếm miền Nam và các nước Đông nam Á. Sau đó nói chi tiết hai vụ tấn công, Tướng Bus cho biết các TMT nhất trí trả đũa, đó là thích đáng.

McNamara cho rằng Quốc hội hiểu quyền hạn rộng lớn mà Nghị quyết dành cho Tổng thống, nhưng chắc Quốc hội hiểu rằng Tổng thống sẽ không dùng nó mà không tham khảo cẩn thận tường tận với Quốc hội. Hôm sau, lưỡng viện bỏ phiếu bầu ngày 7-8. Thượng Viện thông qua Nghị quyết Tonkin Gulf Resolution với tỷ lệ 88-2, Hạ viện bỏ phiếu thuận hoàn toàn 416-0, tỷ lệ chung là 99.60%.

Nhiều người chỉ trích (sau này) cho rằng chuyện Vịnh có nhiểu âm mưu giả dối, họ lên án chính phủ mong được Quốc hội ủng hộ cuộc chiến tại Đông Dương, soạn thảo một nghị quyết, khiêu khích địch gây ra biến cố để được ủng hộ, McNamara nói những chỉ trích này vô căn cứ.

Tổng thống không hề nghĩ Nghị quyết cần để đưa quân vào VN mà vài vị Tham mưu trưởng đă đề nghị từ tháng 1-1964, việc đưa quân vào cần có Quốc hội chấp thuận. Bộ Ngoại giao đă soạn một Nghị quyết từ cuối tháng năm nhưng v́ Max Taylor khuyên nên hoăn chiến dịch quân sự tới tới mùa thu. Johnson, Dean, Mac, McNamara đồng ư và đă quyết định hoăn đưa dự thảo Nghị quyết ra Quốc hội chờ khi Đạo luật Nhân quyền đă được Thượng viện chấp thuận tháng Chín.

Nhưng khi BV tấn công, Johnson thấy đó là cơ hội để được Quốc hội ủng hộ cuộc chiến chống lại âm mưu xâm lược của Hà Nội, hành động của ông cứng rắn nhưng vẫn ôn ḥa so với ứng cử viên diều hâu Goldwater của đảng đối lập.

Năm 1977, George Ball (cựu thứ trưởng ngoại giao 1964) trả lời phỏng vấn đài BBC chỉ trích chính phủ đă mở chiến dịch DESOTO khiêu khích BV để có cớ trả đũa. Ngược lại Bill Bundy (CIA, cố vấn ngoại vụ TT 1964) cũng đă nói chuyện trên BBC, ông ta phủ nhận những lời cáo buộc như trên, theo Bill t́nh h́nh lúc đó (tại VNCH) chưa tồi tệ đến nỗi phải có biện pháp mạnh. Bill nói “Không có chuyện Chính phủ cố t́nh khiêu khích để tạo ra biến cố ấy” (2)

McNamara cho rằng nếu Nghị quyết vịnh Bắc Việt đă không đưa tới sự can thiệp quân sự lớn lao tại VN th́ nó đă không gây nhiều tranh căi như vậy. Nhưng nó dùng để mở cửa cho ḍng thác lũ (đưa quân vào), McNamara nói tuy nhiên cho rằng chính phủ Johnson lừa gạt Quốc hội là sai. Vấn đề không phải là Quốc hội không nắm được khả năng của Nghị quyết mà là nhưng là không nắm được tiềm lực của cuộc chiến và chính phủ có thể đối phó với nó như thế nào. Trong phiên họp ngày 20-2-1968 để duyệt lại vấn đề này, Thượng nghị sĩ Fulbright vui vẻ từ bỏ lời đă kết án McNamara cố ư khiến cho Quốc hội sai lầm, ông nói “Tôi không bao giờ có cảm tưởng rằng tôi đă nghĩ ông cố t́nh gạt chúng tôi”, các Thượng nghị sĩ Mansfield , Claiborne Pell và Symington cũng xác nhận thế (3)

McNamara kết luận cơ bản của vấn đề Vịnh Bắc Việt không phải là sự lừa gạt nhưng nói đúng hơn là sự lạm dụng quyền hạn từ Nghị quyết. Ngôn ngữ của Nghị quyết cho Tổng thống quyền hành xử, và Quốc hội hiểu tầm vóc của quyền hạn khi họ ủng hộ tối đa Nghị quyết ngày 7-8-1964. Nhưng chắc chắn là Quốc hội không có ư định cho phép xa hơn trong việc tăng vọt từ 16,000 lính Mỹ lên 550,000 tại VN mà không tham khảo đầy đủ với Quốc hội. Nó khiến chiến tranh mở rộng lớn có nguy cơ kéo Nga, Trung Cộng vào cuộc và đă mở rộng sự can thiệp của Mỹ tại VN trong nhiều năm.

Vấn đề Quyền hạn của Quốc hội đối nghịch với quyền Tổng thống về điều động quân đội vẫn c̣n tranh căi cho tới nay. Căn nguyên của sự tranh chấp này nằm ở chỗ văn tự Hiến Pháp mơ hồ, nó trao Tổng thống quyền Tổng tư lệnh nhưng lại cho Quốc hội quyền tuyên chiến.

Những nhận định khác

Trên đây là nội dung vấn đề theo diễn tả và ư kiến của McNamara, nhân vật đóng vai tṛ then chốt trong chiến tranh VN giai đoạn 1963-1968. Tôi xin ghi thêm nhận xét và ư kiến của các chính khách và nhà nghiên cứu khác để vấn đề được nh́n thêm dưới nhiều khía cạnh. Về cuộc tấn công hai ngày 2-8 và 4-8 qua sự tường thuật của các tác giả có khác nhau về chi tiết, có thể v́ do tam sao thất bản, tôi chú trọng về ư kiến riêng của họ nhiều hơn.

Về biến cố này cựu Tổng thống Nixon nói (4) ngày 2-8 tầu tuấn duyên BV tấn công khu trục hạm Maddox tại vịnh trên bằng ngư lôi nhưng không gây thiệt hại, và sau đó ngày 4-8 họ lại tấn công hai tầu Maddox và C Turner Joy. Nhiều năm sau, các kư giả phản chiến xác định rằng cuộc tấn công 4-8 của BV không hề có, họ kết án Johnson và quân đội ngụy tạo ra để lấy cớ can thiệp vào cuộc chiến. Nixon kết luận là không có chứng cớ nào cho thấy Mỹ khiêu khích, ngay quân sử của BV cũng kể lại chuyện này.

Ông cũng nói Nghị quyết vịnh BV không phải là mưu mẹo để được rộng quyền tham chiến như một số người kết án nhưng nó là một cố gắng lương thiện để được Quốc hội yểm trợ cho việc can thiệp sâu rộng hơn mà nó buộc ta phải gánh vác. Nghị quyết của Johnson không phải là lư do người Mỹ vào VN, nó xác nhận rằng các cuộc tấn công này chỉ là một phần của chiến dịch xâm lược có hệ thống của CSBV đối với các nước láng giềng, các nước liên kết chiến đấu cho tự do. Quốc hội chấp thuận và ủng hộ quyết định của Tổng thống, với cương vị Tổng tư lệnh, bằng mọi cách đẩy lui những lực lượng gây hấn với Hoa Kỳ và pḥng ngừa những gây hấn trong tương lai.

Nixon nói “Chúng ta không lâm chiến v́ hai cuộc tấn công nhỏ ngoài khơi nhưng v́ Bắc Việt đang ra sức chiếm trọn Đông dương” (5). Nhiều người trách Johnson không xin Quốc hội tuyên chiến. Quốc hội và Ngũ giác đài không tuyên chiến v́ họ không ngờ cuộc chiến lại kéo dài như thế, Johnson tưởng là oanh tạc chiến thuật tại miền nam VN và oanh tạc giới hạn tại BV sẽ khiến Hà nội từ bỏ xâm lược, tuyên chiến có thể lôi kéo Nga Trung Cộng nhập cuộc. Johnson không muốn chiến tranh khi ông chuẩn bị ứng cử Tổng thống năm 1964. Hạ viện chỉ họp trong bốn mươi phút và đồng thuận 100% (480-0), Thượng viện bàn thảo 8 tiếng cuối cùng bầu với 88 thuận, 2 chống. Nixon nói sự kiện chứng tỏ Quốc hội đă ủng hộ vô cùng vững chắc.

Những người ủng hộ Nghị quyết về sau họ chống chiến tranh kết án Johnson lừa gạt Quốc hội để vượt quá quyền hạn của ḿnh. Nixon cho là không phải như thế, bản ghi âm cuộc thảo luận tại Thượng viện cho thấy Quốc hội tham chiến với con mắt mở to, hoàn toàn tự nguyện. Nghị quyết này không phải chỉ là căn bản hợp pháp để lâm chiến, Johnson cũng hành động phù hợp với những điều khoản an ninh của Tổ chức Liên pḥng Đông nam Á (SEATO). Vả lại Quốc hội cũng hành xử quyền hạn chiến tranh của ḿnh hàng năm khi họ chi tiền cho quân đội Mỹ tại VN.

Tác giả Bernard C. Nalty (6) nói ngày 2-8 ba tầu tuần duyên BV đuổi theo tầu Maddox đang ở ngoài hải phận quốc tế, tầu BV đă phóng ba ngư lôi nhưng không trúng mục tiêu. Tầu Maddox bắn trả bằng đại bác 127 ly gây thiệt hại nặng cho hai tầu BV, phi cơ từ hàng không mẫu hạm Ticonderoga tới yểm trợ.

Về cuộc tấn công ngày 4-8, Nalty nói BV gây hấn hay người Mỹ tưởng tượng? ông tỏ vẻ nghi ngờ biến cố này. Hôm sau Tổng thống Johnson cho tăng cường thêm khu trục hạm C Turner Joy, ngày 4-8 người chuyên viên radar trên tầu Maddox báo cáo có năm tầu phóng ngư lôi đang đuổi theo, sau đó cả hai thuyền trưởng của Maddox và C. Turner Joy quả quyết là họ bị tấn công và gọi máy bay yểm trợ đồng thời cho khai hỏa, họ báo cáo là bắn ch́m hai tầu BV và làm hư hại hai cái khác.

Theo tác giả có nhiều chỉ trích gồm cả các viên chức t́nh báo, lời của họ đă được viết vào Văn kiện Ngũ giác đài, sau này nó xác nhận “tầu địch” chẳng qua chỉ là những tiếng “blip”của radar do những đợt sóng phía sau tầu C Turner Joy gây ra mà những chuyên viên radar chưa có kinh nghiệm của tầu Maddox đă tưởng lầm. Tuy nhiên các vị chỉ huy tại chiến trường xác nhận là có tấn công và tin rằng BV đáng bị trừng phạt giới hạn, Tổng thống Johnson quyết định trả đũa, cho không kích các căn cứ xuất phát tấn công nhưng không có mục đích mở rộng chiến tranh. Các phi cơ từ hàng không mẫu hạm Ticonderoga và Constellation tấn công bốn căn cứ hải quân và một kho dầu của BV. Khoảng 25 tầu tuần duyên bị phá hủy, 90% các kho dầu tại Vinh bị bốc cháy. Hai máy bay Mỹ bị pḥng không bắn rơi, hai chiêc khác bị hư hại.

Thăm ḍ cho thấy sau cuộc tấn công trả đũa, người dân Mỹ ủng hộ hành động của Johnson rất cao.

Tác giả Marilyn B. Young (7) nhận xét: nhiều năm sau Nghị quyết khi sự lừa dối được phát hiện và Quốc hội muốn tự tách ra khỏi cuộc chiến mà chính họ đă phê chuẩn năm 1964, nhiều Thượng nghị sĩ than phiền rằng nếu họ biết sự thật th́ họ đă chống lại Nghị quyết. Dân biểu Dante, Florida nói ông Tổng thống có nhu cầu quyền hạn, một biến cố t́nh cờ có thể đem lại quyền lực cho ông. Quốc hội nghĩ oanh tạc BV sẽ khiến họ chấm dứt chiến tranh. Họ cũng nghĩ như Hành pháp, nếu Mỹ khiến CS trả giá cao th́ sẽ ngưng xâm lược miền nam. James Thomson (1964 trong Hội đồng an ninh GQ) trong một phiên họp của Thượng viện năm 1968 nói biến cố Vịnh lần sau (4-8) là cách thuận lợi chứng tỏ ư chí của chung mà chẳng cần có chứng cớ rơ ràng để tham dự cuộc chiến. Thượng viện sau này đánh giá Hành pháp Johnson sai lầm khi nghĩ rằng dùng oanh tạc hay sức mạnh quân sự có thể khiến Hà nội bị khuất phục.

Không cần biết chuyện ǵ sẩy ra ở Vịnh BV, việc đưa ra Quốc hội thành công mà các cố vấn của Tổng thống đă khuyên ông làm để đưa Hoa Kỳ vào cuộc chiến. Theo Marilyn B. Young Hà nội quyết tâm đi vào cuộc chiến, tháng 10-1964 họ đă đưa ba trung đoàn chính qui khoảng 4,500 người vào Nam, chiến dịch oanh tạc của Johnson không khiến Hà nội phải đầu hàng mà c̣n mở rộng cuộc chiến hơn nữa, cuối cùng Johnson không t́m được ḥa b́nh như ông đă hứa với người dân.

Tác giả Stanley Karnow (8) nói tổng cộng cuộc oanh kích trả đũa BV của Johnson gồm 64 phi vụ, có khoảng 25 tầu bị phá hủy hoặc hư hại, Mỹ bị mất hai máy bay.
McNamara hồi đó cho biết ông đă có bốn công điện của BV cho thấy họ cho lệnh tấn công tối 4-8, những công điện này được giữ bí mật từ đó. Nhưng hoặc ông hiểu sai công điện hay cố t́nh dấu diếm nó, theo một cựu viên chức Mỹ rành về những bản truyền tin của địch th́ đó không phải là lệnh tấn công (attack orders) mà McNamara hiểu nhưng là lệnh của bộ chỉ huy cho các tầu tuần duyên chuẩn bị tác chiến (military operations) mà có thể là tự vệ. Ray Cline phụ tá giàm đốc CIA hồi đó, đă phân tách sự khác biệt chính giữa hai cuộc tấn công là: sau khi duyệt xét những hồ sơ th́ chỉ thấy nó liến quan đến cuộc tấn công trước (2-8)

Kết Luận

Những năm đầu thập niên 60, người dân Mỹ và Quốc hội ủng hộ mạnh mẽ cuộc chiến tranh VN v́ quá sợ CS, họ tin rằng nếu mất miền nam VN hay Đông dương sẽ mất Đông nam Á. Tất cả sách báo, thống kê về giai đoạn này, nhất là 1964 đều nói đa số, đại đa số người dân, thậm chí có tài liệu nói 78% hoặc 85% (9) ủng hộ cuộc chiến, đại đa số Quốc hội ủng hộ cuộc chiến. Tháng 8-1964 Johnson đưa ra Quốc hội xin Nghị quyết Đông nam Á và đă được chấp thuận với tên Nghị quyết Vịnh Bắc Việt ngày 7-8-1964 với tỷ lệ tối đa 99.60% số phiếu thuận choTổng thống can thiệp vào cuộc chiến ngăn chận CS tại VN.

Trường hợp nếu Johnson -McNamara dùng oanh tạc khuất phục được BV, mang lại ḥa b́nh th́ sẽ không có ai đề cập tới Nghị quyết này. Nhưng sau khi được Quốc hội cho phép hành động, Johnson McNamara đă đem hơn nửa triệu quân vào miền nam VN trong mấy năm chiến tranh nhưng không thắng được CS, cuộc chiến ngày càng mở rộng. Sau trận Tết Mậu Thân tháng 2-1968 số người ủng hộ chiến tranh tụt thang nhanh chóng, tỷ lệ chống chiến tranh tăng nhanh. Khi ấy người ta kết tội Johnson đă gây lên cuộc chiến sa lầy, họ bèn xét lại Nghị quyết và lên án ông đă lừa gạt Quốc hội để đưa nước Mỹ can thiệp vào VN. Sau đó tới màn bới lông t́m vết, vạch lá t́m sâu và duyệt xét lại Nghị quyết để kết luận không có cuộc tấn công lần thứ hai ngày 4-8 của tầu tuần duyên BV mà do McNamara và ban tham mưu bịa ra tŕnh Tổng thống lường gạt Quốc hội, nghĩa là chỉ Johnson McNamara là chịu trách nhiệm, người dân và Quốc hội không có ǵ đáng chê trách!

Như đă nói trên buổi chiều tối 4-8 chuyên viên radar trên tầu Maddox cho biết nhận được tín hiệu bị tấn công bằng ngư lôi, các thủy thủ trên tầu Turner Joy xác nhận đă nh́n thấy đèn pha chiếu sáng từ tầu địch và thấy súng tự động bắn, súng pḥng không bắn hai máy bay Mỹ bay trên cao (10). Hai thuyền trưởng trên hai khu trục hạm Maddox và C Turner Joy báo động và ra lệnh bắn trả tối đa về hướng nghi ngờ, không có lửa tại sao lại có khói?

Thuyền trưởng kêu gọi không quân yểm trợ, Stockdale một trong các phi công từ hàng không mẫu hạm bay tới, ông đảo trên trời một tiếng rưỡi và không thấy chiếc tầu nào của BV mà chỉ thấy tầu Mỹ bắn loạn xạ trên mặt biển, sau này viết hồi kư kể lại như vậy.

Đô đốc Sharp, Tư lệnh Thái b́nh dương dựa theo báo cáo của hai thuyền trưởng để tường tŕnh với McNamara và ông này tŕnh lên Tổng thống như đă nói trên. Mặc dù chứng cớ về cuộc tấn công này có vẻ mơ hồ nhưng phản bác của những người chống đối cũng không có ǵ là cụ thể, chỉ là “lư sự”, thí dụ họ nói các chuyên viên radar thiếu kinh nghiệm, tưởng lấm, những năm sau giải mật các bản công điện của BV th́ thấy chắc là lệnh tự vệ chứ không phải lệnh tấn công. Đó cũng chỉ là một cách hiểu khác, giải thích khác cũng như người ta giải nghĩa những câu văn trong Kinh Dịch, mỗi người hiểu một cách. Ngoài ra những bản công điện, vô tuyến điện thoại của BV chưa chắc đáng tin cậy, họ thường đưa tin giả để nghi binh, Đại tá Nguyễn trọng Luật, cựu tỉnh trưởng Ban mê Thuột cho biết CSBV thừa biết đối phương hay nghe lén điện thoại, công diện nên họ đă đưa nhiều tin giả để lừa địch.

Nhưng vấn đề là Johnson McNamara có cần phải khiếu khích BV và tạo biến cố giả tại Vịnh Bắc việt để đánh lừa Quốc hội hay không trong khi cuộc chiến giữa Mỹ-VNCH với Hà nội đă thực sự diễn ra từ 1959.

Ngày 13-5-1959 tại Hà Nội, CSBV đă mở Hội nghị thứ 15, ra Nghị quyết phát động chiến tranh chiếm miền nam bằng vũ lực (11). Họ thành lập đoàn 559 đưa người vũ khí xâm nhập miền nam qua Lào và hai tháng sau đoàn 779 xâm nhập đường biển. Năm 1959 có hơn 2,500 vụ ám sát các viên chức chính phủ, gấp hai lần năm 1958 (12). Ngày 12-12-1960, CSBV thành lập Mặt trận giải phóng miền nam tại Hà nội, chính thức ra mắt ngày 20-12-1960 (13). Ngày 18-9-1961 hai tiểu đoàn VC chiếm tỉnh lỵ Phước Thành trọn một ngày, giết tỉnh trưởng, phó tỉnh trưởng và 10 công chức, tổng cộng có 17,000 cán binh xâm nhập miền nam. Ngày 18-10-1961 Tổng thống VNCH ban hành t́nh trạng khẩn cấp toàn quốc (14). Năm 1962 cố vấn Mỹ gia tăng 11,300 người, quân đội VNCH tăng lên 220,000 người (15).

Đầu tháng 1-1963 trận Ấp Bắc thuộc tỉnh Mỹ Tho, VC bắn rơi 4 trực thăng Mỹ và bắn cháy ba M113, VNCH thiệt hại 63 người, Mỹ có 3 người chết, VC chết 41 nguời (16). Ngày 23-11-1963 tại trận Hiệp Ḥa, tỉnh Hậu Nghĩa có 41 Dân sự chiến đấu miền nam bị giết, 120 bị thương , 32 mất tích, VC bỏ lại 7 xác, 4 lực lượng đặc biệt Mỹ mất tích (17). Ngày 1-1-1964 VC pháo kích phi trường Biên ḥa, phá hủy 6 máy bay B-57, làm hư hại 20 cái khác , giết 5 người Mỹ, 2 VN, 76 bị thương (18). Từ 1959 cho tới 1962 có 100 cố vấn Mỹ bị giết, tới cuối 1964, tổng cộng có 416 người Mỹ bị giết chưa kể số người bị thương và bị bắt làm tù binh (19). Từ cuối 1964, đầu 1965 Hà nội công khai đưa quân chính qui vào nam. Như thế chiến tranh đă diễn ra rất sôi động rồi, cần ǵ phải t́m lư do?

Johnson chẳng thiếu ǵ chứng cớ để xin Quốc hội ủng hộ, đâu cần phải ngụy tạo biến cố Vịnh Bắc Việt ? dù có hay không Nghị quyết th́ cuộc chiến tranh giữa Mỹ-VNCH với Hà nội đă diễn ra từ lâu rồi.

Ngoài ra Johnson không phải diều hâu, ông chủ trương ḥa b́nh, dùng oanh tạc đe dọa để Hà nội thấy cái giá phải trả mà từ bỏ cuộc chiến xâm lược, khác với ứng cử viên đối lập Goldwater chủ trương đánh mạnh hơn nữa. Năm 1965 khi t́nh h́nh quân sự tại miền nam rất xấu, Cộng quân gia tăng xâm nhập tấn công liên tục, Quân đội miền nam bị thiệt hại nhiều, Tướng Westmoreland khẩn khoản xin McNamara và Johnson gửi thêm quân tác chiến để cứu nguy miền nam. Mặc dù vậy, Johnson vẫn chần chừ, ông thăm ḍ các cố vấn, hỏi ư kiến cựu Tổng thống Eisenhower đến khi mọi người khuyên ông phải tăng quân theo yêu cầu của Tư lệnh, Johnson mới chịu dấn thân. Ông leo thang khi Hà Nội đă gia tăng xâm nhập, tấn công mạnh để làm sụp đổ VNCH. Trong khi đại đa số người dân, Quốc hội ủng hộ cổ vơ cuộc chiến, nó đă gián tiếp lôi cuốn Johnson can thiệp, ông tham gia cuộc chiến để khỏi mất phiếu v́ bị cho là nhu nhược.

Nguyên do TT Johnson không muốn tham gia cuộc chiến VN v́ sợ nó sẽ làm hỏng chương tŕnh chương tŕnh phúc lợi xă hội Great Society của ông gồm medicaire, cải tổ di dân, chống nghèo, làm dịu kỳ thị chủng tộc, nâng đỡ nhân quyền…. Johnson nghĩ ngân sách quốc pḥng sẽ làm hỏng chương tŕnh xă hội của ông.

Nếu nói là Johnson lừa gạt Quốc hội để được chấp thuận Nghị quyết Vịnh BV 1964 rồi đem quân vào VN là không đúng tí nào v́ dù không có Nghị quyết này ông vẫn có thể đem quân vào VN mà không cần đưa ra Quốc hội v́ hồi đó chưa có Nghị quyết War Powers Resolution, giới hạn quyền Tổng thống trong chiến tranh mà măi tới năm 1973 mới có.

(Tháng 8- 1973 War Powers Resolution được ban hành, nó qui định TT phải tham khảo Quốc Hội trước khi tham chiến. Sau khi tham khảo, TT có quyền tham chiến trong 60 ngày không cần sự chấp thuận của Quốc Hội và thêm 30 ngày nữa….)

Trường hợp TT Johnson gần giống TT Bush năm 2003 khi ông đă được Quốc hội và người dân ủng hộ cuộc chiến Iraq, nhưng mấy năm sau khi bị sa lầy người ta chỉ trích ông lừa gạt người dân v́ không t́m thấy vũ khí giết người hàng loạt. Tuy nhiên trường hợp Johnson có hơi khác là ông không muốn tham chiến v́ chuẩn bị ứng cử, v́ chương tŕnh phúc lợi xă hội.. c̣n Bush muốn chiến tranh, nhiều người nói cuộc chiến Iraq là do ư muốn của chính ông.

Người ta chỉ trích chiến dịch oanh tạc BV thất bại, Johnson không làm cho BV chịu thua cuộc nhưng cả Quốc hội, người dân cũng tin vào kế hoạch này. Không riêng ǵ Johnson mà cả nước Mỹ sai lầm v́ chủ quan, khinh địch, đánh giá quá thấp đối phương cũng như CS quốc tế, quá tin tưởng vào sức mạnh của ḿnh. Chiến dịch thất bại một phần v́ hỏa lực pḥng không địch rất mạnh, người Mỹ không nghĩ CS quốc tế viện trợ cho Hà Nội dồi dào như thế, từ đầu chí cuối họ đă cung cấp cho BV 3,229 khẩu cao xạ; 20,000 hỏa tiễn địa-không (SAM) (20)

Phản chiến nói TT Johnson lừa Quốc hội để có Nghị quyết vịnh BV, từ Nghị quyết này đi tới cuộc chiến lớn và sa lầy tại VN, có nghĩa v́ sự lừa gạt mà đưa tới cuộc chiến VN. Nhận định này không có căn cứ tí nào v́ như đă nói dù không có biến cố vịnh BV Johnson cũng có những lư do khác để đưa ra Quốc hội, và thậm chí dù không có Nghị quyết Vịnh BV 1964, ông vẫn có thể đưa quân vào VN được v́ ông là Tổng tư lệnh quân đội, v́ t́nh h́nh đ̣i hỏi và v́ hồi đó chưa có Nghị quyết hạn chế quyền Tổng thống (1973).

Những người chống chiến tranh và cả McNamara sau này cho là cuộc chiến VN sai lầm, nhưng nếu sai lầm tại sao không rút bỏ VN từ giữa thập niên 60? Tháng 12-1964, Hội đồng quân lực VNCH đă yêu cầu Quốc trưởng Phan Khắc Sứu và Thủ tướng Trần văn Hương trục xuất Đại sứ Mỹ Taylor mà họ cho là có thái độ hách dịch (21). Trong tường tŕnh cuối năm về Ṭa Bạch ốc, Taylor có đề nghị rút bỏ miền nam VN (22) nhưng không được ai chú ư. McNamara (hồi kư trang 320) cho là đáng lư Mỹ phải rút bỏ miền nam từ cuối 1963 hay cuối 1964 hoặc đầu 1965.

Nói cho oai thôi chứ trên thực tế Hoa kỳ vẫn bám vào miền nam VN kỹ lắm, mặc dù 1965, 1966 phản chiến tại Mỹ lên cao, ngay tại miền nam cũng có nhóm quá khích chống chiến tranh1966 nhưng họ cũng không dám rút bỏ. Người Mỹ chỉ rút bỏ VN năm 1975 sau khi đă ḥa được với CS quốc tế.

Những năm 1964, 1965 Hoa Kỳ có thể lựa chọn hoặc tham chiến hoặc rút bỏ miền nam VN hay không? Thực ra họ không có con đường nào khác hơn là can thiệp vào cuộc chiến VN để giữ Đông nam Á, để bảo vệ an ninh cho chính họ, bảo vệ cho chính quyền lợi của nước Mỹ.

Như thế không thể kết luận chỉ có Johnson là người đă đưa nước Mỹ vào cuộc chiến sa lầ.

© Trọng Đạt

Chú thích

(1) McNamara, In Retrospect, The Tragedy and Lessons of Vietnam, trang 127-143
(2) In Retrospect trang 140
(3) In Retrospect trang 141
(4) No More Vietnams trang 73-76
(5) No More Vietnams trang 74
(6) The Vietnam war, trang 81, 82
(7) The Vietnam war 1945-1990, trang 120-123
(8) Vietnam a History trang 388,389
(9) Vietnam a History trang 390; answer.com, domino theory
(10) In Retrospect trang 134
(11) Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu 1955-1963, trang 152
(12) Nguyễn Đức Phương, Chiến Tranh Việt Nam Toàn tập trang 61
(13) VN Niên Biểu trang 206
(14) VN Niên Biểu trang 228,229
(15) Chiến Tranh VN Toàn Tập trang 61
(16) Sách kể trên trang 63.
(17) Sách kể trên trang 94,95
(18) The World Almanac of The Vietnam War trang 95
(19) National Archives, Statistical Information about Fatal Casualties of the Vietnam War
(20) Đăng Phong, Năm Đường Ṃn Hồ Chí Minh, nhà xuất bản Trí thức Hà nội 2008, trang 120, 121
(21) Lâm vĩnh Thế, VNCH 1963-1967, Những Năm Xáo Trộn trang 98
(22) In Retrospect, trang 164
Attached Thumbnails
Click image for larger version

Name:	1152.jpg
Views:	0
Size:	55.8 KB
ID:	1356503  
hoanglan22_is_offline   Reply With Quote
Old 04-01-2019   #83
hoanglan22
hoanglan22's Avatar
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Apr 2011
Posts: 5,908
Thanks: 3,711
Thanked 7,527 Times in 3,566 Posts
Mentioned: 47 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 2477 Post(s)
Rep Power: 15
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
Reputation: 23623
Default Chiếc bàn ủi con gà nhà tôi

Nhờ có các chị lớn đi học mặc áo dài, cần phải ủi ngay ngắn nên nhà tôi có bàn ủi con gà khá sớm. Thời đó, quần áo nữ thường được may bằng các loại xoa như xoa Pháp, xoa suưt, nilon, xoa nhung mềm mại… dễ bị nhăn khi giặt nên cần phải ủi cho ngay ngắn.

Bàn ủi con gà được sản xuất từ Pháp cách đây khoảng 200 năm. Sau này ở Huế, khoảng năm 1930, cũng có đúc ra loại bàn ủi giống như vầy.



Bàn ủi con gà của Pháp được đúc bằng đồng có khả năng tích nhiệt từ than củi do chúng ta đốt sẵn từ bên ngoài cho vào. Do có một cái khóa h́nh con gà cũng bằng đồng cài lại cho chắc để khi ủi không bật tung ra trong lúc ủi đồ, nên người ta quen gọi nó là “bàn ủi con gà”.

Bên trong bàn ủi có một cái vỉ kê cao khoảng một phân, nằm vừa khít với phần đáy bàn ủi. Cái vỉ này có tác dụng giữ than cách với bàn ủi cho bàn ủi không bị nóng táp dễ cháy đồ, đồng thời là chỗ chứa lớp tro tàn từ than nóng. Nếu ủi đồ nhiều, cần phải đổ than ra ngoài thay than hồng khác cho nóng.

Trong lúc ủi, thỉnh thoảng dùng cái quạt mo quạt vào hàng lỗ dưới hông bàn ủi giúp cho tro bay bớt và than nóng lên.

Ngoài ra, c̣n có một cái đế h́nh tam giác là nơi đặt bàn ủi những khi nghỉ tay để xoay trở áo quần.

Khi cả nhà đi xuống chợ ở, tôi vừa nấu bếp dầu vừa nấu bếp củi. Dầu th́ cứ lăn thùng phi ra cây xăng bơm vào, rồi lăn về nhà xài. C̣n củi th́ chở trên quê xuống, má tôi lúc nào cũng chất để dành cả chục thước củi đă được phơi khô trong nhà.

Mấy chị tôi khi nào cần ủi đồ th́ dặn tôi nấu bếp củi để có than mà ủi đồ. Tôi phải lựa những loại củi chắc cây cho than lâu tàn, nếu có mủng vùa đốt lên than sẽ rất nóng mà lại lâu tàn hơn.

Có hôm mấy chị lười bắt tôi ủi đồ, nhờ vậy tôi ủi đồ cho ḿnh luôn. Tôi được cái lanh tay lẹ chân nên khi ủi đồ, tôi vừa ủi vừa xoay trở áo quần mà không cần đặt bàn ủi xuống. Chỉ ở chỗ khó phải căng ra ủi cẩn thận, tôi mới đặt bàn ủi xuống.

Có những lúc vội vàng, tôi gài cái khóa con gà không kỹ, vừa xách lên th́ than đổ ra đất tùm lum. Lại có lần tôi quên không thử bàn ủi trước, nên bị cháy một lỗ to. Khi bỏ than vào, bàn ủi tích nhiệt rất nóng nên phải ủi qua miếng lá chuối tươi cho đến khi nó khô quéo mới an tâm mà ủi quần áo.

Sau 75, bàn ủi con gà cũng theo tôi về trên quê. Lúc đó tôi đi học ở trường Trương Định G̣ Công. Quần áo lúc đó không có nhiều, nên lắm lúc mắc mưa, đồ giặt không kịp khô. Khuya tôi dậy nấu cơm sớm, đốt lấy than để ủi đồ. Củi than cháy chưa hết, bỏ vào bàn ủi, lúc ủi khói bay lên cay chảy nước mắt. Đă vậy quần áo c̣n ướt, ủi năm lần ba lượt mới khô, nếu không c̣n nóng phải đi thay than khác.

Lâu rồi cái khóa con gà bị lờn, cài lại không dính nên tôi phải dùng sợi dây vải cột từ tay cầm bàn ủi tṛng qua đầu con gà giữ cho chặt.

Những năm tháng đó nếu không có bàn ủi con gà th́ không biết làm sao, chẳng lẽ mặc đồ ướt đồ nhăn đi học, nhất là vải xoa dễ nhăn.


Rời quê lên Sài G̣n, tôi quên khuấy mất cái bàn ủi con gà thân thương. Cứ vài ba ngày tôi ủi đồ cho cô dượng tôi bằng bàn ủi điện, nhẹ nhàng không có khói và nhất là không sợ cháy đồ như bàn ủi than.

Nhưng khi bước ra đường, tôi lại thấy bàn ủi con gà ở một vài góc phố lúc cần đi ép nhựa giấy tờ. Họ cắt miếng nhựa đặt giấy tờ trong đó, rồi đặt miếng giấy lụa lên, đẩy bàn ủi đi bốn phía. Sau này người ta dùng máy điện để ép nhựa, ép plastic, tôi vẫn thấy c̣n vài người ngồi góc đường vời bàn ủi con gà ép nhựa giấy tờ.

Tôi nhớ, một thời những người này c̣n ép b́a bao tập vở cho học sinh. Sau nữa có những cuốn sách quá khổ cũng nhờ bàn ủi con gà ép cho cái b́a bao. Có người có thâm niên ép nhựa cả 40 năm…

Bàn ủi trở nên món đồ cổ khi người ta xài bàn ủi điện, cho nó ra ŕa. Nhưng nhờ vậy, bàn ủi con gà càng tăng giá trị cùa nó mà theo báo chí đưa tin là có những tay săn lùng t́m mua với giá bạc tỷ (?).

Bàn ủi con gà có giá, nói nào ngay, cũng v́ nó đặc biệt. Đó là “con gà” gắn trong bàn ủi phải là loại đồng lạnh, tức là nó không hấp nhiệt; trong bàn ủi có than, vậy mà rờ vào “con gà” vẫn không thấy nóng.




Nghe nói có một người đàn ông ở ngoài Nha Trang đă sưu tầm cả trăm cái bàn ủi than đủ loại – mà ông gọi là bộ sưu tập “Kư ức thời thơ ấu”. Ngoài bàn ủi con gà đủ loại với năm sản xuất khác nhau, ông c̣n có những loại bàn ủi khác như bàn ủi hoa sen triều Nguyễn, bàn ủi h́nh đầu lính La Mă, bàn ủi của Mỹ nhỏ nặng khoảng 100 gram…

Tôi không quan tâm đồ cổ v́ đôi khi vật chất vô hồn, người giữ nó phải có tâm th́ mới thổi hồn vào cho nó trở nên sống động. Tôi chỉ có thể nhớ đến một thời bàn ủi con gà mà lắm khi trong ḍng đời trôi chảy tôi vô t́nh quên nó đi.

Cảm ơn sự hiện diện của cái bàn ủi con gà trong hành tŕnh của tôi, như một người bạn đă giúp đỡ tôi những lúc cần đến…

Đăng lại từ Fanpage Dấu Quê
Attached Thumbnails
Click image for larger version

Name:	Chiec-ban-ui-con-ga-00.jpg
Views:	0
Size:	76.5 KB
ID:	1359101   Click image for larger version

Name:	Chiec-ban-ui-con-ga-01.jpg
Views:	0
Size:	66.4 KB
ID:	1359102   Click image for larger version

Name:	Chiec-ban-ui-con-ga-02.jpg
Views:	0
Size:	50.5 KB
ID:	1359103  
hoanglan22_is_offline   Reply With Quote
Old 04-01-2019   #84
hoanglan22
hoanglan22's Avatar
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Apr 2011
Posts: 5,908
Thanks: 3,711
Thanked 7,527 Times in 3,566 Posts
Mentioned: 47 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 2477 Post(s)
Rep Power: 15
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
Reputation: 23623
Default Chuyến Đi Kinh Hoàng - Những Món Nợ Ân T́nh Không Bao Giờ Trả Được

(Xin chân thành gửi đến anh Trần Đ́nh Phước, cựu Trung Úy Không Quân VNCH, sự biết ơn sâu xa đă khuyến khích, bỏ ra nhiều thời gian và nhiệt t́nh giúp tôi hoàn tất viết lại những ḍng hồi kư đúng vào ngày Giáng Sinh 2015 về chuyến đi nhiều phép lạ mầu nhiệm này.)

Kính dâng lên hương hồn những thuyền nhân đă bỏ ḿnh trên biển cả v́ lư tưởng tự do. H́nh ảnh hiệu đính trên bài viết do một thuyền nhân là CVH, cựu Trung Úy Không Quân VNCH, cựu Phóng Viên Đài VOA cung cấp sau chuyến đi thăm lại Đảo Pulau Bidong vào tháng 08, năm 2015. Nơi đây hàng trăm ngàn thuyền nhân Việt Nam đă tạm dừng chân, trước khi được đi định cư ở một nước thứ ba. (tdp)

Cuộc đời chúng ta có những điều trôi qua, rồi tan biến như cơn gió thoảng. Tuy nhiên, có những điều măi măi in đậm trong kư ức, dù có muốn quên cũng không thể nào quên được. Đối với tôi, một trong những điều không thể nào quên và cũng là món nợ không bao giờ trả được, dù bây giờ tôi có tiền rừng, bạc biển chăng nữa!

Câu chuyện xảy ra đă hơn ba mươi mốt năm. Hôm nay tôi xin ghi lại những phép lạ, mà tôi may mắn được chứng nghiệm trong chuyến đi bảy ngày đêm lênh đênh trên biển cả, với nhiều biến cố hăi hùng và kinh dị. Nếu như không có bàn tay nhiệm mầu của Thượng Đế, Trời, Phật cứu vớt th́ 137 người đă cùng chết trong ḷng đại dương trên bước đường đi t́m "Tự Do".

Chuyến đi rất bất ngờ, do hai ân nhân là anh Nguyễn Vinh Tôn và anh ruột là Nguyễn Quốc Trụ, cựu Đại Úy thuộc binh chủng Nhảy Dù Quân Đội VNCH bảo trợ cho tôi mọi chi phí được trả từ Hoa Kỳ.

Có lẽ v́ đột ngột, nên tôi đă khóc suốt đêm và không thể nào ngủ được. Tâm trạng khác hẳn với những lần đi trước. Chưa ra đi mà trong ḷng đă tràn dâng niềm thương nhớ những người thân yêu trong gia đ́nh.

Khoảng 3 giờ sáng, ngày 23-9-1984, tôi đến thắp nhang bàn thờ Phật. Nguyện cầu cho chuyến đi được b́nh an, may mắn, tai qua nạn khỏi, không bị tù đày, nhất là đừng gặp hải tặc. Có như thế tôi mới có thể giúp được gia đ́nh thoát được cuộc sống bế tắc, khó khăn như hiện nay. Tôi cầu nguyện sức khoẻ, b́nh an, may mắn đến cho bố tôi đă già yếu, bệnh tật, cùng các anh chị em và một người tôi gọi là Cô đang sống đơn chiếc (đúng ra là D́ v́ là em ruột của mẹ tôi). Cô đă đùm bọc, giúp đỡ gia đ́nh chúng tôi rất nhiều kể từ khi Mẹ tôi bất ngờ ra đi v́ quá đau khổ và lo sợ cho ngày mai đen tối của một gia đ́nh mà hầu hết là quân nhân, công chức của chính quyền Việt Nam Cộng Hoà, sau biến cố 30-4-1975.

Và trong chuyến đi này, tôi cũng có thêm một lời nguyện cầu:Tôi sẽ tái ngộ một “Thiên Thần” đang chờ đợi tôi với một tấm ḷng trong sáng và cao quư.

Lúc 3giờ 45 sáng.Tôi đánh thức cô tôi dậy. Cô cũng vừa mới chợp mắt được một chút. Tôi cố giữ thật b́nh tĩnh chào từ giă cô để cho cô được yên tâm. Trong gia đ́nh và bà con thân thuộc chỉ có cô lúc nào cũng bên cạnh tôi và là người duy nhất biết tôi sắp đi xa, mà chuyến đi này lành th́ ít, nhưng dữ th́ quá nhiều không thể nào lường được. Ngoài ra, cần phải giữ bí mật v́ sơ xuất sẽ gặp những điều nguy hiểm có thể xảy ra.

Đúng 4:00 giờ sáng, nh́n qua khe cửa sổ, tôi thấy đèn từ một chiếc Honda gắn máy chớp đi, chớp lại bốn lần trước cửa nhà. Đây là tín hiệu mà tôi đă được cho biết trước: Có người trong nhóm tổ chức sẽ đến đón tôi.

Tôi lặng lẽ, nhẹ nhàng mở cửa. Tay ôm một túi xách nhỏ gồm: một ít lương khô, một bộ quần áo cũ, vài tấm ảnh gia đ́nh, một quyển kinh loại bỏ túi “Bạch Y Thần Chú” do bác tôi cho. Bác căn dặn phải thường xuyên khấn niệm để cầu xin b́nh an; và một sợi dây chuyền có h́nh con chim Đại Bàng đang xoè cánh do một người bạn tặng tôi từ lâu. Tôi luôn mang theo trong người v́ biết người ấy luôn luôn cầu nguyện cho tôi được may mắn. Đối với tôi, đó cũng là một biểu tượng "thần thoại. " Tôi sẽ được chim Đại Bàng mang tôi đến vùng trời mơ ước.Tôi cũng bỏ theo một b́nh nước nhỏ, tuy rằng, người của tổ chức dặn đừng mang theo ǵ hết v́ họ đă chuẩn bị tất cả đâu vào đó rồi.

Ngồi sau lưng người lái Honda mà tôi hoàn toàn không hề quen biết, tôi hơi lo sợ. Ngoái cổ nh́n lại con hẻm nhỏ thân yêu của một xóm nghèo gần ngă ba Cao Thắng và Trần Quốc Toản, Sài g̣n. Giờ này hầu như mọi người đang yên giấc. Tôi chào vĩnh biệt trong nước mắt căn nhà mà gia đ́nh tôi nương náu gần mười năm qua. Nơi đây bố tôi đă đưa cả gia đ́nh về sống, sau khi trả lại căn nhà do chính phủ VNCH cấp cho công chức chỉ trước biến cố 30/04/1975 vài tháng. Nếu c̣n tiếp tục ở lại căn nhà đó th́ không biết gia đ́nh tôi sẽ gặp khó khăn biết chừng nào, khi người ta đến tiếp thu và yêu cầu gia đ́nh tôi phải ra khỏi trong ṿng hai mươi bốn giờ.

Tài xế Honda chở tôi ra bến xe miền Tây. Tại đây có một ngựi đàn ông đội nón đen đă đứng chờ sẵn, ông ta trao vé xe đ̣ đă mua từ trước để tôi lên xe đi Mỹ Tho. Khi đến Mỹ Tho, tôi được một người đàn ông khác hướng dẫn chuyển xe đi tiếp Bến Tre. Đến nơi, khoảng giữa trưa, tôi cùng mấy nguời đă tới trước cùng ngồi ăn với nhau. Tôi nghĩ họ là những người sẽ cùng đi chung chuyến vượt biên với tôi.

Sau khi ăn trưa xong, tất cả được mời lên xe Lambretta ba bánh để chở ra bến đ̣ gần đó. Tại đây, người ta chia chúng tôi ra từng nhóm xuống những chiếc ghe nhỏ chở đầy trái cây để ngụy trang mà dân vượt biên c̣n gọi là “Ghe Taxi, hay “Cá Nhỏ”, để tránh những trạm kiểm soát dọc bờ sông, hoặc đột xuất có thể chận lại khám xét bất th́nh ĺnh.

Ghe đi được một lúc th́ nhóm tổ chức phát cho mỗi người một miếng giấy nhỏ, với mật mă do nhóm tổ chức ghi trên đó. Cho đến chiều th́ ghe tấp vào một bụi rậm ven sông để chờ đợi. Khi bóng đêm vừa bao trùm xuống, ghe lại tiếp tục đi thêm một khoảng khá xa. Tại đây đă có một ghe lớn neo sẵn, c̣n gọi là “Cá Lớn.” Đây là ghe sẽ đưa chúng tôi ra đi trên biển cả.

Lúc này đă có nhiều ghe nhỏ đang vây quanh và mọi người cùng một lúc đang t́m mọi cách để leo lên Cá Lớn, nên vô cùng hỗn loạn. Phụ nữ, trẻ em đứng trên vai những người đàn ông hay thân nhân để vịn vào thành ghe, sau đó nhảy lọt được vào cá lớn. Trước cảnh đó, tôi chỉ muốn bỏ cuộc, v́ nghĩ rằng tôi không thể nào đủ sức để có thể tự nhảy lên bám được vào thành ghe, rồi sau đó leo vào bên trong. Thời học sinh, tôi luôn luôn đứng cuối lớp về môn Thể Dục, đặc biệt là hai môn leo dây và nhảy cao th́ yếu nhất. Bây giờ, nếu đứng trên mặt đất bằng phẳng, tôi cũng không thể nào làm nỗi, huống chi là phải bám vào thành ghe đang tṛng trành trên sông nước. Tôi lại nhỏ con, thể lực rất yếu đuối; nếu chẳng may không vào được con cá lớn mà bị rớt xuống sông trong cảnh hỗn loạn và bóng đêm dày đặc này, chắc chắn một trăm phần trăm là chết đuối, v́ tôi không biết bơi và cũng chẳng có ai can đảm cứu tôi trong lúc này. Nhưng nếu bỏ cuộc, có nghĩa là sẽ ở tù, v́ tôi không thể t́m cách trở về nhà được trong lúc này nữa.

Tôi chỉ c̣n biết cầu xin Trời, Phật, Ông Bà khuất mặt hăy cứu vớt: “Con không thể đi tù thêm lần nữa! Con không thể nào chết. Con phải đi thoát được th́ con mới có cơ hội giúp gia đ́nh. Tất cả đang trông vào con. Gia đ́nh con không có điều kiện tiền bạc để cho con vượt biên. Nay có quư nhơn giúp đỡ, con chỉ cần quyết tâm, chấp nhận gian nguy là đạt được. Trời Phật có thương con, phù hộ cho con th́ con sẽ vượt qua.”

Tôi đă có kinh nghiệm trong lần vượt biên ở Cần Giờ bị bắt vào năm 1981 và ở tù trong Chí Hoà, sau đó bị đưa đi lao động ở Sông Bé. Chỉ trong vài phút thôi, Cá Lớn sẽ nhổ neo. Không bao giờ tổ chức vượt biên đợi người lên đầy đủ mới ra đi.

Tôi không thể do dự hay chần chờ ǵ nữa! Phải quyết định tức khắc. Tôi vừa khóc, vừa niệm Phật, vừa cố lấy hết sức nhắm vào thành Cá Lớn, tung hết sức b́nh sinh nhảy thật cao, thật chắc. Ôi! thật là may mắn! Tôi bám được vào thành ghe. Ôi! Tôi đă lọt thỏm vào Cá Lớn. Phải chăng có một sức mạnh vô h́nh nào đă nhấc bổng tôi lên, để tôi được vào khoang ghe, v́ b́nh thường tôi không bao giờ có thể làm nỗi điều này. Chưa kịp đứng lên th́ đă bị một số người nhảy tiếp sau đạp và đè lên khắp người. Tôi lại tiếp tục niệm Phật giúp tôi có đủ sức đứng dậy; nếu không tôi sẽ bị chết bẹp ở đây. May sao!tôi đứng dậy được và nép sát người vào thành ghe.

Chưa kịp hoàn hồn, nghe tiếng hét to: “Không ai được lên nữa! Ghe đă quá trọng tải. Nếu c̣n tiếp tục nhảy lên, ghe sẽ bị lật và ch́m, tất cả mọi người sẽ chết tại gịng sông này.” Ngay sau đó, người của tổ chức bật đèn pin sáng lên để bắt đầu kiểm tra mật mă. Một số người tŕnh mất mă, nhưng họ cho là không đúng và ra lệnh quăng những người này xuống những chiếc “Ta Xi” vẫn c̣n đang bao quanh con"Cá Lớn"chờ đợi.

Khi đến chỗ tôi đứng, tôi rất tự tin trao mảnh giấy ra cho họ xem. Vừa đọc xong, họ nói "Đây là mật mă của Ba Châu (tên người liên lạc dẫn tôi đi.) Chúng tôi không chấp nhận khách của Ba Châu. Vậy xin mời cô trở xuống ghe taxi đi về." Nghe đến đây, tôi tưởng chừng như tiếng sét đánh ngang tai, chân tay rụng rời. Làm sao lại xảy ra như vậy? Khách nào của Ba Châu cũng đều bị tai hoạ bất ngờ v́ sự bất đồng và phản bội trong nội bộ tổ chức với nhau.

Nghĩ lại, nếu không nhờ phép lạ th́ làm sao tôi lọt được vào cá lớn, rồi sau đó đứng dậy an toàn được. Vậy mà bây giờ bị đuổi xuống và chắc chắn sẽ lại bị ở tù.

Không thể được! Tôi bật khóc và năn nỉ "Tôi cũng là khách như những người khác, nhưng chẳng may là khách của Ba Châu. Gia đ́nh tôi đă thoả thuận mọi điều kiện cho chuyến đi qua Ba Châu. Nay xin các bác, các anh cho tôi được tiếp tục đi. Gia đ́nh tôi ở Mỹ sẽ đền ơn theo mọi điều kiện yêu cầu của quí vị." Khóc lóc, van nài, nhưng họ vẫn một mực dứt khoát từ chối. Hai người đàn ông được lệnh khiêng đầu và chân tôi quăng xuống ghe taxi. Tôi coi như chắc chắn vào tù. Trong ḷng quá đau xót và coi như số tôi phải vào tù không thể nào tránh được.

Bỗng nhiên, ánh sáng đèn pin vụt tắt. Hai người đang khiêng tôi bèn bỏ tôi xuống sàn ghe. Cá Lớn được lệnh phải xả hết tốc lực phóng ra biển. Có lẽ thời gian mua băi đă hết, nếu chậm trễ toán công an biên pḥng khác đến đổi phiên trực có thể giữ ghe lại? Tôi bàng hoàng mừng rỡ; chỉ trong tích tắc tôi đă thoát được cảnh ngục tù. Phải chăng cũng là một phép lạ do Ơn Trên đă cứu tôi?

Chiếc ghe nhắm hướng ra biển lao như mũi tên bay trong bóng đêm dày đặc nghe rợn cả người. Chạy khoảng hơn bốn tiếng đồng hồ th́ có những tiếng reo mừng:"Ghe đă ra được Hải Phận Quốc Tế. Chúng ta coi như sắp được tự do rồi.” Vừa nghe xong, tôi oà lên khóc nức nở, dù trong ḷng cũng mừng. V́ từ giờ phút này tôi đă thật sự xa tất cả những người thân yêu. Không biết đến bao giờ mới có thể gặp lại, hoặc xa ĺa vĩnh viễn; nếu như gặp nạn không tới được bến bờ.

Lúc này nhóm tổ chức bắt đầu quay lại hạch sách những hành khách của Ba Châu đang có mặt trên ghe. Họ doạ nạt từng người. Ai có cà rá, đồng hồ hay bất kỳ vật nào có giá trị th́ đưa cho họ ngay. Khi họ hỏi tôi có ǵ đưa cho họ, tôi trả lời không có ǵ hết, ngoài một ít hành lư tôi đang có trên người. Thậ ra, tôi có giấu một chỉ vàng trong áo lót được cô tôi cho để pḥng khi hữu sự. Tôi không thể nào nộp cho họ.Tôi năn nỉ với họ là khi nào được định cư, tôi hứa sẽ xin hoàn lại đầy đủ.

Trời lại dần dần sáng. Một ngày mới bắt đầu trên đại dương bao la. Tất cả đều vui mừng và hy vọng vài ngày nữa sẽ đến được bất cứ trại tị nạn nào và sau đó được đi định cư ở một nước thứ ba; lúc đó coi như đổi đời. Khi mặt trời lên cao, nắng chói chang, có lẽ là giữa trưa, nhóm chủ ghe bắt đầu cho phân phối nước uống. Tiêu chuẩn cho mỗi người là hai muỗng canh, phát vào buổi sáng và vào buổi chiều. Điều này khiến mọi người trên ghe hoang mang. Vậy là sao? Lúc đi đă hứa lương thực, nước uống cung cấp đầy đủ. Bây giờ lại xảy ra t́nh huống kỳ quái này! Có chuyện ǵ đây?

Lúc này, chủ ghe mới cho biết là anh tài công chánh mang theo các phương tiện đi biển đă bị kẹt lại, không hiểu v́ lư do ǵ mà không lên Cá Lớn được? Nên chúng ta khó hy vọng sẽ đi đến được các trại tị nạn như đă dự tính, v́ trên ghe không ai có kinh nghiệm đi biển. Tài công phụ chỉ có kinh nghiệm đi đường sông. Bây giờ chỉ c̣n trông mong vào số mệnh và ơn trên cứu giúp. Phải lênh đênh trên biển không biết bao nhiêu ngày. Cầu xin sóng yên, biển lặng và gặp tàu thuyền nào đi ngang qua xin được cứu vớt, như vài trường hợp các ghe đi trước may mắn đă gặp. Bây giờ, xin các bà con thông cảm về việc cần phải tiết kiệm nước tối đa để có thể cầm cự trong thời gian dài chưa biết đến khi nào.

Khi nghe chủ ghe giải thích xong, mọi người trên ghe cùng nh́n nhau lo lắng. Riêng tôi chết lặng cả người. Bao nhiêu tin tức về chuyện vượt biên lởn vởn trong đầu óc tôi. Có những chuyến, nếu may mắn không có ǵ xảy ra th́ chỉ vài ba ngày là đến được trại tị nạn. Có những chuyến lênh đênh cả tháng trời bị các cơn đói khát, bệnh tật hành hạ. Đôi khi phải ăn thịt lẫn nhau để được sống c̣n; và cũng có những chuyến bị hải tặc tấn công cướp bóc, hảm hiếp và những phụ nữ bị bắt đem theo chúng. Biết bao là những bi kịch thảm khốc về chuyện vượt biên mà các cơ quan truyền thông đă đăng tải.

Tôi nghĩ số phận chíếc ghe của chúng tôi sẽ trôi giạt về đâu? Bến bờ vô định nào? Lương thực, nước uống, xăng nhớt sẽ cạn kiệt trong bao lâu nữa? Và cũng có thể làm mồi cho đại dương. Tôi có đạt được sự đổi đời như mơ ước, được sống và học hỏi ở các nước văn minh, dân chủ, tự do. Lúc đó tôi sẽ có điều kiện để giúp đỡ gia đ́nh đang tin tưởng vào nơi tôi. Hoặc tôi tự trách ḿnh đi t́m một cái chết ngu xuẩn, làm cho gia đ́nh đau khổ hơn và mang tội bất hiếu với bố tôi. Trước mắt, tôi cứ niệm Phật, cầu nguyện cho được may mắn. Mà rơ ràng tôi đă thoát chết từ lúc nhảy vào được cá lớn, và chút xíu nữa đă bị chủ ghe ném xuống "taxi", nếu không có báo động bất ngờ xảy đến.

Bóng đêm lại buông xuống, tôi mệt đừ và khát rát cả cổ họng. Phải chờ đến ngày mai mới được phát nước uống. Tôi nghĩ ḿnh có đem theo b́nh một lít nước. Nếu mỗi ngày uống hai muỗng th́ tôi có thể cầm cự được trên nửa tháng. Thế là tôi lấy ra hớp một hớp. Chưa kịp cất lại th́ vợ chồng trẻ và cô em gái ngồi kế bên thấy tôi cầm b́nh nước th́ van xin cho họ uống bằng giọng nói lễ phép và lịch sự. Tôi nghĩ cho ba người uống th́ nhiều quá, nó sẽ ảnh hưởng đến số nước dự trữ của tôi và cũng là bùa hộ mạng trong lúc này. Nhưng thấy họ nói quá, nên động ḷng trắc ẩn.Tôi trao b́nh nước cho họ và nói "xin mỗi người chỉ được một hớp thôi nhé!" Tuy nhiên, khi cầm được b́nh nước trên tay, sau khi hớp xong, họ ngang ngược không chịu trả lại, mà c̣n giở giọng côn đồ ra thách đố tôi muốn làm ǵ th́ làm! Vô t́nh tôi đă tự đánh mất bùa hộ mệnh v́ ḷng thương không đúng người.

Ngày thứ hai trôi giạt trên biển theo một hướng vô định. Cầu mong sẽ gặp đuợc tàu thuyền đi ngang qua giúp đỡ, hay phi cơ bay trên đầu để ra dấu kêu cứu. Nhưng chỉ có cả một không gian tĩnh mịch, im lặng của đại dương lạnh lùng và ghê sợ. Trên bầu trời không có bóng dáng một loài chim biển nào. Mọi người đoán là ghe đă đi lạc và cách rất xa đất liền. Tôi vừa đói, vừa khát, vừa nhức đầu, chóng mặt v́ các mùi hôi thối của ói mửa, tiêu tiểu của trẻ con bắt đầu xông lên nồng nặc, v́ chỉ có một chỗ đi vệ sinh nằm ở phía cuối ghe, trong khi người nằm, kẻ ngồi la liệt không c̣n chỗ để nhúc nhích.

Sự khủng hoảng bắt đầu khi cô bé khoảng mười lăm tuổi, ngồi đối diện tôi bị ngất xỉu v́ khát. Mẹ của cô khẩn khoản, van xin “Ai có nuớc làm ơn cho con tôi xin một hớp; một hớp nước có thể cứu sống được con tôi”. Không một ai lên tiếng! Có lẽ mọi người nhớ lại lời nhóm chủ tàu căn dặn và đe doạ “Không ai được tự động đi lại, phải tuyệt đối giữ ǵn trật tự tối đa. Không được đ̣i hỏi bất cứ ǵ! Nếu ai không chấp hành và căi lời sẽ bị ném ngay xuống biển.” Nh́n mặt cô bé nhợt nhạt v́ khát, chỉ cần một muỗng nước là có thể đem lại sự sống cho cô ta. Không thể đành ḷng nh́n cô bé đang bất động, dù kiệt lực, tôi cũng cố gắng ḅ lên cầu thang để gặp nhóm chủ tàu xin nước cho cô bé. Họ nh́n tôi bằng cặp mắt giận dữ. Tôi b́nh tĩnh nói với họ là tôi không xin cho tôi mà xin các ông hăy nhỏ ḷng thương cho cô bé kia đang cần vài muỗng nước. Nếu không, cô ta sẽ chết v́ khát! Quả thật, khi được vài muỗng nước th́ cô bé lần hồi tỉnh lại. Gia đ́nh cô rất vui mừng và tôi cũng vui theo.

Ngày thứ ba, biển vẫn yên, sóng vẫn lặng. Đúng là Thái B́nh Dương! Tuy nhiên, trong ḷng mọi người đều bồn chồn, lo lắng. Sự đói khát đă bắt đầu hoành hành. Ánh nắng mặt trời chiếu xuống, th́ cô bé lại kiệt sức và bất tỉnh lần nữa. Gia đ́nh cô bé không dám gặp chủ tàu xin nước v́ sợ chủ tàu nóng giận th́ sẽ bị phiền phức. Sự việc xảy ra trước mắt tôi, nên tôi cũng không thể làm ngơ. Và tôi cũng cố lết đi gặp chủ tàu xin cho cô bé vài muỗng nước. Sau khi được vài muỗng nước th́ cô bắt đầu tỉnh lại dần như hôm qua.

Ánh nắng càng lúc càng gay gắt. Tôi tưởng chừng như sắp ngất xỉu đến nơi giống như cô bé vừa rồi. May sao, có một cơn mưa trút xuống. Ôi! Tôi quá mừng như vừa được hồi sinh. Những giọt nước mưa như nước cam lồ của Phật Quan Thế Âm làm mát dịu cổ họng đang rát bỏng của tôi. Nhóm chủ tàu chạy đi lấy mấy tấm bạt Nylon để hứng nước mưa, xong đổ vào những thùng nhựa. Kết quả không ai có thể thể nào uống được v́ những thùng chứa nước mưa trước đó dùng đựng nhớt, xăng dầu, làm cho nước mưa có mùi giống như nước cống rảnh, đen ng̣m cho vào miệng bị nôn ra ngoài ngay. Nhờ cơn mưa bất chợt coi như một phép màu đă tiếp sức cho tôi sống c̣n.

Sang đến ngày thứ tư lênh đênh trong vô định. Giấc mơ t́m tự do có dấu hiệu tốt đẹp hơn. Đă thấy những cánh chim biển bay trên bầu trời, thấy những vệt khói dài của vài chiếc phi cơ phản lực để lại. Bóng dáng những chiếc tàu nhấp nhô từ xa đang tiến lại gần hơn. Chủ ghe cho người đốt quần áo để phát tín hiệu xin tiếp cứu. Nhưng tất cả đều vô ích. Không một tàu nào đến gần để giúp đỡ. Có lẽ họ sợ lănh trách nhiệm và gặp nhiều phiền toái?

Thế rồi, thất vọng này, tiếp nối theo thất vọng khác. Những cơn đói khát dày ṿ cơ thể. Tôi bị khát rang cả cổ, nên không thể nào nuốt được bất cứ ǵ. Thức ăn mang theo tôi đều cho hết. Trong lúc này tôi chỉ cần một hớp nước. Nhưng nếu tôi xin chủ tàu, chắc chắn ông ta sẽ cho người quăng tôi xuống biển như lời ông ta đă hăm doạ. Trong lúc đó gia đ́nh chủ tàu có nước, có dừa, có cam quưt tha hồ sung sướng không sợ đói khát. Vài người trên ghe có sáng kiến mưu sinh thoát hiểm. Họ lượm các vỏ dừa ném bừa băi dưới ghe, đem tướt những lớp xơ để ngậm lấy chất đắng, chát và có độ ẩm để giữ cho cổ họng đỡ phần nào cháy bỏng v́ khát. Nhờ vậy mà chúng tôi vẫn tiếp tục cầm cự, chưa bị gục ngă.

Cô bé trước mặt tôi lại ngất xỉu lần thứ ba trong ba ngày liên tiếp. Tôi nhờ cơn mưa hôm qua được hồi sinh, nay nhờ ngậm thêm xơ vỏ dừa, nên cũng có thể ḅ lên cầu thang xin nước cho cô bé. Không may, ngày hôm nay nhóm chủ tàu cương quyết từ chối. Họ lấy cớ là muốn sự công bằng cho mọi người. Trong ṿng 30 phút cô bé cứ lập đi, lập lại: “cho tôi nước, cho tôi xin nước, nước, nước."Tôi thấy tội nghiệp và đau ḷng qua, cầu mong cho mưa xuống ngay bây giờ. Ôi! Tôi không tin vào mắt tôi. Cô bé nấc lên, đảo một ṿng mắt và rồi nhắm nghiền lại và bất động. Ngựi Mẹ hét lên “Cứu con tôi, con tôi chết rồi.” Tất cả mọi người đều sửng sốt. Nghe la, nhóm chủ tàu vội vàng chạy xuống đem theo nước đổ vào miệng cô bé. Nhưng vô ích! Cô bé đă bất động và không bao giờ cần xin nước nữa! Mẹ cô, anh em trong gia đ́nh khóc nức nở. Mọi người, kể cả nhóm chủ tàu cũng đều xúc động. Có lẽ họ đang hối hận về sự sai lầm của họ, khi không cho cô nước như hai ngày vừa qua. Nhất là đă không giữ lời hứa lo cho khách lương thực đầy đủ trong mười ngày.

Mới có ngày thứ năm, đă có người chết v́ không được cung cấp nước. Với t́nh trạng con thuyền trôi vô định không biết đi về đâu? Dù biển yên, sóng lặng cũng sẽ chết dần, chết ṃn, chứ đừng nghĩ chi đến sóng to, gió lớn. Lần đầu tiên, tôi thấy bóng tử thần đang chập chờn. Mọi người vừa xúc động, vừa lo sợ sẽ có thêm nhiều người kiệt sức, trước khi đến được “bến bờ Tự Do”.

Nắng đă bắt đầu tắt, hoàng hôn đang dần xuống. Nhóm chủ tàu quyết định "thủy táng cô bé". Họ kêu gọi bất cứ ai tùy theo tôn giáo của ḿnh cầu nguyện cho cô bé. Không có ai hết! Tôi không hề đi lễ chùa, không biết ǵ về nghi thức tụng niệm. Nhưng từ những năm sau 30/04/1975, tôi đă sống triền miên trong nước mắt, chỉ biết đêm ngày cầu nguyện Trời Phật cứu vớt cho gia đ́nh đang tan nát v́ cha và anh lâm nạn, trong khi Mẹ qua đời và các em c̣n quá nhỏ dại.

Những năm gần đây, có những quư nhân giúp tôi vượt biên. Trong người tôi luôn luôn mang theo quyển kinh “Bạch Y Thần Chú” để cầu nguyện. Biết rằng đây không phải là kinh cầu siêu. Nhưng tôi cảm thấy có thể làm người mất đi được ấm áp, nên tôi t́nh nguyện đứng ra thắp nhang tụng niệm. Mẹ của cô bé cho tôi biết tên em là Tuyết Nhiên (tôi không c̣n nhớ họ). Sau khi thắp nhang do chủ tàu mang theo đưa cho. Tôi lăm răm tụng niệm. Sau đó, hai người đàn ông đến gần xác cô bé, người đỡ đầu, kẻ khiêng chân đẩy xác cô bé xuống biển, trong tiếng khóc nghẹn ngào của người Mẹ và anh em trong gia đ́nh. Tôi cũng không cầm được nước mắt, thương tiếc cho cô bé hồn nhiên ngồi trước mặt tôi năm ngày qua. Hôm nay em đă đi vào ḷng đại dương chỉ v́ nhóm tổ chức đă tàn nhẫn bội ước.

Tôi chợt rùng ḿnh: "Nếu không có cơn mưa nhiệm mầu hôm qua, th́ nguời đầu tiên bị Thủy Táng đă là tôi.” V́ có lẽ không ai dám gặp nhóm tổ chức để xin nước cho tôi được hồi sinh thêm vài ngày như Tuyết Nhiên.

Sự xúc động vẫn chưa nguôi, th́ nghe tiếng xôn xao"Máy ghe bị hư rồi, tự nhiên máy ghe bị tắt, không biết làm cách nào đễ cho ghe di chuyển.Vậy, bà con nào biết ǵ về sửa chữa máy móc làm ơn giúp để cho ghe có thể đi tiếp." Một vài đàn ông, thanh niên đi tới chỗ đầu máy loay hoay sờ tới, sờ lui, nhưng chẳng mang lại kết quả ǵ! Chiếc ghe vẫn không thấy động đậy.

Sau đó một hiện tượng kỳ lạ mà tôi chưa bao giờ thấy trong đời đă diễn ra trước mắt tôi và mọi người: Tự nhiên, một số người đứng dậy nhốn nháo làm chiếc ghe tṛng trành, nghiêng qua, nghiêng lại. Nhóm tổ chức hét lớn lên:“Xin bà con hăy ngồi yên, nếu c̣n tiếp tục ghe sẽ lật úp và mọi người sẽ chết hết.”Tôi kinh ngạc nh́n thấy vài người lần lượt sắc mặt trở thành đờ đẫn, mắt ngây dại và miệng th́ thào: “Nước, cho tôi xin nước.” Đúng là ánh mắt và câu nói liên tục của Tuyết Nhiên trước khi ra đi. Đang nghĩ như vậy th́ một cô gái trẻ ngồi cạnh tôi mấy hôm nay, cũng từ từ đổi sắc mặt và lập lại đúng câu đó, giống như những người kia.

Tôi vốn dĩ rất nhát. Sau khi Mẹ tôi mất, tôi không dám đi ngang bàn thờ Mẹ một ḿnh. Vậy mà lúc ấy, trước ánh mắt kỳ quái của cô ta, tôi không hốt hoảng chạy đi t́m chỗ khác như người ta. Tôi nghĩ ngay lập tức: "Đúng là hồn của Tuyết Nhiên nhập vào cô này rồi.” Tôi b́nh tĩnh, nghiêm trang nh́n thẳng vào ánh mắt đờ đẫn, kỳ quái của cô ta và nói: “Tuyết Nhiên, em có sống khôn, thác thiêng Xin em hăy tha thứ cho những ai đă sai lầm không cho nước để em được hồi sức. Em hăy phù hộ cho Mẹ, cho anh em của em và bà con trên ghe đuợc an toàn, không bị nguy hiểm đến tính mạng. Nguyện cầu Trời, Phật, Chư Thiên Thánh Thần và Thủy Thần cho hương linh em được siêu thoát về cơi vĩnh hằng.Tôi niệm: “Nam Mô A Di Đà Phật và Nam Mô Quan Thế Âm Bồ Tát ba lần.” Thật là quá ngạc nhiên! Chỉ trong vài phút sắc mặt cô ta trở lại b́nh thường và không nhớ ḿnh vừa nói những lời cuối cùng của Tuyết Nhiên như vài người khác mà cô thấy trước đó.

Càng lại ngạc nhiên hơn là vài phút sau đó có nhiều tiếng reo mừng: "Ồ, máy ghe đă nổ lại được rồi, ghe từ từ chuyển động và đi tiếp.” (Hai hiện tượng này không thể giải thích theo khoa học được và coi như hoang tưởng. Nhưng tất cả là sự thật một trăm phần trăm, mà cho đến nay tôi vẫn c̣n thắc mắc về sự kiện này.)

Không khí ảm đạm và đau buồn, kèm theo sự lo lắng, sợ hăi lại tiếp tục phủ trùm những thuyền nhân trên chiếc ghe đang di chuyển trong vô định. Hôm nay đă bước vào ngày thứ năm giữa đại dương bao la. Tôi nhớ là ngày 28 tháng 09, năm1984.

Tất cả mọi người gia tăng sự lo lắng và hoang mang, nôn nóng cầu mong gặp đuợc bất cứ tàu thuyền nào đi ngang qua cứu. Sức chịu đựng càng ngày, càng mỏi ṃn, kiệt quệ, tinh thần suy sụp! Làm sao có thể cầm cự được lâu dài? Tùy theo tôn giáo riêng của ḿnh, mọi người cùng khấn nguyện đấng thiêng liêng, hiển linh phù trợ. Riêng tôi th́ liên tục cầu nguyện Mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát gia hộ. Thấp thoáng từ phía xa xa có vài bóng dáng những chiếc tàu đi ngang qua, nhưng sau đó biến dạng.

Th́nh ĺnh, mọi người thấy một chiếc thuyền lớn xuất hiện và đang tiến dần về phía ghe của ḿnh. Tất cả đều mừng rỡ và hy vọng gặp “Thần Hộ Mạng” đến cứu. Họ cho thuyền cặp sát ghe và quăng dây neo lên. Sau đó họ trèo qua ghe. Lúc đó tôi mới định thần và thấy năm người đàn ông đen như cột nhà cháy, râu ria rậm rạp, trên người chỉ mặc một quần xà lơn. Một người cầm súng dài. Tôi đoán có lẽ là tên cầm đầu? Bốn tên c̣n lại th́ kẻ dao, người búa và mă tấu. Có tiếng x́ xào “Chết mẹ rồi, gặp hải tặc là coi như xong đời.”

Tự nhiên, toàn thân thể tôi cảm thấy rụng rời. Ôi! Trời, Phật xin hăy cứu con! Con luôn ngày đêm nguyện cầu: “Đừng cho con gặp hải tặc. Nếu gia đ́nh con đă đến lúc tận cùng, mạt vận. Con thà chết trong ḷng đại dương, c̣n hơn rơi vào tay bọn hải tặc.” Lời nguyện cầu của con không được Trời, Phật chứng giám. Không lẽ con tới số rồi sao? Tim tôi đập vào lồng ngực th́nh thịch y như tiếng trống. Tôi tưởng chừng như trái tim văng ra khỏi lồng ngực và tôi sẽ chết ngay tại chỗ.

Bọn chúng trao đổi với nhau bằng tiếng Thái và ra dấu hiệu cho mọi người. Ai cũng đoán và hiểu là "Không được di chuyển hay động đậy. Nếu căi lời sẽ bị quăng xuống biển ngay lập tức.” Thế là, chúng chia nhau đi lục soát từng người, tịch thu những ǵ quư giá mà chúng bắt gặp. Có cả trăm người bị chúng lục soát.Tôi và vài người khác không có ǵ đáng giá, c̣n đa số không ít th́ nhiều đều bị chúng tước đoạt của cải. Tính ra chúng tịch thu cũng kha khá. Nhóm chủ tàu coi như bị thiệt hại nhiều nhất. Sau đó tên cầm súng mang các “chiến lợi phẩm” cướp được đem trở lại thuyền. Bốn tên hải tặc trên ghe dơi mắt nh́n theo hắn một cách chăm chú, h́nh như muốn xem tên đầu đảng cất giấu chiến lợi phẩm ở đâu?

B́nh thường, tôi được ví yếu như con sên, chậm hơn rùa v́ thể lực tôi rất yếu đuối. Tôi chỉ muốn càng xa bọn chúng càng tốt, dù chiếc ghe dài chỉ khoảng hơn mười thước. Lợi dụng cơ hội này, tôi vụt đứng dậy, lao thật nhanh về phía cuối ghe, rồi ngội thụp xuống giữa tiếng lao xao của vài người “Bà nội này tới số rồi, muốn chết sao? Con nhỏ này chắc muốn bị ném xuống biển!”Ngay tức khắc, anh tài công ném cho tôi một cục nhớt đen thui và nói "Trắng quá, bôi ngay vào mặt đi." Tôi vội vă bôi ngay vào mặt mũi và khắp cả người. Vài cô ngồi bên cạnh nhao nhao kêu:"cho tôi xin cục nhớt với.” Anh tài công lại ném tiếp vài cục nữa về phía các cô gái. Thấy thế bọn cướp giơ cao hung khí la hét, chửi rủa và bắt phải im lặng. May sao, tên đầu đảng vẫn chưa quay lại ghe, nên bốn tên hải tặc tiếp tục đưa mắt nh́n về phía thuyền của chúng. Lúc này, nh́n lại th́ tôi đang ngồi đối diện với Mẹ Tuyết Nhiên, mà trước đó khi hồn Tuyết Nhiên nhập vào vài người th́ họ đă sợ chạy đi t́m chỗ khác, do đó nhiều người không c̣n ngồi vị trí cũ nữa.

Lập tức, bà giao cho tôi đứa con gái út khoảng 2,3 tuổi và nói thật nhanh, giống như ra lệnh:"Cô hăy ôm cháu vào ḷng ngay đi."Mấy cô ngồi bên cạnh tôi định giật đứa bé từ trên tay tôi. Mẹ Tuyết Nhiên nói:"Yên ngay! Cô này là D́ ruột của cháu bé này.” Lúc này, bọn cướp qua tức giận, chúng dùng vũ khí đập mạnh xuống sàn ghe và xồng xộc tiến về phía cuối ghe đang ồn ào. Tên cầm dao găm, gương mặt đầy thẹo, đen đúa, râu ria lổm chổm dùng cánh tay mặt xốc tôi đứng lên, khiến đứa bé đang được tôi bồng khóc thét lên và đưa hai tay bấu chặt vào người tôi. Tên cướp có vẻ hơi nao núng. Hắn đưa mắt thật nhanh nh́n đứa bé, rồi quay nh́n tôi. Thấy một phụ nữ có con quá dơ dáy, bẩn thỉu, trông thật gớm ghiếc, nên buông tôi ra. Sau đó bọn chúng đi lùng sục khắp ghe. Cuối cùng, bắt được năm cô gái trẻ, sạch sẽ, xinh đẹp. Chúng lôi xềnh xệch về phía thuyền của chúng, mặc kệ các cô vùng vẫy, kêu khóc thảm thiết, cùng với tiếng van xin, gào thét của thân nhân kẻ bị nạn. Trong số các cô bị chúng bắt mang theo có con gái chủ ghe mới 15 tuổi.

Người trên ghe bèn đặt cho tôi một biệt danh là “Người đàn bà bị hải tặc chê.” Trườc khi rút lui, bọn chúng ra lệnh mọi người phải im và dùng vũ khí đập mạnh xuống sàn ghe làm thủng vài chỗ. Sau này, tôi được biết là nhóm tổ chức có mang theo vài cây súng để pḥng thân, nhưng không dám chống cự, v́ sợ nếu chống cự bọn hải tặc sẽ lên cơn điên và giết hết mọi người trên ghe. Do đó nhóm chủ ghe phải bó tay chịu trận, và đành đau ḷng hy sinh ngay cả con gái của ḿnh cho bọn hải tặc bắt mang đi.

Chiếc thuyền của bọn cướp biển đang xa dần. Mọi người trên ghe vẫn c̣n sững sờ v́ vừa trải qua một biến cố quá kinh hoàng. Những tiếng khóc của thân nhân các cô gái bị bắt đi thật sầu thảm. Tôi không biết ḿnh đang tỉnh hay đang mê? Tôi đă thoát khỏi bàn tay hải tặc dễ dàng vậy sao? Làm sao tôi lại có can đảm đứng dậy chạy về phía cuối ghe, trong khi bọn cướp ra lệnh ở đâu phải ngồi đó, không được nhúc nhích. Trời, Phật, hay hồn thiêng của bé Tuyết Nhiên đă nhấc tôi đứng dậy, đẩy tôi chạy về cuối ghe, để may mắn gặp lại Mẹ Tuyết Nhiên và được bà trao em của Tuyết Nhiên cho tôi bồng, cũng như tại sao anh tài công đă ném cho tôi cục nhớt và nói tôi bôi ngay vào người nhanh lên? Nhờ đó, tôi đă thoát khỏi bàn tay hung ác của hải tặc trong đường tơ, kẻ tóc. Vậy là thêm một phép lạ đă cứu sống tôi. Mới có mấy ngày mà tôi đă suưt chết mấy lần. Liệu tôi c̣n sức và c̣n may mắn thêm lần nào nữa để được bến bờ tự do hay không?

Mọi người bắt đầu lao xao: "Tát nước ngay, tát nước ngay! Nước tràn vào ghe rồi!" Đàn ông, thanh niên cố gắng dùng các vật dụng do chủ ghe đưa, cố ra sức tát nước đang làm ghe bị khẳm v́ những lỗ thủng trên sàn ghe do bọn cướp gây ra. Ôi! Vừa không biết phương hướng, vừa chống chọi với đói khát, vừa lo hết nhiên liệu, vừa lo nguy cơ chiếc ghe sẽ bị ch́m v́ nước biển đang tràn vào. Bây giờ, mọi người thật sự thấy tử thần càng lúc, càng trở nên gần hơn. Sự khủng hoảng càng gia tăng, nhưng vẫn cố hy vọng "c̣n nước, c̣n tát." Chiếc ghe cứ lê lết đi tiếp. Tôi vẫn tiếp tục niệm Phật cầu nguyện và thiếp đi trong sự hăi hùng chưa nguôi. Tôi lập đi, lập lại trong đầu:" Con không thể chết được. Con là niềm hy vọng của gia đ́nh. Con phải sống để cứu vớt gia đ́nh đang trông mong vào con."

Chiếc ghe tiếp tục di chuyển từ từ trong tuyệt vọng. Ánh nắng chiều dịu tắt dần, từ xa bỗng rực rỡ ánh đèn sáng ngời như từ cái tháp khổng lồ trên mặt nước. Vài người mừng rỡ, la lên: "Có giàn khoan dầu ở phía trước. Hăy cố gắng hướng về phía đó. Hy vọng sẽ được vớt." Tôi chợt bừng tỉnh, nh́n những ánh đèn màu rực rỡ ở trên cao, ngày càng gần hơn, tôi tưởng như ḿnh đang mơ khi được thấy cung điện của Thủy Thần trong một truyện thần thoại. Nghe tiếng reo mừng của mọi người trên ghe, tôi biết đây là sự thật! Không phải là ảo tưởng hay trong mơ. Tôi tưởng chừng ngất lịm trong nỗi vui mừng tột độ, và muốn hét to lên: "Vậy là coi như thoát chết, sẽ được giàn khoan cứu vớt, sẽ được đến bến bờ tự do như đă cầu khẩn.Vậy là đă được Trời, Phật chứng giám, độ tŕ.”

Mọi nguời như được uống thuốc hồi sinh. Đàn ông, thanh niên ra cố gắng ra sức tát nước nhiều hơn, chiếc ghe dường như cũng đi nhanh hơn. Một lúc sau chiếc ghe đă đến được gần chiếc tàu khổng lồ treo cờ Anh Quốc với hàng chữ to PANAMA. Dù vô cùng vui mừng, nhưng tôi lại rơi vào t́nh trạng hôn mê v́ đă kiệt sức từ lúc quá hăi hùng khi vừa thoát bọn hải tặc sáng nay. Một lát sau, tôi mơ hồ thấy có người cho nước uống, nên tỉnh dậy, th́ ra đó là vài ba thủy thủ của tàu Panama đang cho chúng tôi nước và một số thức ăn. Tôi nghe thoáng thoáng tiếng người nói “Có một cựu Trung Úy Quân Đội VNCH đă lên gặp Thuyền Trưởng xin được cứu vớt, nhưng ông ta từ chối. Và một cưụ Trung Tá hiện đang tiếp xúc với Thuyền Trưởng cũng để tiếp tục cầu xin cứu vớt." Nhưng vài phút sau, ông Trung Tá trở lại ghe với nỗi buồn tuyệt vọng cho biết: “Thuyền Trưởng không thể nào cứu được, v́ họ đang làm nhiệm vụ khai thác dầu hoả. Ông tặng ghe chúng ta một hải bàn và hướng dẫn đi về hướng trại tị nạn. Ông nói, trên đường đi sẽ gặp tàu của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc và họ sẽ cứu chúng ta.” Ai ai cũng đều thất vọng, nhưng cũng mừng v́ đă có hải bàn và hy vọng sẽ có tàu đến cứu. Hiện giờ đă được cung cấp nước uống, thức ăn, một số quần áo; không như trước đây trong hoàn cảnh đói khát, vô phuơng hướng, vô tin tức và sống trong tuyệt vọng.

Tôi đang hồi tỉnh một chút th́ lại choáng váng khi nghe tin không may này. Bất ngờ, có một thanh niên la to lên:" Trong chuyến đi này có một cô giáo dạy Anh Văn tên Duyên.Vậy cô Duyên có trên ghe không? Nếu có, sao cô không chịu lên gặp Thuyền Trưởng xin cứu giúp đi? "Tôi đoán thanh niên này là Khánh, em vợ của anh Nguyễn Quốc Trụ. Khánh chưa hề gặp tôi, nhưng đă được anh Trụ dặn:" Hăy nhớ t́m cô Duyên, cô giáo dạy tiếng Anh đi trong chuyến này”. Mọi người lao xao la to theo: “Cô Duyên đâu? Cô Duyên đâu?” Tôi chưa kịp trả lời th́ nghe tiếng x́ xào: "Chắc cô ta bị quăng xuống “ghe taxi” hay bị hải tặc bắt đi theo rồi chăng? ”Tôi không c̣n đủ hơi sức để lên tiếng, chỉ đưa tay vẫy vẫy. Có người nói:" Ồ! cái bà tưởng đă chết hồi sáng nay.”

Hai thanh niên c̣n khoẻ mạnh vội tiến về phía tôi, một người khiêng đầu, một người khiêng chân để đưa tôi lên thang dây, sau đó họ đặt tôi nằm trên sàn tàu. Chỉ vài phút sau, có một Bác Sĩ và vài thủy thủ vây chung quanh tôi. Họ cho tôi thở Oxy, tiếp theo cho uống một loại nước hay thuốc ǵ đó. Vị Bác Sĩ tiếp tục đo huyết áp, nghe tim, phổi và theo dơi. Ông nói tôi cứ thở tự nhiên. Được hít thở gió biển trong lành khoảng 15 phút, tôi thật sư tưởng ḿnh đă được uống thuốc tiên “cải tử hoàn sinh” trong các truyện cổ tích. Tôi có thể trả lời các câu hỏi của Bác Sĩ bằng giọng nói rơ ràng, và xin được đứng dậy để được nói chuyện với Thuyền Trưởng cũng đang đứng tại đó.

Lần đầu tiên được đứng trên sàn tàu vững chắc, kiên cố, rộng mênh mông, mà trước đó chỉ được ngồi chen chúc như cá hộp trên chiếc ghe mong manh; rồi đói khát, lo sợ hăi hùng với bao biến cố cận kề cái chết. Nh́n những ánh đèn màu rực rỡ từ trên cao của giàn khoang giữa những màu sắc lung linh của mặt trời như một viên hồng ngọc trên mặt nước biển vào lúc hoàng hôn, khiến tôi tưởng ḿnh đang ở Thiên Đàng. Nếu may mắn được Thuyền Trưởng cứu, cho lên chiếc tàu Panama, th́ đúng như từ âm phủ được lên cơi Tiên.

Sau khi nghe tôi tŕnh bày "Chúng tôi là những người ra đi từ miền Nam Việt Nam, đă bất chấp mạng sống, bất chấp hiểm nguy để đi t́m tự do bằng chiếc ghe bé bỏng, mong manh và hiện đang bị vô nước v́ hải tặc đâm thủng. " Vị Thuyền Trưởng lắc đầu, rồi buồn bă nói: “Tôi rất tiếc không thể cứu quư vị được.Trước đó đă có hai người đàn ông nói chuyện tôi về yên cầu này. Tôi đă giải thích lư do tôi không thể cứu được.

Thứ nhất: Chúng tôi đang khai thác dầu hỏa tại nước Malaysia này, chúng tôi không có đầy đủ phương tiện cứu nạn.

Thứ hai: Số người trên ghe quư vị phải hơn 100 người, chúng tôi lại càng gặp rất nhiều khó khăn để giúp đỡ. Tuy nhiên, xin quư vị đừng nên lo lắng. Hăy an tâm. Tôi đă cung cấp hải bàn để định phương hướng trên biển. Tôi đă hướng dẫn kỹ lưỡng đi về phía có trại tị nạn gần nhất, và tôi sẽ liên lạc với các tàu của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc đang di chuyển gần đây đến để cứu quư vị. Các thủy thủ chúng tôi đă làm mọi cách để giúp quư vị rồi. Tôi nghĩ quư vị sẽ lên đường b́nh an.”

Đến đây, tôi lại thấy đầu óc quay cuồng. Từ lúc đầu tiên lọt vào được chiếc ghe Cá Lớn cho đến nay đă 5 ngày lênh đênh giữa đại dương trong tuyệt vọng. Nếu không có những phép lạ xảy ra, làm sao tôi c̣n sống sót đến giờ phút này. Ôi!Tại sao có thể như thế này? Phải cố gắng nài nỉ, van xin Thuyền Trưởng. Tôi cố gắng tŕnh bày với Thuyền Trưởng những biến cố hăi hùng, những nguy hiểm mà chúng tôi đă trải qua mấy ngày hôm nay như: không có người biết lái, nên chiếc ghe trôi vô dịnh, một cô bé đă chết khát và phải bị ném xuống biển, 5 thiếu nữ đă bị hải tặc bắt đem theo sáng nay. Trước khi rút lui bọn hải tặc đă làm thủng ghe, hiện phải tát nước để có thể cầm cự, sống c̣n. May mắn đă gặp giàn khoang của các ông. Bây giờ chờ được tàu của Cao Ủy LHQ đến cứu, có lẽ tất cả chúng tôi sẽ làm mồi cho biển cả không bao lâu nữa.

Thuyền Trưởng lộ vẻ xúc động, nhưng lại trấn an tôi: “Bây giờ đă có phương hướng, và sẽ có tàu của Cao Ủy LHQ đến cứu, quư vị đă có đủ lương thực và nước uống trong vài ngày nữa, xin cứ an tâm”. Chỉ nghĩ khi tôi trở về chiếc ghe mong manh, chật ních, ngột ngạt v́ bao nhiêu mùi hôi hám cũng đủ chết. Trên ghe ai có đủ khả năng biết xử dụng hải bàn để lái cho đúng hướng? "Sai một ly sẽ đi một dặm” giữa đại dương th́ cũng sẽ lạc hướng, tiếp tục trong vô định. Thêm vào đó t́nh trạng chiếc ghe bị đục thủng th́ làm sao cầm cự cho đến khi gặp được tàu của Cao Ủy LHQ?

Đứng trên sàn tàu kiên cố này, tôi thấy rơ rằng. Đây là đất sống. Chiếc ghe mong manh kia là miền đất chết. Tất cả sẽ đi vào cơi chết nếu như không được lên tàu Panama này. Giờ phút này gặp giàn khoang mà không được cứu, th́ đúng là số tôi phải chết dưới ḷng biển rồi. Tôi lặng người khẩn cầu Trời, Phật: “Gia đ́nh con thật sự đă đến lúc tận cùng mạt vận, nên con đă thoát khỏi tay hải tặc, nhưng phải chịu chết dưới ḷng đại dương như đă khấn nguyện chăng? Tại sao Trời, Phật đă ra tay cứu con thoát khỏi bao nguy hiểm từ lúc ban đầu, mà nay phải bắt con chết tức tửi, giữa lúc tưởng rằng thật sự thoát mọi hiểm nguy? Tại sao? Tại sao? Nguời cha già, cả một đời là công chức hiền lương cuối cùng phải lâm nạn; các em thơ dại đă chịu đựng quá nhiều đau khổ trong bao nhiêu năm, nay sẽ càng đau thương hơn?”

Con phải sống. Con chỉ có ước nguyện giúp cha già, các em dại ra khỏi đường hầm, đen tối của đau khổ, và con cầu xin được gặp lại một “thiên thần” đang tha thiết chờ đợi con. Nhưng giờ phút này, tôi thấy thật sự hoàn toàn tuyệt vọng rồi, nên nước mắt đầm đ́a, ngước nh́n Thuyền Trưởng khẩn khoản trong nghẹn ngào. "Nếu ông cương quyết từ chối, tôi xin thay mặt hơn 100 người xin kính chào Vĩnh Biệt. V́ tôi tin chắc rằng giờ phút tôi rời khỏi nơi đây, trở về chiếc ghe bất hạnh, tất cả chúng tôi sẽ chết dưới ḷng biển. Chiếc ghe đă bị đục thủng và đang bị vô nước trầm trọng th́ làm sao chúng tôi có thể có cơ hội gặp được tàu của Cao Ủy LHQ cứu như lời Thuyền Trưởng nói. Xin Vĩnh Biệt Thuyền Trưởng!”

Sau lời chào vĩnh biệt đầy nước mắt trong nỗi tuyệt vọng của tôi, Thuyền Trưởng xúc động thật sự. Ông hỏi tôi:“Có tất cả bao nhiêu trẻ con và phụ nữ trên ghe?” Tôi trả lời “Tôi không biết”, nhưng có lẽ ít hơn đàn ông và thanh niên. Ông nói tiếp: “Trong điều kiện của chúng tôi hiện tại, chúng tôi chỉ cố gắng cứu trẻ em, phụ nữ. Đây là những người dễ dàng bị chết trong cơn nguy hiểm. Riêng các đàn ông, thanh niên xin tiếp tục lên đường, sẽ được tàu của Cao Ủy LHQ hay các tàu khác đi ngang qua gặp sẽ cứu.

Ôi! Thuyền Trưởng đă đổi ư! Đă bằng ḷng cứu trẻ con và phụ nữ. Vậy là tôi thật sự thoát chết, và chắc chắn sẽ được đến bến bờ “Tự Do” như hằng ước nguyện. Ôi! Vô vàn cảm tạ Thuyền Trưởng! Ôi! Phải chăng Thượng Đế, Trời, Phật, những người khuất mặt đă làm Thuyền Trưởng đổi ư? Tôi quay qua nói với hai thanh niên khiêng tôi lên đây, và vẫn đang đứng đó, nóng ḷng chờ kết quả:“Thuyền Trưởng chỉ có thể cứu trẻ con, phụ nữ mà thôi!"Hai anh thét to lên: “Thuyền Trưởng đă đồng ư cứu trẻ con và phụ nữ.”

Sau đó, ông ra lệnh cho các Thủy Thủ xuống ghe, bồng bế các trẻ con, phụ giúp các phụ nữ bước lên thang dây của tàu Panama. Tổng cộng đếm được tất cả là 50 người. Mọi người khóc nức nở, đưa tay vẫy chào những người thân: chồng, cha, chú, bác, cậu, anh em…phải ở lại chiếc ghe không lành lặn, trải qua bao biến cố hiểm nguy, đau buồn, biết đến bao giờ có cơ hội đoàn tụ hay sẽ vĩnh viễn chia ĺa? Mặc dù, tôi không có bất cứ người thân nào trên chiếc ghe này, nhưng trước cảnh chia ly năo nề với những người đă chịu cùng chung số phận với ḿnh từ ngày 23 tháng 09. Nay cá nhân tôi sẽ được b́nh yên, đến được bến bờ Tự Do mà ai cũng mơ ước; c̣n họ sẽ đi về đâu, khi tiếp tục lênh đênh trên biển cả, dù được cung cấp đầy dủ phương tiện đi biển? Nhưng chiếc ghe đang bị vô nước và không ai có kinh nghiệm đi biển th́ làm sao đi đúng hướng và biết đến khi nào gặp được tàu của Cao Ủy LHQ hay bất cứ tàu nào khác tiếp cứu. Theo tôi tất cả là vô vọng. Tôi vẫn cảm thấy “Chiếc ghe ấy là cơi chết”, nên tôi rất đau ḷng và suy nghĩ. Hay ḿnh thử cố gắng năn nỉ Thuyền Trưởng cứu họ. Ông đă can đảm không xin lệnh cấp trên để tự quyết định cứu trẻ con, phụ nữ. Bây ǵờ ḿnh yêu sách thêm. Không biết ông sẽ phản ứng ra sao? Ḿnh có quá đáng và không biết sự quảng đại của ông không? Nh́n thấy 50 người đứng chiếm một diện tích bé nhỏ khoảng vài phần trăm trên con tàu khổng lồ, kiên cố chẳng đáng là bao. Dù lo sợ, tôi tiếp tục cố gắng nói với ông: “Thưa Thuyền Trưởng, xin ông tha thứ cho tôi. Tôi rất đội ơn ông đă cứu mạng tôi và những người khác. Nay xin ông hăy cứu tất cả mọi người c̣n lại. Với chiếc ghe như vậy, tôi không tin họ sẽ có cơ hội gặp được tàu của Cao Ủy LHQ. Chúng tôi không cần thức ăn, quần áo, chúng tôi chỉ cần một nơi an toàn có hy vọng được sống. Chiếc tàu của ông là đất sống, chiếc ghe kia là cơi chết. Nếu ông nhận thêm những người kia mà tôi nghĩ chỉ chiếm thêm diện tích không đáng là bao của chiếc tàu khổng lồ này, và tất cả cùng chờ đợi gặp tàu của Cao Ủy LHQ đến giúp đưa đi tới trại tị nạn.“ Có lẽ Thuyền Trưởng đă xúc động giữa tiếng khóc nghẹn ngào, những tiếng chào biệt ly, dù bằng tiếng Việt, một ngôn ngữ mà ông hoàn toàn xa lạ và không hiểu:“ Ba ráng bảo trọng, tạm biệt anh; tạm biệt con, tạm biệt cậu, chú vvv…” nên ông lặng yên, trầm ngâm suy nghĩ với ánh mắt đầy xúc động. Sau một, hai phút, ông nh́n tôi nhè nhẹ gật đầu và ra dấu bằng ḷng cứu tất cả mọi người c̣n lại trên ghe. Nhiều tiếng hét to:“ Thuyền Trưởng bằng ḷng cứu tất cả mọi người.“ Ôi! Không c̣n ǵ may mắn và hạnh phúc hơn! Cảnh tượng đau ḷng như một đám tang tập thể trước đó, lập tức trở thành hân hoan, vui sướng với mọi người. Thế là, từng người vội vă cuống quưt leo lên thang dây với sự giúp đỡ của các Thủy Thủ để bước lên sàn tàu. Những khuôn mặt rạng rỡ lẫn ngỡ ngàng, dù nét lo âu, khủng hoảng vẫn c̣n in trên nét mặt.

Khi không c̣n ai lên nữa, vài thủy thủ hỏi to bằng tiếng Anh: “C̣n ai ở dưới ghe không?” Không có tiếng trả lời. Họ hỏi thêm vài lần nữa! và nói chúng tôi xem lại có người nào bị kiệt sức, ngất xỉu chưa lên được chăng? Tất cả gia đ́nh cùng xem lại thân nhân của ḿnh. Thật là một cử chỉ nhân từ và chu đáo! Sau đó các thủy thủ dùng búa chặt đứt sợi dây thừng to dùng để cột chiếc ghe vào tàu Panama trước đó, chiếc ghe tṛng trành, lơ lửng trôi bềnh bồng, trên đó có chiếc túi xách mà lúc hai người khiêng tôi lên tàu Panama tôi làm rớt lại. Biểu tượng thần thoại, cánh chim Đại Bàng mà tôi thường mang theo trong những lần vượt biên từ nay sẽ trôi theo gịng nước, không bao giờ cùng tôi đi tiếp bất cứ nơi đâu!

Tất cả mọi người được yêu cầu đứng xếp hàng để đếm số người. Tất cả 137 người gồm: trẻ em, phụ nữ, thanh niên và đàn ông. Vừa mới đếm xong th́ vài phút sau bỗng nhiên giông tố ầm ầm từ đâu kéo tới, kèm theo những đợt sóng khổng lồ đánh tràn vào cả sàn tàu. Các thủy thủ vội vă dùng những sợi dây thừng thật to, cột mọi người lại với nhau, và sau đó buộc chặt vào các cột tàu để không bị sóng đánh cuốn trôi đi. Một sự kinh hoàng diễn ra trước mắt mọi người đang bị ướt đẫm:
Chiếc ghe mà truớc đó chứa cả trăm người chỉ trong nháy mắt đă bị nhận ch́m theo những đợt sóng khổng lồ, rồi mất hút ngay dưới cơn mưa tầm tă đổ xuống như thác, sấm chớp nổ vang khắp trời.

137 người trong đó có tôi đă chết đi và sống lại trong sự nhiệm mầu của Thượng Đế, Trời, Phật??? Nếu không may mắn gặp vị Thuyền Trưởng đầy ḷng bác ái và nhân từ này th́ chúng tôi đă cùng theo chiếc ghe ch́m sâu vào ḷng đại dương lúc đó. Tôi đi từ bàng hoàng này sang đến bàng hoàng khác. Chỉ trong năm ngày lênh đênh trên biển, tôi đă chứng nghiệm được quá nhiều phép nhiệm mầu của Thượng Đế, Trời, Phật đă cứu vớt tôi thoát khỏi Tử Thần, và kể từ giờ phút này đă cùng 136 người được trở về từ cơi chết.

Thuyền Trưởng và các Thủy Thủ cảm thấy vui mừng đă cứu đuợc 137 người một cách bất ngờ. Chỉ trong ṿng vài phút đă có những tấm bạt khổng lồ được căng lên che chở cho đoàn người chúng tôi đang bị ướt sũng, và lạnh run cầm cập bởi những luồng gió mạnh như vũ băo quất thẳng vào người.

Sau đó mọi người được các Thủy Thủ đưa vào các pḥng cho ấm. Rồi họ phân phát những cục xà bông thơm phức và một số quần áo, yêu cầu mọi người lần lượt, từng nhóm bốn, năm người, chia ra nam theo nam, nữ theo nữ đi tắm, v́ không có đủ pḥng tắm cho từng người tắm riêng. Lúc bấy giờ, tôi đă hoàn hồn, và không c̣n lạnh run nữa, không khỏi bật cười khi nh́n thấy vài cô mặt mũi, ḿnh mẫy vẫn c̣n dính đầy nhớt, lem luốc trông thật gớm ghiếc (giống như tôi).

Sau khi được tắm rửa sạch sẽ, ấm áp, mọi người được mời vào pḥng ăn. Bao nhiêu thức ăn được khui ra từ các hộp thịt, hộp súp đă được bày sẵn trên các bàn trong căn pḥng sáng rực những ánh đèn Néon. Chỉ mới sau mấy ngày đói khát, luôn luôn bị khủng hoảng, lo sợ, và lúc nào cũng kề cận với Tử Thần, chúng tôi cảm thấy như được thưởng thức một bửa yến tiệc linh đ́nh, thịnh soạn do chiếc Đèn Thần của Aladin biến hoá. Tôi nhờ vài thanh niên đi ṿng quanh càc bàn nhắc nhở mọi người dùng súp truớc, cố gắng ăn từ từ và ít thôi để bao tử không bị ảnh hưởng, có thể gây nguy hiểm đến tính mạng khi chuyển từ t́nh trạng quá đói sang quá no.

Mọi người lại được phân phát mền, dù không đủ cho mọi người, nhưng chúng tôi vui vẻ, chia theo nhóm đắp chung cho càng ấm, và nằm tạm trên sàn tàu dưới những tấm bạt che mưa vẫn đang c̣n rỉ rả. Riêng tôi th́ may mắn được ngủ trong một pḥng riêng nho nhỏ, có lẽ của một Thủy Thủ nhường chỗ cho dùng tạm trong thời gian chờ đợi này?

Cơn giông băo đă ngưng gầm thét để cho mọi người được ngủ yên trong niềm vui sướng và diễm phúc lớn lao nhất: Đă sống lại từ cơi chết và sẽ đến bến bờ Tự Do như ước nguyện. Chưa bao giờ tôi có một giấc ngủ thật say trong tâm trạng b́nh an, và tinh thần phơi phới như đêm hôm đó!

Chúng tôi chỉ van xin Thuyền Trưởng cho chúng tôi một chỗ ngồi trên sàn tàu Panama kiên cố, để được sống sót, và chờ đợi được tàu của Cao Ủy Tị Nan Liên Hiệp Quốc đến cứu.

Chúng tôi không dám mong được ăn uống, phân phát chăn mền, quần áo như thế này. Chắc là đoàn người chúng tôi đă tiêu thụ hết thực phẩm, quần áo dự trữ của tất cả Thủy Thủ đoàn? Có thể v́ thế mà Thuyền Trưởng đă cương quyết từ chối lúc ban đầu. Ơn cứu mạng này của Thuyền Trưởng chắc chắn không bao giờ có thể đền trả được.

Mọi người sung sướng, yên tâm chờ đợi trên tàu Panama thêm một ngày và một đêm. Lần thứ hai được nằm trên chiếc giường bé nhỏ có chăn nệm trắng phau giữa tiếng sóng biển ŕ rào và thỉnh thoảng có tiếng ầm ầm của những cơn sóng từ xa vọng lại, không khí mát dịu, trong lành mà chưa bao giờ tôi có trong đời đă đưa tôi ch́m vào giấc ngủ thật dễ dàng và êm ái.

Tiếng gơ cửa của một Thủy Thủ đánh thức tôi dậy giữa lúc tôi c̣n đắm ch́m trong giấc ngủ êm đềm. Anh ta nói khi tôi vừa mở cửa "Tôi xin lỗi đă đánh thức cô. Cô đă có một giấc ngủ ngon không? Thuyền Trưởng muốn gặp cô".

Tôi vội theo anh ta bước lên cầu thang dẫn tới boong tàu trên cao. Dưới ánh b́nh minh giữa đại dương, mặt trời thật rạng rỡ trên mặt nước bao la xanh biếc, cảnh sắc c̣n đẹp hơn cả bức tranh thủy mạc. Vị Thuyền Trưởng cứu tinh của chúng tôi đang đứng chờ và đưa tay ra bắt trong lúc tôi chào ông ta. Sau đó, với khuôn mặt thật nghiêm trang quay về phía mặt Trời đang tiếp tục lên cao trên mặt nước, vị Thuyền Trưởng quỳ xuống, lâm râm vài lời và làm dấu lạy Thượng Đế theo kiểu Thiên Chúa Giáo, tôi cũng vội vă quỳ xuống theo.

Rồi Thuyền Trưởng đứng đậy, nói: "Cảm ơn Thượng Đế đă nhờ Cô cho tôi cơ hội cứu được 137 người. Đúng như lời cô, nếu tôi không thay đổi quyết định kịp thời, 137 người đă thật sự bị chôn vùi dưới ḷng đại dương lúc đó. Và suốt hai ngày nay, tôi không liên lạc được với bất kỳ tàu nào của Cao Ủy, v́ ảnh hưởng của cơn băo, điện thoại cũng hoàn toàn bị tê liệt. Hôm nay, không thể chờ thêm nữa, chúng tôi phải nhổ neo để đưa quư vị đến một trại tị nạn gần đây nhất. "Tôi rưng rưng nước mắt, chỉ biết tận đáy ḷng, vô cùng cảm ơn cứu mạng của Thuyền Trưởng. Tôi xin ông cho tôi cơ hội được liên lạc với ông trong tương lai khi được định cư. Thuyền Trưởng về pḥng, vài phút sau trở ra trao cho mảnh giấy có ghi tên, địa chỉ ở đất liền bằng chữ viết tay:

Captain Brian O' Connell
17 Arundel Close
Bexley
Kent
England
U.K

Các Thủy Thủ được lệnh nhổ neo tiếp tục lên đường, tàu từ từ xa giàn khoan đứng sừng sững như toà lâu đài giữa đại dương vào buổi sáng ngày 30 tháng 09, năm 1984. Buổi chiều cùng ngày th́ đến Đảo Pulau Bidong, một trại tị nạn dành cho các thuyền nhân Việt Nam trên quốc gia Mă Lai Á.

Mọi người coi như đă đạt ước nguyện nhờ ơn cứu mang của vị Thuyền Trưởng có tấm ḷng bác ái bao la, "Thuyền Trưởng O'Connell”. Lần lượt từng người chào từ biệt Thuyền Trưởng và các Thủy Thủ với tất cả sự biết ơn không có lời nào có thể diễn tả được. Tất cả Thủy Thủ đoàn và Thuyền Trưởng hân hoan chúc chúng tôi may mắn, sớm được định cư ở một nước thứ ba.

V́ tàu được cặp vào đất liền, chúng tôi không phài dùng thang dây để leo xuống như lúc ở giữa biển. Mọi người ung dung bước ra khỏi tàu như bước ra khỏi phi cơ, có lối đi thẳng lên chiếc cầu giữa mặt nước, rồi cao lên dần cho đến khi giáp với đất liền. Sau này tôi được biết tên cây cầu là Jetty.

Thuyền trưởng O’Connell bắt tay từ biệt tôi lần cuối, sau khi giới thiệu tôi với các Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc đang đứng chờ đón đoàn người tị nạn được tàu Panama bàn giao.

Một trang sách mới đă được lật qua trong ḍng đời của 137 thuyền nhân sống sót nhờ một phép mầu vào ngày 28 tháng 09, năm 1984 v́ đă may mắn gặp được vị Thuyền Trưởng giàu ḷng nhân ái. Và bắt đầu đoạn đời tị nạn từ đây với mă số do Văn Pḥng Cao Ủy Tị Nạn đăt tên theo thứ tự khi có đoàn người tới đảo: MB 224 Pulau Bidong.

Vẫy tay chào tàu Panama đang xa dần trên mặt nước mênh mông, tôi vẫn c̣n ngẩn ngơ như đang mê ngủ. Đứng trên nền cát trắng, dưới những hàng dừa xanh cao vút dọc theo băi biển, tôi hướng về phía mặt trời rực rỡ đang dần dần đi xuống gần mặt nước xanh trong vắt, thành tâm khấn nguyện lời cảm tạ Thượng Đế,Trời, Phật, những hương linh đă cứu vớt tôi thoát khỏi Tử Thần đầy nhiệm mầu qua bao biến cố kinh hoàng suốt mấy ngày qua.

Từ đây, bắt đầu một khúc rẽ cuộc đời như một hành khất đi chân đất, với hai bàn tay không; cái túi xách nhỏ có vài kỷ niệm và đôi dép đă bị rớt lại trên chiếc ghe trong lúc được khiêng lên tàu Panama. Tôi đă không dám xin đôi giầy hoặc dép trong thời gian chờ đợi, v́ đă nói với Thuyền Trưởng: Chỉ xin một chỗ đứng trên “vùng đất sống”.

Hành trang tôi mang đến Pulau Bidong chỉ có một trái tim tràn ngập ḷng biết ơn Thượng Đế, Trời, Phật và những ân nhân đă cứu giúp tôi trên từng bước đường đời, sự thương nhớ những người thân yêu c̣n lại đang vất vả nơi quê nhà, và đang ấp ủ những ước mơ cho ngày mai tươi sáng. Bên cạnh đó là một linh hồn nặng trĩu với những h́nh ảnh hăi hùng, tuyệt vọng trong cuộc hành tŕnh đi t́m "Tự Do", với bao kư ức đau buồn của những năm tháng" đại bác đêm đêm vọng về thành phố" trên quê hương. Một linh hồn quằn quại v́ sự tan nát của gia đ́nh khi chiến tranh chấm dứt trong cảnh nước mất, nhà tan, đau thương, thống khổ chất chồng.

Thấm thoát đă hơn ba mươi mốt năm trôi qua. Tôi đă bước qua bao nhiêu ngă rẽ cuộc đời như chiếc thuyền trôi theo gịng nước. Có những lúc rẽ qua gịng suối nên thơ, có đôi khi rẽ vào gịng sông êm ả và cũng có lúc di vào ḷng biển khơi đang trong cơn giông tố. Ở bất kỳ ngă rẽ nào, không có một khoảnh khắc nào trong đời, tôi có thể quên được những phép lạ đă cứu vớt tôi trong chuyến đi nhiệm màu ấy.

Những lời cuối cho ḍng hồi ức về những phép lạ tôi đang kể lại, xin thay mặt 137 người cùng thoát chết dưới ḷng đại dương trong cơn giông băo vào buổi chiều ngày 28 tháng 09, năm 1984, và bây giờ không biết đang tản mạn ở các phương trời nào, ai c̣n, ai mất, thành tâm gửi đến Thuyền Trưởng Brian O' Connell (cũng không biết ông đang phiêu du ở chân trời, góc bể nào), ḷng biết ơn vô bờ bến và không bao giờ đền trả được ơn cứu mạng ngày ấy.

Ước nguyện tha thiết nhất của tôi trong những năm tháng cuối cuộc đời là được Ơn Trên ban phép lạ cho tôi t́m được tin tức vị Thuyền Trưởng có tấm ḷng bác ái bao la đă cứu 137 người tưởng chừng như chắc chắn là chết được trở về đất sống.

Sự liên lạc của tôi với Thuyền Trưởng đă bị cắt đứt, sau bức thư gửi đến ông năm 1988 đă bị trả về với hàng chữ: "Moved to unknown address". Nhiều năm nay, các con tôi đă cố truy t́m trên nhiều trang mạng từ Internet, nhưng tảt cả đều vô vọng.

Cũng xin thay mặt 137 thuyền nhân, gửi đến tảt cả Thủy Thủ đoàn của tàu Panama ngày ấy sự biết ơn sâu xa trước sự giúp đỡ nhiệt t́nh đầy ḷng bác ái của quư vị.

Từ đáy ḷng , xin gửi đến cô Minh, mẹ của Tuyết Nhiên, và anh tài công sự biết ơn vô bờ đă giúp tôi thoát khỏi bọn hải tặc một cách nhiệm mầu, khi giao cháu bé và liệng cục nhớt cho tôi kịp thời trong tích tắc.

Và cũng tận đáy ḷng, xin chân thành đặc biệt gửi đến ân nhân Nguyễn Vinh Tôn sự biết ơn vô bờ đă giúp tôi bước lên chiếc thuyền định mạng ngày 23 tháng 09, năm 1984. NVT măi măi là một Thiên Thần của sự trong sáng và cao quư trong hồn tôi.

Giờ đây, tôi xin thắp một nén hương dâng lên hương linh của anh Nguyễn Quốc Trụ với tất cả sự biết ơn chân thành nhất của một người hân hạnh và may mắn đă được anh giúp trong chuyến vượt biên này.

Và cùng hàng triệu Quân, Dân, Cán, Chính VNCH, xin tưởng nhớ, ghi ơn những anh hùng đă hy sinh bảo vệ VNCH, trong đó có người anh hùng Mũ Đỏ Nguyễn Quốc Trụ, SVSQ/ Khoá 20 Vơ Bị Đà Lạt, Đại Úy thuộc Binh Chủng Nhảy Dù, người đă tham dự trận chiến khốc liệt nhất trong quân sử VNCH, trận Đồi 31, Lam Sơn 719, Hạ Lào 1971, nơi anh hùng Mũ Đỏ Nguyễn Văn Đương đă nằm xuống, và đi vào huyền thoại qua nhạc phẩm bất hủ "Anh không Chết Đâu Anh" của Nhạc Sĩ Trần Thiện Thanh, c̣n anh Nguyễn Quốc Trụ và nhiều Sĩ Quan, binh sĩ đă bị bắt làm tù binh trong những trại tù nghiệt ngă ở Bắc Việt cho đến năm 1979.

Xin thắp một nén hương dâng lên người Cô (D́) yêu dấu Hồng Hoàng Lan, với tất cả sự biết ơn của người cháu được Cô thay Mẹ, an ủi, đùm bọc trong giai đoạn gia đ́nh tan nát, đau thương sau biến cố lịch sử 30 tháng 04, năm 1975. Cô là người duy nhất trong gia đ́nh Mẹ tôi c̣n ở lại Hà Nội sau năm 1954 v́ đă không thể bỏ lại những cây đàn yêu quư để ra đi. Là một nhạc sĩ xử dụng đàn Violoncelle trong Dàn Nhạc Giao Hưởng Hà Nội, cô đă kịp thời vào Sàig̣n để đưa tiễn Mẹ tôi về cơi vĩnh hằng ngay sau 30-4-1975. Cô cũng là người đă khuyến khích, giúp tôi t́m đường vượt biên, và bắt nhịp cầu cho tôi được bước vào chuyến đi hăi hùng, nhưng mầu nhiệm này.

Và xin thắp một nén hương nguyện cầu cho hương linh emTuyết Nhiên cùng tất cả những thuyền nhân đă nằm xuống ḷng đại dương trong những cuộc hành tŕnh đi t́m Tự Do đưọc an nghỉ nơi vùng trời miên viễn.

Nếu không có những phép lạ nhiệm mầu cứu vớt, 137 người trong đó có tôi cũng đă chung số phận âm thầm nằm trong ḷng biển cả ngày 28 tháng 09, năm 1984. Và những biến cố dồn dập xảy ra trong suốt cuộc hành tŕnh không bao giờ thân nhân được biết.

Cuối cùng, xin chân thành gửi đến anh Trần Đ́nh Phước, cựu Trung Úy Không Quân VNCH, sự biết ơn sâu xa đă khuyến khích, bỏ ra nhiều thời gian và nhiệt t́nh giúp tôi hoàn tất viết lại những ḍng hồi kư đúng vào ngày Giáng Sinh 2015 về chuyến đi nhiều phép lạ mầu nhiệm này.

Toronto, Giáng Sinh 2015
Phạm T. Duyên

*Kính dâng lên hương hồn những thuyền nhân đă bỏ ḿnh trên biển cả v́ lư tưởng tự do. Xin Quư vị nào biết tin tức về Thuyền Trưởng người Anh tên là Brian O’ Connell và Thủy Thủ Đoàn của tàu Panama khoan dầu trên Biển Đông cách đây hơn 31 năm. Xin làm ơn giúp, để tôi có thể liên lạc, dù là muộn màng. Đây cũng là ước nguyện cuối đời của tôi. (PTD)

Phạm T. Duyên











Attached Thumbnails
Click image for larger version

Name:	1554066848-unnamed (1).jpg
Views:	0
Size:	101.7 KB
ID:	1359104   Click image for larger version

Name:	1554066872-unnamed (3).jpg
Views:	0
Size:	115.9 KB
ID:	1359105   Click image for larger version

Name:	1554066884-unnamed (4).jpg
Views:	0
Size:	49.2 KB
ID:	1359106   Click image for larger version

Name:	1554066894-unnamed (5).jpg
Views:	0
Size:	69.4 KB
ID:	1359107   Click image for larger version

Name:	1554066905-unnamed (6).jpg
Views:	0
Size:	158.6 KB
ID:	1359108  

Click image for larger version

Name:	1554066926-unnamed (8).jpg
Views:	0
Size:	130.7 KB
ID:	1359109  
hoanglan22_is_offline   Reply With Quote
Old 04-03-2019   #85
hoanglan22
hoanglan22's Avatar
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Apr 2011
Posts: 5,908
Thanks: 3,711
Thanked 7,527 Times in 3,566 Posts
Mentioned: 47 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 2477 Post(s)
Rep Power: 15
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
Reputation: 23623
Default Trên những vết thương c̣n chảy máu

Qua cầu Phú Mỹ, chạy một lúc là tới Cát Lái rồi lên Thủ Đức. Vậy mà lần lửa từ trước tết đến hôm nay tôi mới đi được. Để tránh thay đổi ư định giờ chót, tôi gọi cho Hùng từ hôm qua.

Tháng sáu trời hay mưa vào buổi chiều, quá 12 giờ th́ đă mịt mù mây đen, tôi vẫn cứ phải đi.

Con sông Sài G̣n ngày nước lên mênh mông, đám ghe buôn, ghe hàng trôi theo nước chen kín một khúc phía xa chân cầu Phú Mỹ, cây cầu dây giăng mới xử dụng vài năm đă có dấu hiệu xuống cấp, mặt nhựa trên lớp bê tông đă nhăn nhúm và phía đông cây cầu, người ta đang hối hả đổ đá phủ lên, lấp bồi đồng hoang cỏ dại của bao năm rừng nước mặn. Đám gốc rễ tràm, rễ đước phơi khô bên đường là dấu hiệu của những đợt tàn phá thẳng tay. Cái khu “Nhà bè nước chảy chia hai, ai về Gia Định Đồng Nai th́ về” bây giờ nó chỉ là đất đá ngổn ngang dưới chân những tháp cẩu cao ṿi vọi.

Chưa tới ngả tư B́nh Thái, Hùng đă réo vang trên điện thoại:

– Ông nhớ ṃ vô đường số 3, tụi tui đang ngồi ở cuối đường, mà cha nội biết ngơ vô chỗ này không đă?

– Trời! lên Thủ Đức tui c̣n muốn lạc huống chi đường mới, tên mới thôi tui gọi ông khi tới gần đó.

Vậy đó, Sài G̣n bây giờ lạ lẫm như vậy, tôi là thứ Mán lạc rừng ở đất địa này, sau mấy chục năm ít có cơ hội ra khỏi nhà.

Đón tôi là 5 gă thương tật từ đầu tới chân, 5 con người ngồi lọt thỏn trong góc quán dưới tàng cây sân thả những sợi rễ dài chấm dất, trông có vẻ t́nh tự văn nghệ, văn gừng không chịu được. Chào nhau chưa kịp đă nghe tiếng Hùng với khuôn mặt biến dạng sau ngày bị thương ở Lai Khê, khi theo tiểu đoàn vào Tống Lê Chân, ào ào trách cứ:

– Nửa năm rồi nghen cha nội, hứa bao lần ông mới ṃ tới tụi tôi.

– Có trời làm chứng, tui ráng hết gân mới tới được, tuổi già bệnh hoạn mà cha.

Quanh bàn là 3 ông Biệt Động.

Người lớn tuổi nhất cựu binh Mai Vinh của sư đoàn 5, người ở lính khi tôi mới một tuổi, ông về sư đoàn này khi ông Thiệu c̣n là đại tá tư lệnh, qua bao chiến trường, bao trận mạc. Cuối cùng, ông lănh một trái phá khi sư đoàn dưới quyền tướng Lê Văn Hưng, với một khuôn mặt méo mó, mất luôn con mắt trái, hàng tá mảnh đạn găm vào người. Ông về vườn và sống tất bật theo cái tuổi về chiều cùng với mớ sắt thép đạn bom vẫn tồn tại trên thân thể đă già nua.

Hai mai Huỳnh Thanh Tâm của Biệt động quân vẫn ngồi yên lặng nh́n tôi năy giờ:

– Từ sau cái G̣ Công Tây, anh mới chịu ló cái mặt ra.

– Anh khoẻ không? Cha! râu dài gần tới rốn, bộ anh muốn lên núi hả?

Người phế binh một chân c̣n lại đó là đàn anh quá tầm so với thời tôi, anh chiến đấu ở An lộc từ cái năm 1970, khi tôi chưa ăn cơm nhà bàn. Anh đi nát chiến trường miền đông, rồi bỏ lại cái chân ở Chơn Thành, có lẽ chính v́ thế anh cũng thân t́nh với hạ sĩ Dương, anh chàng Vơ Phùng Dương này của 4/52 BĐQ quá thân với tôi trong những ngày lặn lội lên đồi Gió, đồi 169 vào những năm 2011 thăm lom những mả mồ hoang lạnh c̣n sót lại sau chiến tranh, và hắn “thằng một chân về chôn bạn” mà tôi rất quí.

Anh Tâm rất hiền, nhưng là dân học trường “Tây uưnh Pháp” nên thường, anh hay rớt lại mấy câu tiếng Tây quen thuộc trong câu chuyện và là dân khoá 23 TĐ, nên dĩ nhiên, một ông ĐĐT trinh sát của lính rằn ri vẫn “you and me”quen thuộc, như thời anh đấu hót với cái máy truyền tin trên tần số của lính Mỹ, khi gọi pháo yểm.

Kéo cái chân giả lên anh Tâm nói với tôi:

– Nó xưa và cũ như cuộc đời tui vậy đó, thấy chưa? Nhưng tui khoái nó, như khóai cái “cây mùa xuân vừa héo ở G̣ Công Tây” của ông vậy.

– Cha nội chuyện đó xưa như trái đất rồi anh nhắc chi?

– Nhắc chớ, những lời nói thật dù dễ phật ḷng nhưng… tui khoái.

Anh cho tôi xem cái chân giả của anh, nó được làm từ thời của thập niên 60, 70 ǵ đó trông thật thô và kỳ cục.

– Trời sao anh không làm cái mới dễ đi hơn.

– Kệ, tui quen nó rồi, dấu chiến chinh giữ măi trong ḷng…


Trương Văn Vân, ngồi đối diện tôi, kế anh là Bùi Văn Ấn của SĐ 25BB. Vân gơ ngón tay lên cái chân nhựa kéo cao ống quần lộ ra cái chân cụt gần sát gối


– Tui bỏ cái chân thiệt ở Hậu Nghĩa, may mà ngày đứt phim có nó chứ không cũng mệt lắm.

Tôi lấy máy ảnh chụp một phát, 3 con người một thời xương máu, c̣n lại chỉ có 3 cái cẳng chân, và cố lấy h́nh ba cái chân giả, mỗi cái có một niên đại chế tác khác nhau, màu sắc khác nhau, dù cùng một chiến trường Miền Nam Việt Nam, nó đánh dấu bao thế hệ nối nhau đi chiến đấu.


Chợt nhớ tới Hoàng Thế Minh:

– Sao tui không thấy Thế Minh vậy? tôi hỏi Hùng.

– Nó chờ ông từ sáng, nên mới về nhà, để tui gọi nó qua, ở gần đây mà. Nghiêng cái mặt dị dạng Hùng ngó tôi trả lời từng tiếng.

Chiều đă xuống và cơn mưa sẽ đến, cái nóng hầm hập của thời tiết Nam bộ cho tôi cái “ngửi” được hơi gió lạnh và mưa đang tới. Hoàng Thế Minh đến, khó nhọc với cặp nạng, nhưng thao tác quen thuộc, anh chống nó xuống mặt đường, quăng người rời khỏi yên xe gắn máy, thằng con trai lớn của anh giúp ông bố tật nguyền đi vào, trên hai cái nạng. Tôi và Hùng đứng dậy đón anh.

Trong bàn chỉ có tôi, Hùng và cựu binh Mai Vinh c̣n nguyên hai chân, nhưng anh Vinh già và hom hem tới độ tôi có cảm giác anh khó ḷng đứng lên được.

– Sao rồi ? Tôi vỗ vai Thế Minh.

– Cũng vậy thôi, chờ anh hoài mà tới nay mới có dịp ngồi lại với nhau.

Câu nói rất b́nh thường của Thế Minh làm tôi khựng lại. Tôi đă từng hứa với anh sẽ lên Thủ Đức thăm anh và hứa từ hai năm rồi vậy mà cho tới hôm nay mới ṃ lên được, dù Thủ Đức chỉ cách nơi tôi ở không quá 45 phút chạy xe gắn máy.

Hùng bảo tôi uống bia, café th́ lúc này toàn ba cái café dỏm, không bắp rang th́ cũng sái nh́ sái ba pha thêm hương liệu, nước ngọt th́ là hoá chất trộn đường hoá học, chẳng c̣n lựa chọn nào khác, dù ba cái bia bọt quả t́nh tôi không thích, Thế Minh cầm càng với chai trà không độ.

Chúng tôi tha hồ đấu hót, chuyện trên trời, dưới nước, chuyện thượng vàng hạ cám.

Hùng nhắc lại với Thế Minh:

– Mày biết hôn, tao ném cái combine, đỡ ông thiếu úy Tuân, bị chơi một phát ở vai phải khi ông ta rút colt 45 hô anh em xung phong, cho đến khi hai thầy tṛ d́u nhau ngả xuống, ông Tuân dính thêm phát nữa và tử trận ở Tàu Ô, trên đường 13 nhuộm máu…

– Mày biết không ổng chết trên tay tao, trước khi phi cơ xuống tải thương. Và hănh diện:

– Tao mang máy cho ổng mà… Tao lại không dính ở trận Tàu Ô này mà rớt tại Lai Khê lúc chuẩn bị lên Tống lê Chân.


Thế Minh thở dài nói với Hùng:

– Vào An Lộc tao cũng te tua nhưng tao ra quân khu I.. và rớt ở khu Trà Bồng, Quảng Ngăi. Tao bị ở đồi Hoàng Oanh.

Hai người chiến binh cùng mũ nâu ngồi nhắc nhau thuở chiến trường, bây giờ họ đang sống chật vật với thương tật trong cái tuổi về chiều, cùng nhau hồi tưởng những mặt trận họ từng qua. Trong mắt họ tôi nh́n thấy một chút nuối tiếc phảng phất trong từng câu, từng chữ, thời lẫm liệt của một đời trai trẻ đă qua.

Cho đến khi Hùng nhắc cái vụ nhận quà từ một tổ chức thiện nguyện mang tên VHF, anh càm ràm về những vấn đề tệ hại xảy ra từ những cá nhân liên quan đại diện cho tổ chức này, th́ câu chuyện bắt đầu ́ xèo lên.

Một cái tên “Chín Cùi” nào đó, đă nhiều lần lạm dụng danh nghĩa đại diện cho tổ chức VHF lừa lọc anh em TPB đang sống tại VN, cướp đi những trợ giúp từ tổ chức này gởi cho các anh TPB mà anh ta làm đại diện.

– Trời có vụ này nữa sao?

Trời đổ mưa, mưa như trút xuống, chúng tôi vịn níu nhau chạy vào bên trong quán, cô chủ quán, một thiếu phụ trung niên, có vẻ rất quen với những tay tàn tật này, chạy ra thu dọn ly tách.

Bên trong quán đă có một bàn với ba người khách đang đánh đàn guitar cùng hát ḥ những ca khúc thời xưa cũ, cái quán rất văn nghệ, tính cách của nó bộc lộ qua những khách gần như quen thuộc với quán, bởi cô chủ cũng là một trong những “ca sĩ” của buổi tŕnh diễn bỏ túi mà không có khán thính giả này.

Vào bàn mới, câu chuyện lại xoay quanh vụ VHF.

Tôi nói với anh Tâm:

– Tổ chức này là VietNam Healing Foundation hả đại ca? Tui có lần vào trang này trên net.

– Ừ, tui cũng bị nó chơi mấy phát, từ 3 năm nay, chỉ vỏn vẹn 600 ngàn một lần, mà hỏi ra th́ VHF vẫn thường chuyển về tôi theo qui định mỗi năm hai lần và mỗi lần là 1 triệu 500 ngàn.

Tôi lẩm bẩm tính toán mỗi năm hai lần:

– Mỗi năm 150 đô la cho mỗi TPB, như vậy cũng tốt quá rồi.

Hùng cau mặt:

– Tốt con khỉ, thằng Thế Minh nè, nhận chiếc xe lăn trị giá hơn triệu tám, tới tay th́ trớt quớt.

Tôi quay sang hỏi Hoàng Thế Minh:

– Sao trớt quớt vậy Minh?

– À, tui mất hai chân, tổ chức này cho một chiếc xe lăn. Tay “Chín Cùi” gọi tôi lên nhận và hỏi tui: “Mày muốn nhận xe hay nhận tiền?”

Anh biết không, cái xe lăn rất quí, nhưng tui không dùng được v́ nhà chật chội, xê dịch khó khăn, nó cồng kềnh so với cái chỗ tui ở, tui nghĩ măi và cuối cùng nói với Chín Cùi “Thôi anh cho tui nhận bằng tiền cũng được”. Chín “Cùi” bảo tui:

“Mày muốn nhận th́ nè, ở đây 600 ngàn tao đưa trước, mày kiếm ra chiếc xe lăn ngồi trên đó chụp h́nh rồi đưa tao, tao sẽ đưa phần c̣n lại 1 triệu 200 ngàn cho mày sau”. Tui về, chạy vắt đầu tóc kiếm cho ra cái xe, chụp h́nh rồi đưa anh ta. Mấy ngày sau Chín “Cùi” gặp tui, bảo tui cà phê cà pháo với hắn cái đă. Bất đắc dĩ tui phải mời anh ta vào quán, ngồi xuống bàn là Chín “Cùi” điện thoại rủ một lô bạn của hắn tới. Kết quả là tui trả hết 700 ngàn tiền nhậu cho họ, rồi ṭ te về với cái xe lăn bằng 500 ngàn đồng trong túi.

Huỳnh Thanh Tâm, gục gặt đầu, mấy sợi râu bạc bay phất phơ trông như một ông thiền sư đă ngộ đạo đang tung tăng trên đỉnh núi.

– Chưa hết đâu, nó c̣n chơi cái màn, cứ mỗi một triệu mà nó đi giao tới là phải 100 ngàn tiền xăng nhớt, chưa nói đến cái khoản café.

Nghe đến đây tôi thực sự lạnh toát người. Trời, anh em bè bạn tôi, những TPB một thời xương máu đă đổ xuống cho biết bao thằng c̣n nguyên vẹn bị cư xử như thế này sao?

– Nhưng mà Chín “Cùi” là ai vậy? tôi hỏi trống không.


Trương Văn Vân, im lặng năy giờ, xắn tay áo góp chuyện:

– Chín “Cùi” hả? Hắn là Nguyễn Hồng Minh h́nh như cũng là TPB của TĐ 3 TQLC. Thằng này xui mà gặp tui là tới số…

Anh Tâm xen vào:

– Tui nghe nói, hắn lấy giấy tờ của anh ruột hắn, chứ hắn không phải là TPB.

Hoàng Thế Minh thêm một câu làm tôi ngẩn người:

– Khi VHF mới tổ chức, có 24 TPB đầu tiên. Tui ghi danh và nhận trợ giúp từ đầu, chính v́ vậy sau một lần duy nhất nhận th́ không có nữa tôi mới hỏi Chín “Cùi”. Anh ta nói là “Mày chưa gởi hồ sơ làm sao có” tui kể cho anh ta là ḿnh chính là những TPB trong danh sách đầu tiên, anh ta nói “Tao không biết, mày hỏi lại đi”. Chuyện này xảy ra trước khi có cái vụ xe lăn.

Đến đây th́ tôi hiểu ra một điều, rất nhiều tổ chức thiện nguyện từ các nơi, cố tâm giúp đỡ những TPB của QLVNCH c̣n ở lại VN nhưng do chính những người đại diện của họ, nên có khi v́ một lư do nào đó, số quà hay sự hỗ trợ của họ không đến được tận tay người nhận.

Cái lư do quả thật nghiệt ngă, cái lư do chết tiệt chẳng có một chút t́nh người, cái lư do nói như kiểu nhà binh, mà Trương Văn Vân trong một phút bất măn đă thốt ra “cái lư do tào lao”.

Lăo tướng Mai Vinh từ đầu không bàn vào câu chuyện trần ai này, anh thở dài:

– Nói cho cùng ngay cả sinh mệnh của ḿnh, ḿnh cũng không biết hà huống chi những cái từ trên trời, từ xa lắc, qua biết bao ṿng, biết bao chặng mới tới tay ḿnh…

Trời đă xuống thẫm một màu, màu mưa lớn, chúng tôi tan hàng. Trương Văn Vân bận chuyện nhà nên về trước, nhưng vẫn rời bàn sau cựu binh Bùi văn Ấn, lăo này phải về rước cháu ngoại tan học nên chào chia tay từ trước cơn mưa. Tôi chở Thế Minh về Thủ Đức, Hùng đưa anh Thanh Tâm về nhà, lăo tướng Mai Vinh lên yên ngựa một ḿnh dù chỉ một nút nữa là tới 80, cái tuổi hiếm hoi trong số cựu binh tôi từng gặp.

Không quen với hai cái nạng xếp dọc sườn xe, nhưng tôi vẫn cố chạy cẩn thận giữa ḍng xe đông như kiến dọc xa lộ với một con người thiếu thăng bằng ngồi phía sau, Thế Minh ṿng tay ngang người tôi giữ cho khỏi ngă trong những cú lạng tránh những gă thanh niên mặt non choẹt đang hùng hổ rú ga chạy ào ào trên con đường chật chội.

– Thời đại của tụi ḿnh hết rồi. Tôi nói với Thế Minh.

– Anh tới ngă tư Kha Vạn Cân th́ quẹo trái nghen.

Đó là con đường tử thần của xe tải một thời vang danh, bởi những chuyến đất đá chở về từ hướng Biên Hoà, con đường bây giờ trở nên chật chội hơn, hàng quán đông hơn, tới nhà Thế Minh phải quẹo trái, phải thêm vài cái nữa, tôi thật chẳng thể nào nhớ nỗi đường xá ở cái xứ người đông như kiến này.

Thế Minh cởi trần kéo tôi ngồi xuống ngay cái chỗ anh ngủ, một cái nhà bếp nhỏ và cái kệ bếp dùng chứa đồ, anh đă nằm ngủ trên cái sàn chật chội nhiều chục năm qua. Nh́n cái khó, cái nghèo xơ xác, bộc lộ qua mái tôn lót một lớp xốp chống nóng, lu bu, ngổn ngang đồ đạc là biết anh khốn khó tới cỡ nào.


Tôi mở máy cho Minh coi những tấm h́nh đă chụp hồi chiều, hai đứa cùng nghe lại mấy lời bực dọc của Vân cùng sự giận dữ của Hùng khi nhắc đến câu chuyện về VHF.

Theo thói quen, để tránh những dấu hỏi khó chịu nếu có sau này, tôi ghi vội trên điện thoại. Hai đứa ngồi với nhau một lúc lâu, rất là lâu.

Chia tay với Hoàng Thế Minh tôi chạy xe dưới màn mưa bụi suốt từ Thủ Đức về đến đầu cầu Phú Mỹ, cả người lem luốc và ướt nhẹp.

Thắng xe dừng ở giữa cầu, chỗ có thể tránh đường xe chạy qua, đứng trên hành lang dành cho người đi bộ, tôi nh́n xuống sông Sài g̣n, thấp thoáng phía xa thành phố mới lên đèn.



Câu nói của lăo tướng Mai Vinh cứ lởn vởn trong đầu tôi “…ngay cả cái sinh mệnh của ḿnh, ḿnh c̣n không biết…”. Cay đắng làm sao! Những con người có một thời chinh chiến, bản thân họ là TPB, mà là TPB của một chính quyền bị tước trên tay từ một chính quyền khác, sự sống c̣n như một tṛ chơi không hơn, tương trợ nhau được biểu diễn qua một đường cong ma mănh.

Bầm dập gần 40 năm tính từ ngày mà cái quân đội họ đă phục vụ không c̣n nữa. Nhưng, suy cho cùng sự chiến đấu lẫm liệt đó chính là chiến đấu cho tự do, cho sinh tồn của dân tộc, của đất nước. Chiến tranh qua đi, sao nó không giống những quốc gia khác, cũng có những cuộc nội chiến, cũng có thương binh. Sao người ta cư xử trong tinh thần thượng tôn của vơ nghiệp, trong cái trân trọng một con người, mà ở đây, trên đất nước này lại khác. Nhớ anh Nguyễn Đ́nh Toàn từng hát cho tôi nghe một ca khúc sau ngày tan trận, lúc hai anh em bị nhốt chung ở nhà giam T20 thành Gia Định từ những năm 1977, trong đó có một câu thật đau đớn “…người với người, đă trở thành thiên tai…”.

Không phải cái đau xuất phát từ những người đối lập, mà nó lại khởi nguồn từ những người cùng một hoàn cảnh, tồi tệ nhất trong các thứ hoàn cảnh tồi tệ khác. Cướp nhau tận cùng, tước đoạt tận mạng những thứ có thể tước đoạt được, trong cái tranh giành sống c̣n hôm nay. V́ cái ǵ? Đói khổ làm người ta mụ mẫm cả lương tri.

Trách sao những món tiền khổng lồ mà các tổ chức quốc tế, của Liên Hiệp Quốc với những kế hoạch đă có vài mươi năm, hỗ trợ cho những kẻ bị nạn sau chiến tranh, những con số hàng chục, hàng trăm triệu đô la, không bao giờ, không thể nào đến tay những thương binh của một quân đội đă bị lăng quên. Những món tiền cỏn con như chút quà mọn như vậy c̣n bị cắt xén tan nát nói chi là cái khác to, lớn hơn nhiều rất nhiều. Chiến tranh để lại quá nhiều tai ương.

Dẫu sao tôi cũng đă thực hiện được cái mong muốn gặp Minh, gặp Hùng và những TPB mà tôi từng biết đến, có người chỉ biết qua một cái tên, có người đôi lần cùng nhau chia xẻ trong những khi tôi có cơ hội và có khả năng chạy vạy từ anh em bè bạn của ḿnh.

Nhắc đến điều này tôi như một con nợ, gánh một gánh với nhiều anh em quen biết, cũng có kẻ chưa từng gặp mặt nhau. Từ những nhà hảo tâm có khi biết, có khi không, giúp tôi có thêm cơ hội sống gần, kề cận với những anh em TPB và biết được những thứ trời ơi đất hỡi chung quanh chuyện trao nhận quà cáp từ xa chuyển về, biết cái sống như chết rồi của anh em, biết cái oai hùng trong đoạn đời chiến đấu của từng người và chính v́ thế mới biết những “cái lư do tào lao” và câu chuyện chết tiệt mà trong đời có lẽ sẽ không sao hiểu nỗi.

nguyễn thanh khiết
hoanglan22_is_offline   Reply With Quote
Old 04-05-2019   #86
wonderful
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Jun 2011
Posts: 5,071
Thanks: 4,558
Thanked 11,893 Times in 4,216 Posts
Mentioned: 28 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 1680 Post(s)
Rep Power: 15
wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7
wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7wonderful Reputation Uy Tín Level 7
Reputation: 34985
Default

Thêm chuyện Paris: Tháo dỡ 65 tấn ổ khóa t́nh yêu ở Paris … đem bán

Cầu Pont Neuf vốn được xem là điểm hẹn của hàng ngàn cặp đôi trên toàn thế giới nay sắp bị tháo dỡ toàn bộ ổ khóa t́nh yêu.

Bắc ngang ḍng sông Seine chảy trong ḷng thành phố Paris – Pháp có hết thảy 37 chiếc cầu bắc ngang, nhưng nổi tiếng và được nhiều người biết đến nhất chính là chiếc cầu nhỏ Pont Neuf dành riêng cho những người bộ hành. Từ lâu, nơi đây đă trở thành điểm đến cho t́nh nhân khắp nơi trên thế giới. Họ “thề non hẹn biển” bằng đủ các loại ổ khóa, gắn vào hàng rào dọc theo thành cầu để cầu mong t́nh yêu bền chặt, gắn bó.
Việc dùng ổ khóa để “trói buộc” nhau là một quan niệm được các cặp t́nh nhân phương Tây khá tin tưởng. Các đôi thường khắc tên ḿnh hay lời nhắn nhủ trên ổ khóa rồi gắn vào thành cầu sau đó vứt ch́a khóa xuống sông gần như trở thành “đặc sản” mà nhiều du khách đến đây đều không thể bỏ qua.

Tuy nhiên, khi mật độ ổ khóa ở đây ngày càng tăng đă vô t́nh tạo nên sức nặng khủng khiếp khiến chiếc cầu có nguy cơ hư hỏng trầm trọng. Trước thực trạng đáng buồn này, chính quyền Paris đă tuyên bố bắt đầu loại bỏ các ổ khoá t́nh yêu gắn trên những cây cầu từ năm 2014 đến nay, đồng thời kết thúc trào lưu khóa t́nh yêu. Tuy nhiên, vấn đề được đặt ra là làm thế nào để xử lí tốt nhất 65 tấn kim loại từ hàng ngàn ổ khóa này trở thành vấn đề được mọi người quan tâm.

Vừa qua, phó thị trưởng Paris Bruno Julliard đă đề xuất ư kiến: thành phố sẽ bán các ổ khoá và khoản tiền thu về đem quyên góp cho những người tị nạn. “Người dân có thể mua lại từ 5-10 ổ khóa hoặc thậm chí là nhiều hơn, xem như lưu giữ một phần lịch sử và kỉ niệm với Paris. Và tất cả lợi nhuận thu về chúng tôi sẽ chuyển hết cho nhóm người tị nạn đang sinh sống tại thành phố”– ông Julliard chia sẻ.
Đợt mở bán đầu tiên sẽ diễn ra vào đầu năm 2017 và hứa hẹn sẽ thu về khoảng 100.000 euro (tương đương 2,4 tỉ đồng). Song song với quyết định này là chiến dịch No Love Locks được phát động mạnh mẽ nhằm kêu gọi du khách ngưng gắn ổ khóa trên các “cây cầu t́nh yêu” ở Paris.






Attached Thumbnails
Click image for larger version

Name:	unnamed01.jpg
Views:	0
Size:	94.9 KB
ID:	1360945   Click image for larger version

Name:	unnamed02.jpg
Views:	0
Size:	81.1 KB
ID:	1360946   Click image for larger version

Name:	unnamed03.jpg
Views:	0
Size:	89.8 KB
ID:	1360947   Click image for larger version

Name:	unnamed04.jpg
Views:	0
Size:	84.0 KB
ID:	1360948   Click image for larger version

Name:	unnamed05.jpg
Views:	0
Size:	85.8 KB
ID:	1360955  

Click image for larger version

Name:	unnamed06.jpg
Views:	0
Size:	95.2 KB
ID:	1360956  
wonderful_is_offline   Reply With Quote
The Following 2 Users Say Thank You to wonderful For This Useful Post:
baolunbeau (04-05-2019), hoanglan22 (04-05-2019)
Old 04-06-2019   #87
hoanglan22
hoanglan22's Avatar
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Apr 2011
Posts: 5,908
Thanks: 3,711
Thanked 7,527 Times in 3,566 Posts
Mentioned: 47 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 2477 Post(s)
Rep Power: 15
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
Reputation: 23623
Default Ra tù



C̣n mấy ngày nữa là đúng thời khắc bốn mươi năm trước, cầm giấy ra trại trên tay và mười mấy đồng tiền xe tàu làm lộ phí. Ḷng nhẹ nhơm. Thế là ước mơ được trở về nhà sau mấy chục tháng “tu tiên “ đă trở thành hiện thực. Dù biết rằng chưa thành người công dân nhưng khi bước ra cổng trại, ngoái nh́n lại những dăy nhà tranh đơn sơ đă một thời là mái ấm, ḷng vẫn thấy vừa vui, vừa bùi ngùi. Một thời gian dài bắt tay viết lại lịch sử đời ḿnh, có những góc kư ức không cố nhớ mà sao khó quên.

Buổi sáng, đứng chờ xe lửa trên ga nhỏ Trản Táo trở về thành phố, ḷng rộn ràng khó tả. Nh́n mười mấy người cải tạo gầy g̣, thuộc nhiều lứa tuổi, mặt mày ai cũng rạng rỡ, măc bồ đồ tươm tất nhất có được, sao thấy đứa nào cũng ngố. Bộ đồ trên người cũng vậy. Hồi đi tŕnh diện mặc một bộ, hai bộ c̣n lại nhét ở túi xách; theo thời gian hai bộ kia đă rách bươn. Bộ đồ sạch sẽ nhất được giặt và cất kỹ ở đáy túi xách, chỉ mặc vào dịp lễ tết và chờ ngày hôm nay. May mà ngày ấy, cũng kịp đến, bộ đồ có cũ đi nhưng vẫn c̣n nguyên.

Ba mươi hai tháng trong trại, ngày ngày lao động, có khi lên rừng đốn cây, thường mặc bộ đồ lính cũ, nay đă rách bươn, vá chằng chịt, hôm qua tặng lại cho thằng “sún“, trẻ nhất trong 6 đứa c̣n lại ở trại như một kỷ niệm để nó có thêm áo quần thay khi tắm giặt, bởi v́ mỗi lần giặt, ai cũng phải phơi nắng ở b́a rừng hai ngày mới khô. Tội nghiệp thằng nhỏ mới khoảng hơn hai mươi tuổi, hồi nhỏ chạy giấy tờ làm lính kiểng ở đơn vị nào đó và ăn rồi cà nhỏng đi chơi, đi học ở saigon. Rồi phải ḷng một cô gái trong xóm lao động gần nhà, cô này lại mê sĩ quan nên anh chàng mỗi lần đến nhà cô gái lại mang bộ đồ lính rằn ri “giật le”, trên vai đeo hai bông mai vàng chói (trung úy) mua ngoài tiệm. Sau ngày 30 tháng tư, đi tŕnh diện như lính ”đơ dèm cùi bắp” bị mấy ông “nằm vùng” tố cáo “khai man lư lịch nên bắt đi cải tạo 10 ngày, chung chỗ với sĩ quan. Không biết chừng nào mới được về với cha mẹ .

Nó nằm gần, trên cái giường tre tập thể, (quên mất tên ǵ rồi, xin lỗi em), đêm nào cũng khóc hu hu v́ nhớ nhà làm nhiều đứa cũng khó ngủ theo. Đưa cho em, hết đồ cá nhân c̣n lại trong trại, tôi chỉ cầm cái xắc nhỏ đeo vai trên người y như ngày đi tŕnh diện 3 năm trước. Khi chiếc tàu lửa đổ xịch trên sân ga, mười mấy đứa lên tàu, cái căm giác nhẹ nhơm lộ hẳn ra trên nét mặt. Vậy là được tự do thật rồi, sắp về nhà rồi. Là tàu chợ Nha Trang-Saigon nên trên tàu chật nêm, đầy những bao bố, thúng gánh hầm bà lằng trên sàn. Tôi chen được một chỗ trước mặt nhờ có bà già đang ngồi thấy người dáo dác t́m chỗ nên co ro, rút một chân lên ghế.

- Tụi bây là cải tạo phải không?
- Dạ, thưa bác, đúng rồi. Mà tại sao, bác biết. Tôi ngạc nhiên hỏi bà cụ.

Bà cười hiền hậu, cái miệng móm mém, chỉ c̣n lưa thưa một hai cái ở trong miệng:
- Tổ cha mày, má nh́n mấy cái mặt tụi bây, ngơ ngơ ngáo ngáo là biết không giống mấy người trên tàu này, thấy không con?

Mà bà già nói đúng thiệt. Xung quanh,phần lớn là đàn bà, phụ nữ, ai nấy, tiều tụy, căng thẳng, nhiều âu lo, nét mặt phong trần , đầy vẻ láu lỉnh; c̣n, nh́n kỷ lại tụi này, thằng nào cũng ngơ ngơ, mắt mở to, thấy cái ǵ cũng nh́n v́ lạ quá. Chiếc tàu mệt mỏi, x́nh x́nh leo qua đồi tre. Nhiều đứa cố nhón gót, nh́n lại lần cuối, nơi quen thuộc bao nhiêu tháng miệt mài với rừng núi.

Vài ba đứa mặc quần áo lao động cải tạo vẫy vẫy tay. Tôi cố nh́n kỷ ,Ơ ḱa, có thằng nhỏ sún răng , chung tổ. Nó nhón gót vẫy tay lần cuối. Khuôn mặt nó nhỏ dần, xa dần rồi mờ hẳn. Mắt tôi mờ đi. Chắc thế nào nó cũng khóc , khóc v́ mừng cho mấy anh và cũng khóc v́ nhớ nhà. Tối nào nó cũng khóc rấm rức mà. Thôi, ráng lên em. Tội nghiệp.

Bà má Nam Bộ, hỏi tôi:
- Ủa sao mày khóc, hả con?
- Tại con mới thấy thằng em c̣n lại trong trại nó mới vẫy tay chào, tôi nghiệp nó. Tôi ngượng nghịu trả lời
- Nó là em mày hả con?
- Dạ, không phải. Nhưng nó hiền lắm nhỏ tuổi hơn đứa em ở nhà, nên tụi con, ai cũng coi nó như em. Thấy nó vẫy tay, tự nhiên chảy nước mắt.

Rồi bà bước xuống đứng cạnh tôi, bà hỏi
- Hồi trước, mày làm lính, nghề ǵ?
- Dạ, con là trung úy, làm bác sĩ.
- Má cũng có con, cũng làm lính đánh giặc nhưng chết lâu rồi, nên má bỏ Saigon, về làm ruộng trong vùng sâu Long Khánh, má sắp xuống ga tới rồi. Nh́n tụi mày, má nhớ con má. Hồi xưa, có lần má đi khám bệnh “quan đốc tây”, gọi bằng Ngài không hà. Sợ lắm, không dám nh́n mặt quan “đốc”. Ở đây, lâu rồi chưa gặp thằng bác sĩ nào trẻ như mầy. Giống con tao. Ráng giữ sức khỏe nghe con, rồi làm ăn nghe. Mà mày có vợ con ǵ chưa con?

- Dạ chưa má ơi. Tôi gọi “má” tự nhiên, ngọt xớt.
- Thôi ráng chịu cực khổ, làm ăn , rồi có vợ con như người ta đi.

Má lần tay vào lưng quần, rồi nắm lấy tay tôi, nói nhỏ:
- Má cho mày cái này.

Rồi bà giúi vào tay tôi mấy đồng bạc nhàu nát moi từ lưng quần. “Xuống ga mà uống nước mía rồi ăn hủ tíu”. Tôi gạt tay bà, định từ chối.

- “Mày đừng làm má khóc, nghe con. Bỏ túi đi. Cho má rờ cái mặt của bác sĩ một chút nghe con. Mắt má nh́n không rơ.

Không đợi trả lời, bàn tay sần sùi, nhăn nheo của bà rờ, mân mê trên mặt tôi từ trán xuống cằm. Tới chỗ c̣n ướt nước mắt, bàn tay bỗng dứng lại, ngập ngừng mân mê như có chút bâng khuâng. Má tôi chết v́ bệnh lâu rồi, chắc cũng gần hai mươi năm. Ngày xưa, má tôi cũng hay mân mê trên mặt con ḿnh, rồi vuốt tóc. Tôi bỗng ôm chầm lấy bà rồi thảng thốt” Con cám ơn má”.

Tàu rúc lên hồi c̣i dài, báo hiệu sắp dừng, bà buông tay tôi, chuẩn bị xuống ga. Mấy đứa đở má xuống ga. “Thôi má về nghe con. Giọng bà buồn, ướt đẫm. Đôi mắt bà bỗng sáng lên, rồi mờ đi. Tôi nắm chặt lấy tay người má Nam Bộ mới gặp, bóp chặt như một lời chia tay. “Thôi má về b́nh an”.

Nh́n ra cửa sổ con tàu trên đường từ ga Trản táo về hướng Saigon, cố nhớ địa điểm ga xép này. Sau này, nhiều lần tôi đă có dịp ngồi trên xe lửa Nha Trang –Saigon, đă nhiều lần lóng ngóng nh́n ra cửa sổ để t́m lại h́nh ảnh người phụ nữ năm xưa nhưng sao hoài vẫn chưa thấy. Cũng đă gần 40 năm rồi, ngồi viết lại mấy ḍng này, mới sực nhớ chưa biết má tên ǵ, nhà ở vùng nào để biết đâu c̣n có dịp gặp lại. Nhưng mà, nếu quả thật, có duyên và Trời Phật thương, chắc thế nào cũng có ngày má con ḿnh gặp lại, nếu má c̣n sống. Lúc đó, tôi tin rằng, sẽ nhận ra ngay v́ h́nh ảnh của má vẫn c̣n nguyên trong trí nhớ, dù rằng, giờ này, tuổi con cũng gần như tuổi má hôm ấy.

Làm sao quên được đôi mắt nhân từ của má hôm ấy, đôi mắt ướt trên da mặt nhăn nheo và cái miệng móm mém. Khuôn mặt buồn thiên thu. Khoan chết nghe má, để c̣n có ngày gặp lại.

Người Đăng: buithiengiao
Attached Thumbnails
Click image for larger version

Name:	image.jpg
Views:	0
Size:	13.7 KB
ID:	1361576  
hoanglan22_is_offline   Reply With Quote
Old 04-08-2019   #88
hoanglan22
hoanglan22's Avatar
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Apr 2011
Posts: 5,908
Thanks: 3,711
Thanked 7,527 Times in 3,566 Posts
Mentioned: 47 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 2477 Post(s)
Rep Power: 15
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
Reputation: 23623
Default Trại 5 - Mùa Cùm!



Chú thích của TV PVT: Trại 5 Lam Sơn ngày nay (sau 2010 ....) cũng c̣n gọi là Trại 5 Thanh Hóa tức trại giam số 5 của Bộ Công an cộng sản tại Thanh Hóa, nơi đây sau 2005 đă giam giữ Phạm Thanh Nghiên, Trần Ngọc Anh, Lê Thị Công Nhân, Lê thị Kim Thu, Tạ Phong Tần, Cù Huy Hà Vũ, Trần Khải Thanh Thủy … và mới đây giam những người bị tước đoạt điền sản tại Dương Nội với người nữ dân oan tiêu biểu là chị Cấn thị Thêu. Nơi đây cũng c̣n đang giam giữ người con gái đất Trà Vinh, Nguyễn Đặng Minh Mẫn... - Nguồn ảnh: VOA tiếng Việt (http://www.voatiengviet.com/)

******

1. 1995
Sau Tết chừng hai tháng th́ 10 người tù A 20 ra Bắc hồi đợt tháng 11.1994 được chuyển sang nhà 4, đoàn tụ với anh em A 20 ra Bắc đợt cận Tết 1995. Anh em mừng tủi ôm nhau nước mắt lưng tṛng. Tội tu sĩ Nguyễn hữu Tín, ông gầy đét, trơ hai hàm răng trắng đứng đợi tôi cạnh cổng ra vào, nắm lấy lấy tay tôi ông hỏi « …sao gầy vậy Thành! »

Nh́n ông, nh́n anh em, vui mà muốn khóc. Tôi nói.
- Bộ thầy mập lắm hay sao mà biểu con sao gầy thế?

Ông cười, mặt gần như chỉ c̣n thấy hàm răng trắng và hai con mắt đă nhiều lớp nhăn, xúng xính trong bộ áo quần màu nâu đă bạc thếch, nổi đậm lên hai chữ cải tạo màu đen đă đổi thành xám xịt, đóng to đùng giữa lưng và hai đùi.

Anh Nguyễn Kim Long đứng trên bực thềm, gầy không thể tả! Hai con mắt đă thành sâu hoắm, đôi tay ḷng kḥng đưa ra ôm lấy tôi. Bên cạnh là giáo sư Nguyễn văn Bảo và vơ sư Lê Ngọc Vàng.

Đỗ bạch Thố vẫn như ngày nào ở A 20, rất nhanh gỡ ba lô và cái ḥm gỗ (chính Thố đóng bằng gỗ mít ở A 20) trên tay tôi xuống rồi đem thẳng vào chỗ nằm đă qui định sẵn.



Những người tù từ A20 Xuân Phước, bị cộng sản đày ra Trại 5 Thanh Hoá 1995 và ngày 29.12.1999 chuyển về trại Nam Hà. Trong h́nh này, hầu hết là án từ 16 năm đến chung thân. Hàng đầu từ trái: Trần Đế (Cần Thơ 18 năm); Chí sĩ Cao Đài Hồ Vũ Khanh; Đỗ Minh Tuấn - tổ chức Hoàng văn Hoan- Hải Pḥng); và Trần Nam Phương (Quảng Nam chung thân). Hàng sau từ trái: Nguyễn duy Cường (Vũng Tàu, áo choàng xanh đen, 14 năm); Dương văn Sĩ (Sóc Trăng chung thân); Lê Thiện Quang (Huế 15 năm); Lương quang Ḥa (Thanh Hóa); Vũ đ́nh Thụy tức Vơ Lâm Tể (Phú Yên chung thân); Phan Văn Bàn (Quảng Nam /Long Thành, tổng án 32 năm) (1); Bùi Thúc Nhu (Phú Yên, chung thân) - ảnh tư liệu của Phạm văn Thành

Gặp lại nhau, dù mới cách xa có 5 tháng, nhưng t́nh cảm thật dạt dào! Thứ t́nh cảm mà suốt 16 năm tiếp theo đằng đẵng trong đời tôi - sau tù - không thể t́m có được, dù đă đi cùng trời cuối đất khắp Âu Á Mỹ Úc xa xôi…

Khu cách ly A4 là một nhà bê tông mái bằng, xây dựng lại trên nền đất của bệnh xá trại tù trung ương số 5 Lam Sơn, một nhà tù hơn 50 năm liền đoạt danh hiệu tiến tiến tiêu biểu của ngành công an quản lư tù!

Dăy nhà ngăn làm đôi. Tôi và toàn nhóm 10 người bị xếp vào phần nhà phiá ngoài gần cổng A4a. Nhà có bốn thường phạm sống chung với chính trị phạm chúng tôi. Vơ sư Lê ngọc Vàng, giáo sư Bảo, bác sĩ Kim Long, thày Tín, Biệt kích Nguyễn văn Trung, B́nh định Trần Minh Tuấn, nhà giáo Hoàng xuân Chinh …. đều bị xé khỏi tôi và Phạm anh Dũng, Nguyễn ngọc Đăng, Lê Thiên Quang và Trần văn Lương.
Lược qua nhân sự phân bổ hai nhà, tôi hiểu là cách phân bổ này được chỉ định từ trung ương, nằm ngoài hoàn toàn quyền hành của giám thị trại 5, v́ phải là đă theo dơi hồ sơ cùng hành vi của từng người nhiều tháng nhiều năm mới có thể phân định được chính xác sự …gai góc của từng người mà xếp chỗ nằm như vậy.

Pḥng tôi có hai sự lạ là sự có mặt của Phượng Hoàng Phan văn Bàn. Như vậy là anh Bàn đă dấu được độ gai góc của ḿnh. Có anh Bàn trong buồng, tôi vững tâm rất nhiều. Chỗ nằm của anh bị xếp vào góc trong cùng sát tường, đối diện chỗ nằm của Thày Mai Đắc Chương. Bên cạnh thày Chương là Trần Nam Phương rồi đến tôi, đến h́nh sự (thường phạm) Sáng và tới Lê thiện Quang, Đỗ Bạch Thố, Phạm anh Dũng, Trần văn Lương, Nguyễn đ́nh văn Long, Nguyễn hữu Thiết (vụ Linh Mục Nguyễn Văn Vàng (2)). Sau anh Thiết là hai người tù thường phạm khác. Dăy bê tông đối diện là h́nh sự Quân, rồi tới chính trị phạm Michel Nguyễn Muôn, Moris Đỗ Hườn, rồi Kiên h́nh sự, rồi chính trị phạm cựu Đại úy Đỗ Hồng Vân (cùng vụ tôi), nhà giáo Phan văn Lợi (anh Bảy Lợi) và một anh quê ở Huế tôi đă quên tên rồi đến anh Phan văn Bàn. Dương văn Sĩ sau khi từ Thanh Cẩm chuyển về (4 tháng sau khi tôi chuyển sang nhà A4) được xếp sát chỗ nằm anh Bàn. Vũ đ́nh Thụy cũng nằm gần anh Bàn.

Sinh hoạt chính của khu cách ly được biểu lộ rơ nét ở buổi trưa. Đây là giờ chuẩn bị ăn trưa và nghỉ trưa. Muốn biết quan điểm và thái độ của từng người tù, cứ điểm danh các nhóm ăn cơm chung là có đáp số rạch ṛi.

Khi tôi sang nhà 4A, các nhóm quan điểm tự nhiên h́nh thành công khai. Góc đầu hồi trên bệ hành lang phiá sau nhà A4a được anh Bàn quét dọn sạch sẽ và trở thành chiếu sinh hoạt của nhóm chúng tôi. Chủ lực từ giấc sáng tan giờ đập đá là anh Kim Long, giáo sư Bảo, Lê Ngọc Vàng, Hoàng xuân Chinh … từ buồng A4b sang. Cơm trưa chủ yếu là anh Bàn và anh Trương văn Sương quán xuyến. Nơi chiếc chiếu này, lư thuyết Nhân Bản Việt được giáo sư Nguyễn văn Bảo đặc biệt chú trọng giải bày. Bác sĩ Nguyễn Kim Long phân tích chi tiết về các vấn đề của Hiệp định Geneve và Hiệp định Paris 1973. Anh Phan văn Bàn nói về các chiến dịch Phượng Hoàng và các kinh nghiệm. Trương văn Sương được hỏi kỹ về giai đoạn hoạt động ở Hoàng Sa và biên giới Thái Việt với tổ chức anh Trần văn Bá. Vụ án và tổ chức của ông Hoàng cơ Minh cũng được đặc biệt mổ xẻ tại không gian này một cách hết sức nghiêm khắc.

Lê thiện Quang (3) chủ yếu nói về yêu cầu hài ḥa tôn giáo và yêu cầu chuyên nghiệp hoá các phản ứng mang tính cách chính trị, đây là người rất cứng rắn yêu cầu anh em lột bỏ những quán tính quá khứ quân đội của những người như anh Trương văn Sương, Vũ đ́nh Thụy:

« …Chúng ta 20 năm trước là những Thiếu úy, Trung úy, Đại úy. Nếu không mất nước mà c̣n sống, giờ này chúng ta đă phải mang trách nhiệm của những Đại tá, Thiếu tướng, Trung tướng … cầm vận mạng của hàng chục ngàn chiến binh và gia đ́nh họ. 20 năm đă trôi qua, đừng ám ảnh cái dĩ văng Thiếu úy Trung úy nữa! Quân đội đă mất, vũ khí đă mất, nước cũng không c̣n … việc hôm nay của chúng ta là việc của những bậc đại sĩ làm chính trị hưng quốc. Tầm vóc ấy hàng ngàn thằng Thiếu úy Trung úy không so sánh được! Phải nhận ra trách nhiệm lớn lao của từng người … »

Quang là người Công Giáo Phú Cam, truyền thống giữ đạo của người vùng đất thánh địa La Vang là một truyền thống hết sức đặc biệt. Vụ án của tôi bị kích lên hàng tối nguy hiểm để xử ṭa đại h́nh đồng lúc sơ chung thẩm cũng là v́ những nghi ngại liên quan đến lực lượng công giáo Phủ Cam, bởi Trần Tư đầu vụ có xuất thân từ Phủ Cam, Văn đ́nh Nhật cũng có những dấu chỉ liên quan mật thiết với Phủ Cam, Phạm đức Hậu từ Mỹ về trước khi bị bắt hầu hết quan hệ đều dính dáng tơí các họ đạo Công giáo và Đỗ hồng Vân lại liên quan chặt chẽ với các nhóm lực vũ trang Cao đài và Phật Giáo Ḥa Hảo! Vụ án tiềm tàng một nỗi ám ảnh mà cơ quan an ninh đầu năo cộng sản luôn luôn sợ hăi, đó là thế lực hành động của các lực lượng tôn giáo.

Trong bối cảnh ấy, Quang là người khả dĩ có thể nói rất cứng với những anh cựu sĩ quan VNCH khác, bởi bản tánh cũng như tầm hiểu biết của Quang là rất vững vàng. Xuất thân sĩ quan Nha Kỹ Thuật cũng tự nhiên làm thành tường lũy để anh có thể phát biểu những ư tưởng vơ tuyên với tất cả những anh em tù A 20 mà ít ai là không phải suy nghĩ sau khi nghe những điều anh nói. Một người hiểu biết nhiều nhưng không phải bạ chỗ nào cũng phát biểu những suy nghĩ của ḿnh.

Chiếu ăn nhóm chúng tôi khoảng 12 người sau khi tôi tách nhóm sinh hoat của Đỗ bạch Thố và anh Phạm anh Dũng. Mục đích là tránh sự chú ư của phiá giám thị vào những nhân lực chủ yếu luôn muốn hành động chống lại chủ nghĩa cộng sản bằng bất kỳ giá nào hoặc kiểu cách nào.

Hoàng xuân Chinh sống một ḿnh vơí sự kham khổ đến mức tối đa. Nguyễn văn Trung cũng vậy, Trần Minh Tuấn cũng vậy. Đây là ba con ngướ đăc biệt vơí những cá tánh cực kỳ đặc biệt, không chịu mang ơn bất kỳ ai, dù đời sống chỉ có cơm trại và rau muối. Trần minh Tuấn suốt ngày giang nắng ngoài trời, những vồng đất cằn phèn thế nào đi nữa, với bàn tay của Tuấn, chỉ hai ba tháng sau là khổ qua, đậu bắp, cà chua, cải, mướp, bạc hà mọc lên la liệt…anh em cũng nhờ vậy mà có thêm thứ để nhét vào bụng và cũng là cơ hội để nhét vào túi cói của Tuấn lúc th́ chai nước tương khi th́ vài lát đậu phụ, coi như có qua có lại v́ ông thần nước mặn này vô cùng khái tính. Tính cách này 20 năm ṛng, Tuấn mang theo nguyên vẹn qua tất cả các nhà tù khắc nghiệt nhất nh́ Nam Bắc. Giờ đây, 16 năm sau khi bị tống xuất khỏi nhà tù và quê hương, nhắc đến anh, ḷng tôi không khỏi mênh mang cảm giác luyến thương và kính phục, một mẫu người trai đất vơ đặc thù của sông núi miền trung (B́nh Định).

Khu cách ly A4 là nằm trên phần đất rộng nhất của các khu trong phân trại A (giờ họ gọi là Phân trại 1, theo như cựu tù chính trị đang c̣n trong nước, cô Phạm Thanh Nghiên (4) xác định). Khu này giếng không có nhiều nước nên anh em quyết định đào sâu thêm. Tôi vô cùng ái ngại khi biết rằng trước đây, thời c̣n các anh tù cải tạo 1978/1988, khu này là bệnh xá và nhà cầu bệnh xá cũ không xa nơi đang đào sâu thêm cái giếng định mệnh là bao! Giếng sau khi cố đào hàng tuần, nước cũng chỉ đủ ½ cho gần trăm con người nên giám thị buộc phải để đội phân bổ người xuống nhà bếp để gánh nước về dùng. Anh em rất nhanh đề cử tôi đi lấy nước cho nhà buồng, v́ trong nhà hầu hết đều đă già yếu hoăc bệnh tật.

Mấy tháng đầu phiá trực trại không đồng ư cho tôi ra khỏi khu cách ly để đi xuống khu nhà bếp kéo nước giếng về nhà buồng … nhưng sau đợt cùm kiên giam 7 tháng, họ nhắm mắt khi thấy tôi cứ xồng xộc gánh đôi thùng đi kéo nước, phần v́ thời gian cũng đă hai năm, t́nh cảm nơi mỗi con người chân chính khó có thể ghét nhau măi được. Trên có hét ḥ th́ hét ḥ, c̣n họ là ngướ dưới, miễn sao giữ không để chúng tôi làm loạn là được … nên mỗi khi tôi xồng xộc đi kéo nước, lại có hai ba cậu h́nh sự xách thùng chạy theo và ông quản giáo đội bếp phải canh chừng, đội trưởng đội bếp cũng lảng vảng suốt "hành tŕnh" từ bếp đi qua nhà căng tin, qua cổng bệnh xá và vào khu cách ly. Tất cả các thường phạm đều được lệnh cấm triệt để không được chào hỏi hay dạ thưa ǵ vơí chúng tôi nếu như «vô phúc » phải đụng đầu. Nhớ có lần tôi bắt chuyện vơí một ngướ mẹ c̣n rất trẻ, chị đang địu đứa con chừng 5 tháng, vừa địu con vừa rửa rau, cả một xe ḅ rau muống …
- Tôi giúp cô được ǵ không?
- Bác cho cháu cái …sịp!

Người mẹ trẻ trả lời rất nhanh, mắt vẫn không rời những thúng rau bự chảng.Tôi sững người mất vài giây mới hiểu ra …

Cả tháng sau đó vô t́nh cũng một lần rửa rau ở bờ giếng. Cô bé than “Các ông ấy vặn hỏi cháu đến chết khiếp. Giờ bác có cho cháu cái ǵ cháu cũng không dám nhận! Hăi lắm”!

Đó là người thiếu phụ sanh con trong nhà tù, bị bắt án 12 năm v́ tội “gánh Thánh Kinh vượt biên giới”! Lần ấy, qua một đứa em h́nh sự tôi nhờ bàn tay nữ giang hồ khét tiếng đất cảng là cô Dung Hà để lo chút đỉnh cho cô gái bé nhỏ ấy. Được biết là Dung Hà có lo lắng cho mẹ con cô này, trước khi được trả tự do và sau đó chết thảm trong một vụ thanh toán giang hồ với tổ chức xă hội đen Năm Cam ở Sài G̣n.

Giàn phong lan được các tù h́nh sự cắt gọt từ vách Núi Mành vốn treo la liệt khi chuẩn bị đón đoàn tù thứ hai ở A 20 ra trại 5 này, các đoàn “tham quan” cũng đă hai ba lần vào ra xem xét. Tôi ngứa mắt bèn đào hố và xuống khu chăn nuôi heo gánh phân chuồng (đă rất hoai / phân hủy). Mấy tay an ninh trại cũng đành chịu vơí quyết định ương bướng của tôi. Tay quản giáo tên Nghị phàn nàn vơí tôi “Anh thật quá quắt! Giàn phong lan như thế anh cho mướp đắng vơí bầu leo lên th́ c̣n ǵ là phong lan?”. Tôi trả lời nhă nhặng nhưng không kém cứng rắn:
- Chúng tôi cần sống! Tất cả những thứ anh em tôi trồng ngoài đội đều bị ăn cắp hết! Giờ tôi làm thế này, lan sống đươc th́ càng đẹp, không sống được th́ để chúng tôi sống!

Quản giáo Nghị ừ hử một vài câu rồi bỏ đi.

Giàn phong lan hai tháng sau thành giàn bầu bí và khổ qua dày đăc, trái ra cơ man nào là trái. Nhóm chúng tôi kéo chiếu xuống giàn mướp đắng. Không gian này vơí tôi thành chồng chất biết bao kỷ niệm.

Một lần Đỗ Bạch Thố tỏ ư muốn làm lễ giỗ cho ông Hoàng cơ Minh và anh em đă chết trong cuộc xâm nhập từ Thái năm 1987 (“Đông Tiến” 2). Đó là tuần lễ cuối cùng của tháng 8 năm 1996. Tôi nh́n Thố, nhẹ giọng.
- Cùm đấy bồ tèo!

Thố cười khoe đôi hàm răng đă bị đánh gẫy hơn nửa.
- Cùm th́ cùm chớ ngại ǵ! Anh em họ cũng cần chút hương khói…

Mâm cơm cúng có một con gà luộc vàng lườm, có xôi trắng của Quang cho gạo, hai đĩa muối. Thố kêu tôi chủ lễ nhưng tôi từ chối.
- Ở đây chỉ ông có đủ tư cách chủ lễ!

Anh em về từ Thái có B́nh là nhóm Đông Tiến 1 nhưng v́ khi ở A 20 B́nh có thời gian làm đội trưởng mội đội làm gạch, lại có một số vấn đề lớn c̣n khúc mắc trong giai đoạn xâm nhập cùng đoàn ông đại tá Dương văn Tư … nên chỉ có Vơ Kỳ Phát và Đỗ bạch Thố là hai người của đoàn xâm nhập 1987 đang có mặt tại khu cách ly chính trị trại 5.

Nhóm Đông Tiến 3 ở khu nhà 1A (nhóm Trần quang Đô tức Đào bá Kế), mấy đứa em làm cách nào đó tôi không biết, chuyển được cho Thố chừng gần một xị rượu đế (cỡ 200ml).

Các đầu vụ đang có mặt tại khu cách ly đều biết giờ làm giỗ, hầu hết đều có mặt, chiếc cốc nhựa đựng cát sạch dùng để cặm chân nhang (do h́nh sự Nguyễn văn Linh t́m nhang bên khu nữ) khi tàn, tôi đếm là 22 gốc nhang.

Anh em từng người bái nhang, lâm râm khấn vái, ḷng biết chắc là hôm sau sẽ to chuyện.

Ngày hôm sau Thiếu tá Lâm an ninh trại ra lệnh tập trung toàn bộ tù ra từ A 20, lên hội trường họp.

Buổi họp được gọi là buổi kiểm xét đột xuất và sự việc cúng giỗ ông Hoàng cơ Minh và đoàn quân xâm nhập từ Thái Lan 1987 đươc ông Lâm lên lớp tuyên giáo. Tôi yên lặng quan sát thái độ từng người v́ biết chắc ông ta sẽ gọi một số người tiêu biểu (đă có ư quy thuận quyền lực nhà tù). Trù liệu của tôi xảy ra đúng y x́. Ông Phạm đức Khâm, ông Michel Nguyễn Muôn bị mời đích danh phát biểu. Khá bất ngờ là cả hai ông đều nói rằng việc đó là việc đạo nghĩa cá nhân của mỗi người, các ông không ư kiến. Tất cả những người cứng rắn đều ở tư thế chuẩn bị phát biểu, không khí bắt đầu căng thẳng...

Có lẽ chỉ muốn cho xong việc v́ đây là thừa lệnh của cấp trên, nên thiếu tá Lâm sớm nói lời kết thúc. Khi nói lời kết thúc, miệng ông có khuynh hướng ḍm vào chiếc túi áo ông ta… và tôi hiểu là ông ta nói cốt cho cái micro đang ẩn trong ấy nghe rơ.

Tôi nh́n anh Bàn. Anh Bàn chớp mắt nhẹ lắc đầu. Nh́n qua Trung, Trung đưa mắt sang anh Bàn. Tôi hiểu là không nên dồn Lâm vào đường bí nên im lặng không phát biểu.

Buổi họp kiểm xét xong, về buồng, hai sĩ quan cai tù vào tận chỗ Thố đề nghị Thố đi làm việc. Buổi chiều, mấy người h́nh sự được lệnh gói hết đồ đạc của Thố niêm phong lại và cho đem vào khu cùm duy nhất một chiếc chiếu đơn đă rách tơi hẳn một góc.

Đợt cùm này khởi đầu cho nguyên một mùa cùm của chúng tôi, Đỗ Bạch Thố, Nguyễn văn Trung lai, Trương văn Sương, Phạm văn Thành, Phạm Anh Dũng, Nguyễn Ngọc Đăng, Vũ Đ́nh Thụy, Hoàng Xuân Chinh và người tù Fulro luôn có ánh nh́n căm thù tất cả mọi dạng người Kinh. Mùa gặt cùm này tôi bị kéo dài 7 tháng cùng với cái chết cô độc của Kstum!

* * *

V́ sự nhạy cảm của đội tù chính trị miền Nam đang có măt tại trại Lam Sơn, nhà tù phải cho các đội h́nh sự đánh xe ḅ để chở đá lớn từ ngoài trại, đem vào tận khu cách ly để tù chính trị lao động đập thành đá rải đường cung cấp cho bên công lộ.

Các anh tù miền Nam ra từ A 20 chuẩn bị chỗ ngồi đập đá của mỗi người thành như những bộ ghế dành cho các sơn vương xa xưa thường ngồi ngự. Thái độ bất cần quyền lực của kẻ cầm quyền thể hiện rất rơ ràng. Phiá giám thị cũng chỉ coi việc đập đá của nhóm tù miền nam là việc h́nh thức để giữ thể diện nên không có chuyện gay gắt bắt phải chỉ tiêu này chỉ tiêu kia...

Thời gian này có một sự lạ, đó là sự xuất hiện của một ông quản giáo đă đứng tuổi thay cho Nghị. Nghi là thiếu tá, tuổi ngang với tuổi tôi (sanh khoảng 1960). Người quản giáo đứng tuổi cư xử rất nhẹ nhàng với nhóm tù miền Nam. Điều lạ là ông ta gọi khoảng một nửa số tù từ miền Nam đang có măt tại trại 5 Lam Sơn. Từng người một để “làm việc”. Ông ta kê hai cái ghế ở góc một khoảng đất mà anh em đang trồng rau. Nội dung các câu hỏi xoáy quanh lư do “phạm tộ” của người được hỏi. Thời gian xảy ra vụ án và số người bị lĩnh án. Các anh đa phần sau khi “làm việc” đều thông báo chi tiết các nội dung cho tôi qua hai cầu nối là anh Bùi thúc Nhu và anh Trần Nam Phương. Nhóm tham mưu gồm Hoàng xuân Chinh, Trần minh Tuấn,Trần nam Phương, Nguyễn văn Trung, Nguyễn văn Bảo, Phan văn Bàn, Dương văn Sĩ, Lê thiện Quang, Lê ngọc Vàng, Phạm anh Dũng và tôi mỗi 4 ngày đều có một buổi trưa bàn thảo từng câu hỏi đă được đặt ra. Sau hai tuần, chúng tôi đều chung một nhận định rằng sự kiện tù A 20 là một sự kiện đă gây sự ngạc nhiên lớn lao cho tầng lớp quân cán chính tại toàn vùng Thanh Hoá. Ông Nguyễn văn Bảo nói.

- Ngựa đă sang sông! Ít nhất chúng ta đă làm được một nhiệm vụ. Đó là đánh tiếng cồng tranh đấu vang vọng vào tâm trí đồng bào của chúng ta ngay nơi vùng đất đă đẻ ra chế độ! Người có ư thức của miền bắc sẽ được hiểu là cuộc tranh đấu chống lại chủ nghĩa cộng sản chưa bao giờ dừng lại tại miền nam, dù đă phải trả những cái giá cực kỳ thảm khốc!

Ông Bảo là người nhỏ con nhất trong đoàn tù từ nam ra bắc năm 1995. Thân ḿnh nhỏ nhưng cái đầu của vị giáo sư trung học VNCH này là cực kỳ cứng rắn và sắc bén.

Người quản giáo đứng tuổi đến với đội tù A 20 được chừng hơn một tháng th́ xảy ra chuyện.

Hôm ấy tôi và Nguyễn văn Trung đi cùng người quản giáo này để mượn hai tấm ky khênh đá (bện bằng tre nứa đă đập dập luồn vào hai đ̣n cáng, dùng để hai người khênh đất hoặc đá cho xây dựng hoăc đào ao). Ky là mượn của đội “quá đà” - tức đội của Đào bá Kế. Không biết Trung đi lấy ky thế nào mà tên quản giáo của đội Đào bá Kế văng tục gián tiếp với Trung. Y đối đáp với viên quản giáo của đội chúng tôi đại khái là “ĐM, giă nhừ chúng nó ra, viêc đ... ǵ phải nhân nhượng”! Trung vác tấm ky lên chỗ tôi và mấy anh em đứng đợi, mặt tái đi. Trung là người mang hai ḍng máu Pháp Việt, cao mét tám da trắng mũi cao đặc thù. Làn da trắng này khi giận là biến thành như xanh tái. Tôi đến gần ư muốn hỏi chuyện ǵ. Anh nói ngay.
- Không xong rồi! Thà là nó nói hẳn sau lưng ḿnh! Chứ nó nói cố ư cho ḿnh nghe … th́ không xong!

Tôi đỡ một đầu tấm ky, nói với Trung.
- Ra đội đă anh Trung! Ǵ cũng phải bàn bạc nhau cái đă …

Từ b́a trại ra đến khu vực đội làm rau tự túc của nhóm tù từ nam ra trại 5 chỉ chừng 15 phút. Đội nằm bên một cái ao rộng, có ba bốn cây mít cổ thụ gốc hàng hai người ôm. Bờ giếng sạch và nước rất trong mát. Một hàng dừa khoảng 30 cây chạy chung quanh bờ ao sát vời cánh đồng cấy lúa quanh năm, được dẫn nước từ con đập mà tù đă đắp suốt nhiều năm để ngăn chuyển ḍng nước sông Cầu Chày.

Bên những gốc dừa vừa được kê đá thành các chỗ ngồi để đập đá lớn thành đá dăm nhỏ. Quyết định đ̣i phải có sự đối mặt vơí quản giáo đội “quá đà” để hỏi rơ nội dung câu nói “gĩa nhừ” là nhắm vào ai? Nếu là nhắm vào đội tù từ A 20 th́ nguyên cớ từ đâu?
- Nó là đ̣n nắn gân! Ta không phản ứng th́ trưóc sau chúng cũng sẽ xếp ta ngang hàng với bên đội “quá đà”, tức là chúng mặc nhiên coi chúng ta là “phỉ”. Hoạt động phỉ!

Chinh nói dơng dạc và Tuấn đóng đinh đề tài bàn luận.
- Ngay sau đây, anh Vàng đại diện đội nói rơ ràng ư kiến của anh em với quản giáo, rằng chúng ta không chấp nhận câu nói ấy của một quản giáo nhà trại. Chúng ta cần sự minh bạch của câu nói đó! Để tỏ thái độ, bắt đầu từ chiều nay chúng ta sẽ phản đối việc lao động cưỡng bức. Đồng loạt không đi làm!

Vàng nh́n một lượt, thấy sắc mặt mọi người đều đanh lại hoăc cười nửa miệng, anh biết là không thể bàn lùi được. Vàng xoay người, đập đập chiếc mũ vải trên tay bước đi về phiá nhà lô (tức là nhà trực của quản giáo và bảo vệ vũ trang của mỗi đội tù).

Chừng 10 phút sau, người quản giáo đứng tuổi xuống tận gốc dừa nơi anh em đang ngồi uông trà. Ông muốn câu chuyện được chấm hết ở đây và ông nhấn mạnh rằng câu nói đó chỉ là một sự ngộ nhận. Nửa giờ đồng hồ nói chuyện qua lại, hai bên không có được điểm đồng thuận. Đội giữ nguyên quyết định chiều sẽ không xuất trại lao động.

Buổi trưa, một cuộc bàn thảo diễn ra dưới giàn khổ qua, quyết định sẽ xếp hàng trong sân khu cách ly. Đúng khi quản giáo và trực trại mở cổng để xuất khu, một ngướ sẽ đứng ra xác định thái độ bất tuân quyền lực nhà trại về việc lao động để bày tỏ sự phản đối thái độ của quản giáo đội “quá đà”. Yêu cầu tiến hành cuộc đối mặt công khai giữa đội tù từ A 20 và quản giáo đội quá đà! Người đứng ra xác định quan điểm ấy là tôi.

13 giờ, dưới cái nắng gay gắt. Khi quản giáo và quản chế vũ trang mở cổng, không khí khác thường thấy rơ. Bên cạnh viên quản giáo là hai người thượng tá phó giám thị. Quản chế súng dài bốn hay năm người đứng chắn ngang ngoài cổng khu. Đội đứng im sau khi anh Vàng báo danh số người hiện diện. Tôi tách hàng hai mét. Nói đủ lớn để tất cả mọi người đủ nghe từng câu từng chữ. Nội dung xác định việc bất đồng quan điểm đối vơí thái độ phát ngôn của viên đại úy quản giáo đội quá đà, đồng thời yêu cầu phải trực tiếp đối mặt với viên đại úy đó để làm rơ ràng về nội dung lời đă phát biểu!

Dứt lời, tôi bước ngang hẳn bốn mét rời khỏi hàng chính thức của đội và yêu cầu những anh em nào đồng ư vơí sự phát biểu phản đối lao động mà tôi vừa đại diện tŕnh bày, th́ bước hẳn sang hàng phiá trái (tức hàng tôi đang đứng), anh em nào không đồng ư vơí sự phát biểu của tôi th́ đứng nguyên hàng và xuất trại đi lao động b́nh thường.

Không khí đấu tranh quyết liệt hiện lên rất rơ ràng. Ba phần tư tách hàng đứng về phía bên trái. Viên phó giám thị mặt lạnh như tiền, bảo những anh em đồng ư xuất trại lao động xuất cổng. Cổng đóng lại sau khi các anh em đồng ư xuất trại bước hết ra sân ngoài.

Những người giám thị và quản giáo, trực trại, an ninh, giáo dục … không ai nói ǵ, quay đấu hướng về lầu giám thị. Anh em vừa tách hàng đứng ra bên trái tách nhanh, ai về tụm ấy. Ai cũng hiểu cái giá sẽ giáng xuống anh em sẽ xảy ra trong vài giờ tới.

15 h Hoàng xuân Chinh bị mời ra lầu giám thị làm việc.
16 h Vũ đ́nh Thụy được mời đi.
17h30 Nhóm tù h́nh sự được lệnh gói tư trang của anh Thụy và anh Chinh niêm phong.
18h30 BÁO ĐIỂM DANH NHẬP BUỒNG. THỤY VÀ CHINH KHÔNG THẤY ÁP GIẢI VÀO KHU CÙM. Nghĩa là đi đâu không biết!

Không khí có vẻ khó thở, v́ bản thân chúng tôi không có ai biết rành rẽ từng phân trại ở đây, chỉ mơ hồ nghe về Khu C, được gọi là K Chết, tức là khu trại gốc của thời Lư Bá Sơ, nằm hẳn sát vào b́a núi phía sau hẳn hai cánh đồng mà đội chúng tôi hằng ngày đập đá bên cạnh.

Buổi tổi tôi trao đồi với anh Dũng.
- Trận này sẽ rất căng. Ta cần người không bị dính ǵ đến qui chế kỷ luật để thông tin ra bên ngoài nên anh cần phải đối lập vơí em …

Dũng gật đầu, bảo anh biết rồi!
Quay sang Thố, tôi định nhờ Thố chuẩn bị một túi cói cho tôi, trong đó có những thứ thiết thân là bàn chải đánh răng và thuốc phong thấp. Tôi chưa nói th́ Thố đă bảo “xong hết rồi”. Thố vừa ra buồng cùm sau 2 lệnh, người như một con cá cơm khô đét!

2. Tháng 11 trời đất Bắc đă rét ngọt, tôi bước ra sân điểm danh với hai bộ quần áo trại mặc chồng lên nhau, dự pḥng khi họ đưa vào buồng cùm th́ với hai lớp quần áo, dù là áo trại mỏng lét, vẫn c̣n hơn là một bộ sơ sài.

Giờ điểm danh 6h sáng không khí trĩu nặng. Màn sương mù làm mọi thứ như càng trĩu nặng hơn. Việc hôm qua họ đưa Chinh và Thụy đi biệt tích là một sự việc nằm ngoài trù liệu của tất cả chúng tôi. Với suy nghĩ rằng họ rất ngại phân tán chúng tôi ra các trại hoặc phân trại khác, v́ sợ dân chúng chung quanh sẽ ngày càng biết về sự hiện diện của đoàn tù miền Nam chúng tôi, vốn dĩ chính là h́nh ảnh phản kháng quyết liệt của miền nam đối vơí điều mà họ thường rêu rao là thống nhất bắc nam trong hạnh phúc và mơ ước của dân chúng miền nam. Điều này, trong tất cả những cuộc thăm gặp thân nhân, những buổi áp giải ra đội lao động và qua sự nghiêm ngặt cấm triệt để mọi h́nh thức tiếp xúc của các tù nhân h́nh sự khác… cho chúng tôi hiểu rơ sự sợ hăi này của họ.

Việc « ông » quản giáo đứng tuổi được đưa vào quản đội, mà qua chỉ một vài câu hỏi với quản giáo Nghị cùng sĩ quan an ninh, giáo dục … chúng tôi hiểu ngay được là một sự việc bất thường. Thứ nhất là vị ấy đă cao tuổi. Thứ hai là thái độ nhă nhặn đăc biệt và thứ ba la thái độ khoảng cách đăc biệt của những sĩ quan cấp tá vừa lên bậc (tuổi ngang ngửa với tôi đang nắm an ninh, giáo dục, trực trại, quản giáo … của trại này). Khoảng cách ấy cho chúng tôi hiểu là người quản giáo già KHÔNG PHẢI NGƯỜI CỦA TRẠI NÀY.

Thái độ hỏi han, t́nh tiết hỏi han của ông ta lại càng chứng tỏ không phải là của công an quản giáo chuyên nghiệp. Quản giáo chuyên nghiệp họ biết rơ họ được hỏi người tù chính trị về những điều ǵ và những phạm trù nào họ không được đụng đến hoặc tránh hẳn không muốn đụng đến.

Bằng cách dọ hỏi gián tiếp thêm qua 8 đưá h́nh sự ở chung (đều là nhân lực được gởi gấm của đội ngũ giám thị) chúng tôi lại được biết vị quản giáo này MÀY TAO với giám thị trưởng Phạm Ninh. Với tôi thế là đáp án đă được mở, khi liên hệ lại hành trạng khác thường của giám thị Ninh lúc tôi mới đến trại.

Lần gặp gỡ bất thường ấy chỉ có tôi và ông ta trong khu cách ly (điều này hoàn toàn không b́nh thường và trái nguyên tắc, v́ theo thông lệ, luôn luôn có hai sĩ quan bảo vệ đi kèm giám thị trưởng khi giám thị trưởng bước vào không gian sinh hoạt của phạm nhân, nhất là là những phạm nhân được đánh giá là đăc biệt nguy hiểm).

Lần ấy sau khi ông nhắc đến việc ông từng có mặt tại chiến trường Khe Sanh và An Lộc thời 1967 / 75 ông trầm giọng nói vơí tôi câu nói đặc biệt « Tôi xuất thân là một người lính và đến chết vẫn là một người lính. Hăy nh́n tôi là một người lính ». Lần ấy ông kín đáo ghi âm trọn vẹn buổi nói chuyện đă diễn ra. Tại sao ông đă phải gặp tôi như vậy thay v́ gặp ngoài nhà làm việc (mà các pḥng đều có hệ thống ghi âm)?

Những câu trao đổi qua lại cũng nằm ngoài phạm vi trách nhiệm của một giám thị trưởng. Những câu hỏi đều dẫn đến mục đích để biết tận tường rằng tôi có thật sự là Phạm văn Thành hay không, với những t́nh tiết nhân thân đăc biệt mà nếu không đúng là tôi (với giai đoạn tuổi thơ đăc biệt), sẽ không ai trả lời được.

Qua những câu hỏi đó, tôi hiểu được là phiá giám thị Ninh đă có những thông tin riêng về hoàn cảnh gia đ́nh của tôi mà chắc chắn đă phải có người tiếp xúc đến tận làng quê của tôi, với những thân nhân c̣n sót lại và với cả những đứa bạn thân tôi thủa niên thiếu. Những đứa bạn tôi đă bằng mọi cách dấu biệt các sự liên hệ khi quyết định lao vào cuộc chơi sinh tử với nhà cầm quyền cộng sản. Những sự điều tra về nhân thân, chắc chắn phiá an ninh chính trị điều tra bên A15, A16 và A24 đă làm chi tiết, nhưng phiá V26 th́ chắc chắn không thể có được những t́nh tiết ấy nếu không có một « đường chuyển » đặc biệt.

Những điều vị quản giáo già quan tâm ḍ hỏi các anh của những vụ trọng án đang sống trong khu cách ly đều xoáy vào một chủ đích: T́m ra nguyên nhân, thời gian và nhân lực đă tiến hành các vụ bạo kháng. Điều này nằm ngoài hẳn chức năng và quyền hạn của một quản giáo trại tù. Tất cả các câu hỏi đều được hỏi giữa … vườn rau, nơi không thể có một thiết bị nghe nh́n nào có thể cài cắm!

Điểm danh được chừng 30 phút, Trần minh Tuấn marathon đụng đầu tôi ṿng thứ nhất, nói vừa đủ tôi nghe: « Đợt này anh đi một ḿnh, tôi ở ngoài … ». Lời nói ngắn cụt ngủn nhưng đủ để tôi hiểu rằng Tuấn e ngại việc thông tin không ra khỏi trại được nên quyết định ở ṿng ngoài cốt để t́m cách chẻ thông tin về cho gia đ́nh, thân nhân. Một cảm giác ngậm ngùi lan tỏa trong tôi, v́ tôi biết, sở trường này không phải của các anh, nơi xứ sở hoàn toàn lạ lẫm và cô độc này. Chọn lựa của Tuấn chắc chắn phải là một chọn lựa không hề dễ dàng, khi hầu hết những người đứng tách hàng hôm qua đều là những người đă từng sát cánh với anh trong tất cả những cuộc « hành tŕnh cùm kẹp », từ ngày có vụ làm tờ báo Hợp Đoàn của A20 do ông Vũ Ánh khởi xướng thời thập niên 1980. Sáng hôm qua, khi anh đứng nguyên bên “hàng thuần phục” chờ xuất trại, tinh mắt sẽ nhận thấy hai đầu gối của anh có những lúc như run rẩy. Trạng thái này không qua mắt được Hoàng xuân Chinh, vốn xuất thân từ một gia đ́nh chuyên bắt mạch, bốc và sắc thuốc Nam.

Tôi bước Marathon ṿng thứ ba th́ ông Sơn chặn tôi lại. Ông Lê văn Sơn đă gần 70, là một nhân sĩ Phật Giáo Ḥa Hảo. Ông hỏi ngay.
- Liệu chịu được không Thành? Chắc chắn sẽ rất lâu đấy!

Tôi đáp là tôi nghĩ đủ sức chịu đựng. Ông cầm lấy bàn tay tôi bảo x̣e ra rồi đặt vào vỉ thuốc Bi Profenid. Vỉ thuốc tôi mới chia ra đưa cho ông hai tuần trước, khi thấy đầu gối của ông sưng to không đi được. Vỉ thuốc c̣n 8 viên, nghĩa là ông uống thấy bớt đau nên giữ lại để dành. Tôi cau mày nói với ông là uống thuốc như vậy không hạ đau được bao lâu. Thuốc tôi đưa là để ông uống 7 ngày liên tiếp. Đây là thuốc tôi phải nhịn nhục nài nỉ họ (giám thị trại tù) mới chịu đưa. Họ cũng biết là tôi lấy để chia cho anh em chứ chẳng phải giữ cho riêng ḿnh làm ǵ. Tôi nói ông Sơn nhận lại mà ông nhất định không nhận. Tôi đổ quạu sau khi nói rằng tôi vẫn c̣n đủ cho tôi. Tôi nói.
- Họ không thể để em chết! Anh phải biết là như vậy! Các anh có thể chết nhưng em họ không thể để cho em chết!

Thấy tôi quạu, ông Sơn băn lẽn cầm vỉ thuốc nhét vào túi chiếc áo nâu đà đă bạc phếch. Đôi mắt già nua chớp chớp nh́n lên trời …
7h đội xếp hàng chờ xuất cổng. Vẫn hai hàng cách biệt. 2 phía 2 thái độ chống đối và an phận đă hiển lộ tỏ tường.

Cổng khu cách ly mở. Tiếng sợi dây xích vừa được bổ xung thêm đêm qua được cố ư kéo qua các thanh sắt nghe rất khó chịu. Khoảng 6 người bước ra cổng, trong đó có Lê ngọc Vàng là đội trưởng và sát ngay Vàng là Trần minh Tuấn. Mặt Tuấn lạnh lùng không cảm xúc.
Cổng đóng lại với những ṿng xích sáng loáng.

Khoảng 9h Trương văn Sương được gọi đi làm việc. Anh đi ra khỏi cổng, giọng cười ặc ặc cố hữu khi bước ngang cửa buồng tôi. Anh đi chân đất, tướng pháp lềnh khênh với mái tóc muối tiêu hớt carré cứng cỏi.

Khoảng 10 h, tư trang của anh Sương được niêm phong. An ninh và hai người thi đua (5) áp giải anh vào khu cùm cuối trại, sát phần chuồng heo và nhà bếp, ngăn cách với nhà 4 nữ, kế cận « giếng tiên » (6) .

Khoảng hơn 10 h, Nguyễn văn Trung (Trung lai) được mời đi ra lầu giám thị. Trung đi rồi tôi nói với cư sĩ Trần nam Phương: "Ta tiến hành chuyện bộ ḷng thôi!". Phương thảng thốt nh́n tôi, ư như không muốn nghe rơ. Tôi lập lại lần thứ hai: "Ta chuẩn bị thôi anh!". Phương ngần ngừ, hai tay xoắn xoắn vào nhau. Tôi cứng giọng, từng tiếng một "Em có làm sao sẽ đều là do khâu sát trùng…". Phương ù ừ rồi đi nhanh ra phiá sau, nơi gốc mướp có anh Phan văn Bàn đang quạt bếp than nấu trà.

Việc này chúng tôi đă bàn rất kỹ. Anh Kim Long đă chỉ dẫn tôi rất chi tiết thủ thuật rạch bụng moi ruột ra mà không chết. Con dao làm từ chiếc liềm cụt nhặt ngoài đội đă đưọc anh Bàn đàn qua lửa than đá thành một ngọn dao lá cực sắc và cất dấu ở đâu đó. Nơi tôi mổ bụng sẽ là chỗ nằm của tôi, sát bên chỗ nằm của tu sĩ Mai đắc Chương và Trần nam Phương. Điều kiện thiết yếu là nền đá phải cực sạch. Đ́ều này Phương phải chịu trách nhiệm. Lần thử sau cùng bằng mực hạt mồng tơi, tôi đă làm rất nhanh và chính xác. Lần ấy anh Long nói.

- Đây là việc đối đế mà chỉ có Thành làm được. Anh em nội địa mà làm th́ chúng sẽ để cho chết luôn. Chúng sẽ không tận lực đưa đi bệnh viện khẩn cấp. Từ đây ra bệnh xá Sao Vàng chừng nửa tiếng. Đến đó được là sống. Từ đó chúng sẽ đưa ra bệnh viện huyện Thiệu Yên rồi sau đó ra Thanh Hoá. Điều cần yếu là phải giữ thật sạch bộ ḷng của Thành!

Lần thực tập « giả đ̣» đó, anh Bảo là người phản đối. Anh vốn người hiền lành nhân đức, từ bé đến già chưa từng chặt chân hay cắt tiết một con gà. Anh nói.
- Mấy cha bạo lực quá! Anh không đồng ư đâu!..

Anh Long nói rất cứng: « Tôi bảo đảm hắn không chết! Một là hắn rất tỉnh táo, không run tay. Hai là …tử vi hắn c̣n sống lâu »!
- Chuyện tử vi th́ anh không bàn. Nhưng chuyện máu me th́ anh không muốn! Rồi c̣n thày Chương nữa. Máu me lênh láng ra chỗ ổng nằm, ám ảnh người ta suốt đời…
- Tôi là tôi không chịu! Nhất lại là máu anh em ḿnh!

Anh Bảo kết câu chuyện bằng thái độ vùng vằng rồi bỏ đi, ra tận góc thật khuất của mấy luống khoai môn Tuấn trồng, ngồi một ḿnh.

Anh em ba người tiếp tục bàn thực hiện ư định c̣n Trần nam Phương, anh Long và tôi. Phương nhặt được một chiếc liềm cụt -dấu trong háng- mang được vào buồng đưa anh Bàn, bảo anh Bàn lấy nó làm con dao thật bén v́ Thành nó cần. Việc này anh Bàn chỉ biết đến vậy. Con dao cũng được dấu riêng biệt và hàng tuần được Phương nhắc để anh Bàn kín đáo đem ra nướng than lại. Một cái chậu nhôm cũ đă được Phương mua lại của ai đó rồi đánh cát đánh tro cực kỳ cẩn thận treo trên giàn mướp. Có mấy lần anh Sương lấy chậu ấy đựng rau, bị anh Phương la như tát nước! Chả ai hiểu cái chậu ấy có điều ǵ quái gở mà Phương không cho bất kỳ ai đụng đến, thậm chí cả anh Bàn. Chỗ nằm của tôi bên thày Chương và anh Phương được Phương nhúng nước sạch lau bóng mỗi buổi trưa. Thày Chương thấy lạ mấy ngày đầu nhưng rồi cũng quen đi …

Giờ là lúc thực hiện. Phương bần thần xách nước vào chỗ nằm của tôi, lau rửa cực kỳ cẩn thận. Cái chậu nhôm được mang vào. Thày Chương ngồi trên vơng, tay cầm cỗ tràng hạt …

Có tiếng gơ cổng sắt khá lớn, tôi nh́n ra không thấy cán bộ nào cả. Chỉ thấy ông Quư với Kiên h́nh sự đang đứng sát cổng. Ông Qúy ngoài 70, người Cao Đài, nguyên vơ sư, hay cầm đá đứng gần cổng sắt, gặp cán bộ đi ngang ông ném thẳng cánh. Đá chưa bao giờ trúng đích v́ các chấn song của sắt thường làm lệch mục tiêu.

Chừng 10 phút sau cổng khu cách ly mở. Kiên thoát ra ngoài. Cũng chừng 10 phút sau Huy giáo dục đi vào buồng tôi hai ba ṿng rồi đi ra. Huy ra rồi trực trại vào hỏi tôi ở đâu. Tôi đang ngồi chiếu sau hè với anh Long.

Huy yêu cầu tôi ra ngoài nhà cơ quan làm việc. Lúc này đă gần trưa. Việc này bất thường. Khi tôi ra khỏi cổng khu cũng là lúc Trung được dẫn vào sân trại, men theo tường bên khu nữ để vào nhà cùm. H́nh như họ cố ư cho tôi nh́n thấy Trung bước hẳn vào nhà cùm.

Tôi được dẫn lên lầu trực trại thay v́ ra ngoài khu nhà cơ quan. Thiếu tá Hùng ngồi chờ tôi sẵn. Đây là trưởng giáo dục toàn phân trại, đồng cấp với một người cũng tên Hùng nhưng mang họ Lê Khả. Lê Khả Hùng cao ráo trắng trẻo mặt sáng, khác với ông Hùng này, xạm đen và lời nói thoát ra từ hai hàm răng lúc nào cũng như muốn khít chặt.

Hùng kêu tôi ngồi ghế đối diện. Mặt Hùng như phảng phất một làn sát khí. Tôi ngồi xuống ghế, ḷng nghĩ thầm "rơ thật là dở hơi ".

Hùng chằc hơn tôi một hai tuổi, thái độ của người lúc nào cũng thấy ḿnh là quan trọng. Kiểu cách nói luôn như muốn lên gân để chứng tỏ quan điểm và vị trí. Ông hỏi ngay khi tôi đă ngồi hẳn xuống ghế.
- Nghe chừng như là anh lại muốn làm loạn?

Tôi khá ngạc nhiên, không nghĩ là ḿnh sẽ phải nghe câu hỏi này với thái độ này. Với tôi, Hùng không là ǵ cả. Ở trại này tôi chỉ nể giám thị trưởng Phạm Ninh. Nể không phải v́ tài cán hay quyền lực mà nể v́ cái tính lính tráng của ông ta. Từ ngày vào trại, tôi biết rất rơ ngay đến giám thị cũng không có quyền hạch sách điều tra tôi, v́ tất cả các cuộc "làm việc" từ ngày tôi ra đây, toàn do từ “trung uơng” về làm, và người khét lẹt nhất là đại tá mật vụ La văn Tiếp, khi làm việc cùng tôi cũng không dấu được nét e ngại. Vậy hà cớ ǵ ông thiếu tá này xử dụng thái độ quyền lực với tôi, một thái độ mà cánh trung ương đă có kinh nghiệm và hiểu rất rơ sẽ là vô giá trị đối với tôi, từ ngày c̣n ở A20 Xuân Phước!

Tôi b́nh tĩnh nh́n thẳng vào mắt Hùng. Ông ta cường liệt đối mắt lại. Trong vài giây như vậy, tôi hiểu được là ông ta thực sự đang nghĩ ḿnh là người mang chính nghĩa. Đây là đởm lược chỉ những người đang nghĩ ḿnh đích thực là chính nghĩa mới mang được tia mắt ấy. Tôi nhẹ giọng.
- Ông nghĩ thế nào là làm loạn?

- Chúng tôi nuôi các anh không thiếu thứ ǵ. Ở đây các anh có tất cả. Các anh c̣n đ̣i ǵ nữa?

- Danh dự! Các ông có thể tước đoạt quyền tự do của chúng tôi nhưng các ông không tước đoạt danh dự chúng tôi được nếu chúng tôi cương quyết ǵn giữ! Chúng tôi cũng không cần các ông nuôi. Các ông không hiểu ǵ về công pháp quốc tế về quyền dân chủ chính trị nên các ông bắt bừa chúng tôi vào tù …

- Anh biết thế nào là dân chủ? - Hùng ngắt lời tôi, sẵng giọng, lưng hơi dựng thẳng lên thoát khỏi lưng ghế.

Tôi cố giữ giọng nhẹ nhàng.
- Dân chủ là người dân có quyền nói lên tiếng nói của họ. Người làm chính quyền nếu không được ḷng dân, phải bị băi nhiệm …
- Các anh nói các anh có thể băi nhiệm được chúng tôi à? Anh điên khùng hay ảo tưởng? Dân ở Việt Nam đều là của chúng tôi. Tất cả đều cần chúng tôi... Các anh là một lũ ất ơ, tháo chạy ra khỏi nước rồi giờ về đ̣i chúng tôi chia quyền. Đừng mơ! Hiaz! Đừng mơ mộng hăo huyền …

Tôi thấy không thể nói chuyện tiếp tục với tay Thiếu tá này. Cái đầu này đă đóng đinh vào những giáo điều và càng nói, sẽ chỉ càng gây tức giận thêm cho cả hai người. Tôi quyết định chọn thái độ im lặng.

Ông Hùng nói khá nhiều về dân chủ và hai ba lần hỏi hằn học lại tôi rằng "…các anh nghĩ chúng tôi sẽ cho các anh chia quyền à …". Thấy tôi không phản ứng ǵ, cũng không lên tiếng phản bác, ông chuyển sang một câu hỏi khá « ngoài luồng ».
- Anh nghĩ thế nào về bác Hồ?

Tôi khá bất ngờ v́ câu chuyện bị quẹo cua quá gấp.

Dựa hẳn lưng vào ghế, tôi từ tốn đáp.
- Ông chắc có đọc Ngục Trung Nhật Kư?
- Đọc chứ sao lại không?
- Ông chắc hẳn có đọc Vừa Đi Đường Vừa Kể Chuyện?
- Đọc! – Hùng có vẻ khó chịu khi tôi hỏi thay v́ trả lời. Ông dằn cốc nước trà trên mặt bàn gỗ lim bóng loáng. Tôi nh́n theo cái đà dằn của đáy cốc để t́m xem nội lực hàm chứa của Hùng đến đâu. Thấy cũng tầm thường nên tôi hỏi tiếp.

- Chắc cán bộ biết nhà văn Trần Dân Tiên?
- Biết!
- Chắc cụ Trần Dân Tiên có nhiều tác phẩm giá trị?
- Ừ, tôi nghĩ vậy!
- Cán bộ có biết bác Hồ có người con gái ở Pháp không?
- … Anh định láo toét với tôi đấy à?

Tôi vẫn b́nh tĩnh hỏi tiếp, chậm răi.
- Cán bộ có biết ông Hồ Học Lăm không?
- Không! Chỉ nghe qua thôi!
- Bác Hồ là một nhân vật lịch sử c̣n bị bao trùm bởi nhiều điều huyển bí …
- Các anh chỉ là những người ăn càn nói bậy! Các anh xúm nhau đi bôi bác bác Hồ, lại c̣n nhận ḿnh là người yêu nước. Nói tóm lại cho các anh hiểu nhá. Chỉ có bác Hồ là người yêu nước! Chỉ có bác Hồ mới có thẩm quyền nói đến bốn chữ “danh dự dân tộc”! C̣n th́ các anh nhá... Quên đi!

Tôi lại ngồi thinh lặng, mắt thỉnh thoảng nh́n thẳng vào mắt Hùng. Hùng không bao giờ né tránh ánh mắt tôi nên có thể nói hai người những năm sáu lần “đấu vơ mắt” với nhau. Lần nào tôi cũng là người làm hoà trước, nghĩa là hướng tia nh́n ra khỏi tầm sát phạt trực tiếp. Tôi không sợ, nhưng biết là thắng thua không ích ǵ, chỉ thử lửa với nhau để hiểu nhiệt tâm của của nhau đến đâu mà thôi.

Có tiếng mở cửa. Tôi không quay lại. Hùng đứng lên, khom người chào người mới vào. Tên ông là Vân. Hùng gọi là Ban Vân. Ông Vân mang hàm Thượng tá, người cao ngang ngửa tôi, tướng pháp sang cả, trắng hồng, không có bụng như đa phần đám thượng tá đại tá từ trung ương vào. Ông chào tôi rồi kéo ghế ngồi.

Ông Hùng hỏi lại câu nói ban năy.
- Anh định làm loạn nữa phải không?

Tôi đă thấy cần phải cứng rắn, nên nh́n trực diện vào con ngươi Hùng.
- Loạn hay không, tùy các ông thôi!

- Anh nghĩ là ở đây, trại 5 này … mà anh có thể đứng giữa sân quát tháo đ̣i tự do đ̣i nhân quyền cho các anh như ở Xuân Phước được à! Gô cổ anh lại ngay chứ lỵ …!

Tôi không nói ǵ, vẫn điềm nhiên bám sát con ngươi của Hùng, Hùng đứng lên, vung tay áo như làm cho dăn xương cốt. Ông Vân vẫn không nói ǵ.

Khoảng ba bốn phút sau lại có tiếng gơ cửa rồi tiếng Lâm an ninh bảo “đă xong rồi “!. Ông Vân đứng lên bước ra ngoài pḥng.

Lâm cầm tờ giấy có dấu đỏ nói với tôi.
- Anh Thành. Ban giám thị quyết định kỷ luật anh v́ lư do anh có ư đồ tổ chức gây rối loạn sinh hoạt trại. Giờ mời anh theo chúng tôi!

Tôi b́nh thản đứng lên, đẩy ghế lại dưới bàn và nh́n Hùng.
- Chào cán bộ!

Hùng chắc có phần ngạc nhiên v́ thái độ nhẹ nhàng của tôi, lại thấy tôi không hề có phản ứng ǵ khi biết ḿnh bị kỷ luật (nghĩa là bị cùm chân như giam một con mănh thú). Ông bật ra một câu gần như vô nghĩa “… con gái tôi nó học tiếng Pháp, năm nay là đầu trường đấy …”. Tôi bất chợt nghe chùng ḷng xuống. À th́ ra, đám đàn ông chúng ta đều có chung một cảm xúc, đó là đều rất thương yêu con gái ḿnh, thường là thương hơn những thằng con trai, lo lắng hơn, hănh diện cũng hơn … Ở Thiệu Yên Thanh hoá mà học tiếng Pháp, gần như là một điều ǵ đó có thể được hiểu là văn hoá văn minh, hơi khác với chỉ học Anh ngữ hoăc Hoa ngữ. Tôi nhẹ giọng.
- Vâng, con cái, nhất là con gái … chúng là cả cuộc đời của chúng ta!

Giọng tôi có lẽ có một thang âm bất thường nào đó nên trên khuôn mạnh luôn cố làm ra lạnh lùng quyền lực của người sĩ quan giáo dục bỗng thoáng hiện một nụ cười chất phác. Trong câu nói như khoe ban năy, có lẽ ông cũng hiểu là gần như sẽ không có cơ hội gặp và trao đổi đối thoại với tôi lần nữa, mà tôi lại là người ở xứ Pháp xa xôi lần về. Ông khoe con gái học tiếng Pháp, gần như là một sự vô t́nh, đối với một người từng ở Pháp nhiều năm... phản ứng như vậy là phản ứng của một con người rất người, c̣n cái gốc nhân bản từ trong vô thức …
Tại sao chúng ta lại là kẻ thù của nhau nhỉ?!

Tôi đi theo Lâm, ḷng miên man nghĩ về người nào đó là con gái của Hùng. Chắc phải là một thiếu nữ sang và đẹp. Bởi không, chắc sẽ không chọn ngôn ngữ Pháp làm hành tŕnh sự nghiệp ở cái xứ sở cực nhọc vốn đang bật dậy t́m cách thoát nghèo này …

Hai người tù thi đua và sĩ quan trực trại đi bên tôi qua hết chiều dài sân trung tâm (cỡ bằng một sân bóng) rồi vào khu cùm. Từ cổng của nhà cách ly, anh em lố nhố đứng đầy chiếc cổng hẹp, đưa tay vẫy vẫy. Tôi nhướng mắt nh́n vào trong nhà, các ô cửa sổ gần phía sân trung tâm dầy đặc những cái đầu của anh em ra từ A20 Xuân Phước. Tôi nắm hai tay kiểu chào của Việt Vơ Đạo lạy chào lại anh em. Cảm giác của tôi là sẽ phải xa các anh măi.

Khu cùm xây cao hẳn lên trên một bệ bê tông cao gần đầu người. Khoảng 10 buồng đều quay hướng bắc, nghĩa là nh́n cḥng chọc vào khu nhà 4 B Nữ. Bờ giếng rất rộng của khu nữ nằm chỉ cách “lầu cùm” khoảng 8 thước. Đám tù lưu cữu gọi cái giếng này là giếng tiên. V́ trại này, 1995 đổ về về trước, nam nữ hầu như tắm đều cởi truồng, v́ đa phần đều nghèo khó.

Bước vào hẳn khu cùm, Thiếu tá Lâm yêu cầu tôi đứng nghiêm để nghe đọc lệnh kỷ luật. Người kư lệnh kỷ luật là Thượng tá Vân (họ ǵ tôi đă quên rồi).

Lệnh đọc xong Lâm lùi ra ngoài khu cùm. Sĩ quan trực trại cùng hai tù thi đua kè tôi lên những bậc thang. Khi đă đứng hẳn trên thềm hành lang tôi đưa mắt nh́n toàn cảnh để nhận rơ vị trí của ḿnh. Mắt tôi đụng phải khoảng 10 tấm lưng trần đang ngồi xúm vào nhau quay lưng về phía tôi và người cán bộ. Họ đều không mặc quần áo và đang xối nước tắm, có những tấm lưng trắng hồng.

Trực trại dẫn tôi vào buồng số 5. Cánh cửa gỗ lim dày làm tôi có cảm giác dễ chịu khi liên tưởng lại tất cả các buồng cùm ở B34 và A20, vốn đều làm bằng sắt và gờ tường cũng là sắt thép. Âm thanh của sắt thép va đập mạnh gây rất khó chịu cho người cùm ở bên trong, vốn chỉ có một lỗ thông hơi chừng 15, 20 phân vuông.

Vào hẳn buồng, tù thi đua yêu cầu tôi lột hết quần áo. Hai ngướ nặn kỹ cả chim c̣ và nắn cả vào hạ môn. Tôi nói nhỏ "không có ǵ đâu mấy anh, bất ngờ thế sao mà chuẩn bị ǵ được…". Hai người, người nhỏ con tính t́nh láu cá rất liếng thoắng nhưng người to lớn th́ cư xử rất chừng mực với tôi.

Cuối cùng tôi được mang một bộ quần áo trại. Sàn bê tông không có chiếu. Một người tù thi đua chạy ṿng ra phiá sau tường hậu của khu cùm để đút đầu cây suốt dài khoảng 3 mét rưỡi chọc ngang qua bệ cùm bên trái để xuyên qua bệ cùm bên phải là chỗ tôi nằm. Người tù thi đua lớn con nâng tầm móng cùm cho chính xác với đầu cây suốt thép tṛn to khoảng gần nửa cổ tay rồi hô lớn “đóng vào “. Đầu cây suốt phi qua lỗ sắt của bệ cùm, xuyên qua được một cái cùm bên chân trái của tôi. Đầu suốt được rút lại một chút rồi bất ngờ thục mạnh lần thứ hai, lần này đầu suốt đâm qua khoen cùm chân thứ hai, chui tọt qua lỗ thép xuyên tường để tḥi đầu khoá ra bên ngoài hành lang. Tiêng suốt cùm xuyên qua các lỗ thép nghe gai người, tiện thể lấy mất của tôi một mảng da trắng ởn ở cổ chân phải. Tiếng người tù bự con la rất lớn “ĐM mày làm ăn kiểu ǵ thế …”. Phiá sau tường hậu không thấy đáp lại … tôi bảo không việc ǵ, dù rằng cú trượt cùm ấy làm tôi đau đớn muốn tái dại người đi.

Cùm được chốt lại. Khoá cùm được đóng bập từ bên ngoài. Cánh cửa gỗ lim ầm một tiếng mạnh sau khi người sĩ quan đại úy trực trại bước chân hẳn vào buồng cầm chiếc dùi cui điện gơ gơ vào cây suốt cùm vừa được thọc chui qua hai bức tường.

Bóng tối trần ngập, một mùi khai ùa vào khứu giác và tiếng muỗi bay hỗn độn. Phiá ngoài cửa, nối tiếp với âm thanh những đế giày và ch́a khoá của ba người đàn ông đi khuất là những tiếng í éo của bầy phụ nữ, những tiếng càu nhàu bảo kỳ cọ chỗ này găi chà chỗ kia, cả tiếng những bàn tay vỗ bèn bẹt trên da thịt và những tiếng cười ngặt nghẽo. Tôi ngồi cúi áp sát mặt vào thanh cùm, ánh sáng luồn từ đáy khe cửa hắt le lói vào nền buồng, mang theo cả những âm thanh của tiếng vỗ nước đặc thù chỉ phát ra từ một số điểm đặc thù của cơ thể người nữ. Những âm thanh mà chỉ có những người quen tắm sông tắm suối mới nghe nhận ra được! Tôi lẩm bẩm “ Bỏ mẹ con rồi “!

Khoảng 4 chiều tiếng cổng sắt khu cùm loảng xoảng mở rồi tiếng người trực trại tra ch́a khoá vào từng buồng cùm. Trong mấy giờ vừa qua tôi đă biết được Trung nhốt ở buồng số 1 đầu tiên, rồi đến một ngướ tù về từ Thái Lan trong nhóm ông Hoàng cơ Minh đợt xâm nhập thứ ba -Đông Tiến 3 - đợt xâm nhập mà tôi đặt vô vàn nghi vấn từ khi biết sự có mặt của họ tại trại này và trại Thanh Liệt Hà Nội. Buồng thứ ba là Trương văn Sương, buồng bốn trống và đến buống tôi, buồng 6 trống, buồng 7 có một h́nh sự nữ không cùm. Các buồng nói với nhau vô cùng khó nghe v́ trần cao kín mít chỉ có một lỗ gió rộng chừng 10 cm dài chừng 30 cm lấy gió vào từ phiá … chuồng heo sát khu bếp.

Các cửa buồng mở, mỗi buồng được tù thi đua đặt vào sàn cùm một nắm cơm và một chén nước (bằng nhựa). Khoảng 10 phút là xong công việc phát cơm như vậy cho tất cả các buồng. Tôi yên lặng không nói ǵ.

Đêm chập xuống, muỗi vô vàn là muỗi. Muỗi ở đây không hề hiền, chúng như những mũi tên, bay veo véo từ trên cao phóng phập xuống da thịt và cắm ngay đầu kim hút máu liền. Rất côn đồ thảo khấu. Tôi luôn tay đập muỗi mà chúng th́ như bọn thiêu thân, không buồn né khi bị đập. Đâu ra thứ muỗi lạ lùng! Chừng 1 giờ đồng hồ như vậy th́ chúng biến đi đâu mất hầu hết, chỉ c̣n lại mấy con vo ve như loại muỗi thường thấy. Nghĩ đến chiều chập tối ngày mai tôi rùng ḿnh ớn lạnh. Đèn vàng vọt đă sáng lên trong buồng mờ nhạt, bàn tay tôi hiện rơ đỏ loe màu máu!

5h30 sáng kẻng báo thức, cổng khu cùm mở, tất cả các cửa buồng lần lượt được mở ra, trực trại tḥ đầu vào sau khi tù nhân lên tiếng báo cáo hiện diện. Tôi im lặng ngồi (đương nhiên là duỗi thẳng chân) không lên tiếng. Trực trại hỏi tôi.
- Khoẻ chứ anh Thành?

Tôi đáp “cám ơn các ông “, không thêm tiếng nào nữa. Có lẽ người tù thi đua hiểu thâm ư của tôi nên nói giả lả ngay “Sao lại là các ông, anh Thành?“.

Thâm ư của tôi quả đúng là đă bị ngướ tù thi đua nhận sớm ra. Nguyên v́ các trại phiá bắc, tù nhân bất kỳ già trẻ lớn bé đều phải gọi cán bộ bằng ÔNG và xưng CON hoặc Cháu. Riêng với giám thị th́ phải gọi bằng BAN xưng con hoạc cháu. Tù ở Nam ra tuyệt đối không ai xưng hô kiểu này và việc tôi đáp bốn chữ “ cám ơn các ông “ là hành vi cố ư coi người sĩ quan trực trại cũng ngang hàng bằng vai với hai người tù thi đua đang đi mở các cửa buồng điểm danh.

Khoảng 10 sáng cổng khu cùm lại mở. Lách cách tiếng những bát cơm bằng nhựa va vào nhau. Các cửa buồng được mở, tù thi đua đưa chén nước và nắm cơm vào rồi khoá cửa lại, từng buồng luôn có sự giám sát của sĩ quan trực trại. Bàn tay người tù thi đua to con ngần ngừ khi đặt nắm cơm lên bệ xi măng sát ụ cùm của tôi. Nắm cơm mới đặt cạnh nắm cơm cũ. Bát nước th́ đă hết nước nên người tù thi đua đưa chén nước mới vào. Viên sĩ quan trực theo sát mọi hành vi của người tù tự giác mắt như tránh nh́n vào chố tôi đang ngồi duỗi thẳng đôi chân gắn với hai cổ cùm. Cửa đóng lại.

Buổi chiếu khoảng 4 giờ thủ tục đưa cơm lấy bát lại bắt đầu được lập lại. Bên gờ bệ cùm của tôi ba nắm cơm đă xếp bằng nhau. Chiều hôm nay tôi được đi đổ bô. Bô chẳng có phân nhưng tôi vẫn cầm đi ra. Chân đă có phần tê dại nên bước đi đă có vẻ chập choạng. Một tay lần theo tường để đi về phiá sau buồng cùm số 8 để đổ. Tôi đi chậm, tay cầm bô giơ ra bên phần đùi phải, cố ư cho mấy ô cửa sổ bên khu nữ nh́n rơ cảnh trạng “không mấy ǵ là đẹp đẽ“ này.

Đến sáng ngày cùm thứ ba th́ sĩ quan y sĩ vào buồng tôi, sau khi nắm cơm thứ 4 đă xếp ngay ngắn trước bệ cùm. Chiều qua tôi nghe loáng thoáng tiếng ngướ tù thi đua nói với ai đó, giọng rất khúm núm “ dạ … anh ấy không hề sờ vào. Cháu để sao th́ lần sau vẫn y như vậy …”.

Viên y sĩ đứng ngay đầu bệ cùm, hỏi tôi sao không ăn cơm. Tôi nói đă quen ăn cơm có mâm có bàn tử tế. Việc cho tù ăn như thế này là xúc phạm người tù. Dù là tù tội, chúng tôi vẫn là những con người VÀ LÀ NHỮNG CON NGƯỜI CHƯA MẤT NHÂN TÍNH. Tôi nói vừa đủ nghe, nhưng nói chậm từng câu từng chữ …

Cửa đóng lại. Chừng 15 phút sau có tiếng bàn gỗ được đem vào khu cùm. Tiếng ghế gỗ va chạm với thành tường xi măng. Tôi được sĩ quan trực mở cửa và người tù thi đua mở cùm, nhă nhặn nói với tôi rằng, bàn ăn của tôi đă có ở đầu tường khu cùm. Tôi chậm răi bước ra. Ngồi vào bàn. Trên bàn là một chén cơm (bằng nhựa dĩ nhiên) và một chén rau muống. Tôi ngồi ngay ngắn, đưa tay làm tín dấu công giáo rồi cầm đũa ăn ngon lành. Tôi đă rất đói. Viên sĩ quan trực trại gọi đội trưởng đội bếp đem ra hai cái ghế dựa, một cho ông ta ngồi ngoài sân chung hướng mặt vào cổng khu cùm, một cho người tù thi đua ngồi cạnh tôi chừng 4 mét, trong khu cùm cổng khoá.

Chừng 15 phút, không ai giục giă, nhưng tôi biết giấc này là giấc rất bộn bề của sĩ quan trực trại. Tôi đứng lên chậm răi đi về buồng cùm. Khi người sĩ quan vào kiểm tra chế độ cùm, tôi nói với ông ta rằng “ở đây tất cả chúng tôi đều là con người như mọi con người khác. Ngày mai tôi sẽ tiếp tục không ăn nếu anh em của tôi vẫn bị đối xử như những con mănh thú …”.

Bắt đầu từ ngày cùm thứ tư, họ dọn cho anh Trung ăn trước, đến anh Sương rồi đến tôi, mỗi người từ 15 đến 20 phút. Người anh em bên nhóm Đông Tiến 3 đă ra cùm, ngướ tù nữ cũng hưởng qui chế kiên giam.

T́nh trạng sinh hoạt khu cùm trại A của tôi kéo sang lệnh thứ hai. Ngày thứ 7 của lệnh 1 giám thị mời tôi ra ngoài nhà cơ quan. Người làm việc từ Hà nội vào, không xưng tên, tuổi hơn tôi cỡ ba bốn tuổi. Nội dung tổng quát họ muốn biết tôi muốn điều ǵ.

Tôi xác định 3 điêù.
- Thứ nhất là chúng tôi không chấp nhận hành vi “địt mẹ địt cha” chúng tôi một cách bừa băi.
- Thứ hai, chúng tôi sẵn sàng đương đầu với bất kỳ ai công khai phát biểu muốn “gĩa nhừ“ đoàn tù A20 chúng tôi.
- Thứ ba, bản thân tôi không chấp nhận việc đưa anh Hoàng xuân Chinh và anh Vũ đ́nh Thụy đi mất tích.

Họ ghi nhận và nói chuyện đưa anh Hoàng xuân Chinh đi đâu anh Vũ đ́nh Thụy đi đâu … là thuộc thẩm quyền nhà trại. Tôi đặt vấn đề như vậy là vượt giới hạn. Tôi xác định là tôi sẽ chống đối đến cùng nếu như tôi không biết anh Hoàng xuân Chinh và anh Vũ đ́nh Thụy ở đâu!
Buổi làm việc coi như không giải quyết được ǵ cụ thể.

Tôi về buồng cùm, nhận lệnh cùm thứ 2 th́ anh Trung đă rời nhà cùm, không biết đi đâu. Anh Trương văn Sương cũng đă bị đưa đi ra khỏi buồng cùm. Rất hoang mang, tôi quyết định không ăn, tuy nhiên, rút kinh nghiệm vụ tuyệt thực ở A20, tôi không tuyên bố ǵ hết, cứ lẳng lặng thực hiện việc không ăn.

Ngày thứ ba của lệnh 2, ông Phạm Ninh vào tận buồng, khuyên tôi nên ăn cơm, chuyện đâu c̣n có đó. Tôi nói lời cám ơn, không hứa ǵ cả. Sang ngày thứ 5 th́ vấn đề xảy ra.

Qua ngày thứ 5 của lệnh cùm 2, đêm lạnh đă bắt đầu thấm vào hai đầu vai và vùng xương chậu. Những cơn đau thấp khớp tôi cố vượt qua v́ biết chắc họ không chuyển thuốc để tôi xử dụng. Những giờ tập khí công đă bị nhập nhoạng nửa mê nửa tỉnh v́ không có tư thế ngồi hoàn chỉnh, nằm th́ khí lạnh của đá ngấm buốt vào nội phủ. Tôi không ăn 3 ngày của lệnh 1 và 5 ngày của lệnh 2. V́ không tuyên bố tuyên bọ ǵ sất nên họ vẫn cấp nước ngày một bát nên chuyện hụt nước không đến nỗi trầm trọng lắm tuy vẫn bị thiếu nước uống. Vấn đề trầm trọng ở đây là muỗi ban đêm, và ban ngày th́ những tiếng éo nhéo của đàn phụ nữ hơi quá đa t́nh. Họ không hề biết là tôi không ăn, đang phải tranh đấu cật lực vơí cái sự đói … nên có ư trêu rất dai. Những sự trêu đùa ấy vô t́nh phá nát vấn đề gắng tĩnh thần tịnh khí của tôi. Đêm thứ 4 của lệnh 2, khoảng giấc gần sáng tôi ch́m vào mê man không cưỡng lại được …

3. Đến khi TÔI THẤY TÔI ĐƯỢC D̀U TỪ TRONG BUỒNG CÙM ĐI RA, đầu gục xuống ngực, hai bên là hai ngướ tù thi đua, phía trước phiá sau năm bảy người sĩ quan lúp xúp trong áo mưa. Trời chưa sáng. TÔI THẤY HỌ ĐƯA TÔI VÀO KHU BỆNH XÁ. Ở đó ông Ninh đứng chờ sẵn, nghe được ông ta hỏi “kim tiêm của nó đâu“. Viên sĩ quan y sĩ ú ớ nói là hết rồi. Tiếng ông Ninh quát “ … khi nó ra trại này hang 4, 5 trăm mũi kim riêng “. “ Dạ! đă hết rồi, anh ấy cho hết rồi … “. Có tiếng đàn bà, là bà bác sĩ của trại, nghe đồn là bồ nhí của cục trưởng V.26 -đại tá Đỗ Năm. Tiếng bà giục đem nhanh kim tiêm ra. Viên Trung úy y sĩ nói chỉ c̣n kim trại. “ Mài kim!! Nấu nước! “ tiếng giám thị Phạm Ninh như gào lên. Căn pḥng cấp cứu trạm xá người chạy ra kẻ chạy vào lốn nhốn, đồ tù lẫn đồ công an trộn lẫn vào nhau. Tiếng ông Ninh “ĐM, nó mà làm sao, tao rút chúng mày hai bậc…"

Tôi mơ màng nhận diện được sự vật, chẳng biết đă bao nhiêu giờ trôi qua, chỉ biết là đèn điện sáng chung quanh. Linh Nghệ An đỡ tôi ngồi lên nhưng tôi không cách chi ngồi được, tất cả đều nghiêng hẳn về một phiá như chuẩn bị đổ ập. Nhà nghiêng, giường nghiêng làm tay tôi bấu chặt với bất kỳ thứ ǵ có thể bấu được!

Họ đưa tôi sang trạm xá, nằm chung với khoảng bốn năm chục người bệnh lao đợi chết. Chỗ nằm của tôi là trong góc trong cùng, có Linh đặc cách từ khu cách ly sang nằm cạnh, hai người nằm trên ba chiếc chiếu. Linh nấu cháo đậu xanh đút cho tôi từng th́a.

Mấy người tù h́nh sự bệnh nặng có người nói “ … ông này tù ǵ mà lạ thế này …”.

Tiếng Linh đối đáp “ĐM! Làm ơn yên ắng, ngậm cái mồm bớt lại! Ban Ninh c̣n phải sợ ông này …”.

Thằng bé không hiểu sự t́nh nên phun bừa ra câu ông Ninh cũng phải sợ tôi! Biết là nó nói trật lất nhưng lưỡi tôi đơ đơ, không lên tiếng được …

Linh người Công Giáo Nghệ An. Tôi không như những anh em A20 khác, thường hay coi Linh như kẻ nguy hiểm. Chỉ bảo được Linh điều ǵ là tôi chỉ bảo tận t́nh. Trong hoàn cảnh nhiễu nhương tù tội, từ vô thức, nó coi tôi như một người anh lớn lúc nào không hay. Cách mớm cháo của nó, tôi hiểu nó thương tôi thật ḷng. Chứ tù với tù, lại là những thứ đàn ông ngang bướng vốn đời nhiều lần vào sinh ra tử…không dễ ǵ mà ân cần cho nhau từng th́a cháo như thế. Nó biết tôi hận nhiều thứ nhưng cố ḱm nén nên đă nói với tôi những câu mà người ta thường nói khi nghĩ rằng người thân yêu của ḿnh đang có thể sắp sửa chết “ Anh cố nuốt!..C̣n mẹ anh! C̣n con anh nữa …”.

Nó vụng về, nói lắp ba lắp bắp, nhưng tôi biết là nó nói với tâm thành, dù là tôi không ngồi dậy được, dù là mọi thứ nghiêng và xoay liên hồi … tôi vẫn loé lên được ư chí là ḿnh phải sống, từ những lời sách tấn tinh thần vụng về nhưng chân thành của một đứa tù h́nh sự bị bắt buộc phải theo dơi tôi từng li từng tí!

… Ngày thứ tư từ ngày sang bệnh xá, tôi lẫm chẫm đi được. Luống hoa thược dược nở đầy những bông tím xanh trắng vàng, tôi cố định thần nh́n theo những cành hoa ấy mà đi. Ngă xuống lại lồm cồm ḅ lên. Linh lúc nào cũng bên tôi, d́u từng bước, đỡ từng cái té sấp vô vô phương hướng của tôi…

Ngày thứ sáu, tôi đă đi được một ḿnh. Lâm vào gọi tôi ra khu cấp cứu. Đọc lệnh kiên giam. Tôi không nói ǵ. Nh́n Linh lần cuối rồi đi theo Lâm. Lâm thấy tôi muốn ngă nên đứng lại, bước đến sát bên tôi, cầm tay phải của tôi khoác lên vai Lâm. Rất chậm, hai chúng tôi đi như thế ra lầu trung tâm. Dù đoạn đường đi chỉ có chừng 250 mét, nhưng đă vô t́nh hằn sâu vào tâm hồn tôi một ư thức khó tả. Tôi là đứa ương bướng, chưa từng bao giờ nghĩ ḿnh phải bấu bám vai một người công an mật vụ hay quản tù … để bước đi những bước chân chập chững.

Lâm có thể không biết, nhưng trong khoảng khắc ấy, tôi đă là một con người với rất nhiều thay đổi.

Sau này, tôi biết là từ những giờ phút ấy, tôi đă trở thành NGƯỜ ĐẤU TRANH KHÔNG THÙ HẬN.

Chiếc xe U Oát đậu sát thềm lầu hội trường. Tư trang của tôi đă xếp gọn gàng trong xe. Người tài xế nổ máy chờ sẵn. Lâm d́u tôi ngồi xuống ghế bên cạnh tài xế. mở hộp c̣ng số 8 loại mi ni bập vào hai ngón tay cái của tôi. Bộ c̣ng lớn bập vào gọng sắt ghế ngồi và cổ tay trái. Tôi chầm chậm đưa mắt nh́n một lượt bốn chung quanh, nghĩ rằng ḿnh sẽ không c̣n có dịp quay về nơi đây. Cổng khu tù chính trị khuất hẳn tầm nh́n của tôi. Tôi b́nh thản thả trôi mạng sống cho số phận. Giờ này chẳng c̣n phản ứng ǵ được nữa, đứng c̣n không vững lấy ǵ lư luận với phản kháng.

Xe qua cổng chính. Bốn người trên xe gồm tài xế, Lâm an ninh và một bảo vệ súng dài. Tôi cảm giác rằng sẽ đi không xa nơi đây, v́ chỉ có một bảo vệ và Lâm không mặc đồ lễ mũ vành.

Xe chạy qua đội tù chính trị miền Nam, dáng Nguyễn đ́nh Oai gánh đôi thùng tưới đi thoăn thoắt trên những luốn rau cải xanh ngắt. Dáng TRung cao ḷng kḥng và Trần Minh Tuấn giữa vườn rau. Bóng anh Vàng tất tưởi chạy ra ven lộ đưa tay vẫy vẫy rồi bóng cả đội đập đá đứng nhốn nháo hết cả lên khi xe bất ngờ chạy ngang, rơ nhất là Đỗ bạch Thố đứng bên ông Bùi Gia Liêm với mái tóc bạc trắng và hàm râu nghệ sĩ. Tôi muốn đưa tay vẫy chào anh em thân yêu mà không được, v́ tay tôi dính với thành ghế rồi!

Mới gặp lại nhau chưa đầy 10 tháng, giờ lại chia tay. Lần này đường đi chỉ ḿnh tôi! Nỗi luyến lưu bất chợt dâng lên đong đầy hai con mắt. Tôi để mặc những giọt nước mắt ưá ra lăn qua má rớt tuỉ nhục lên đôi c̣ng thép bạc.

4. Biệt giam K.C!
Xe chạy ngang qua cánh đồng trại 5. Phân trại A nh́n từ con đường xuyên ngang cánh đồng trông thật thâm u v́ không thấy được các mái nhà tầng ở bên trong. Tường đá ong xây cao như một cổ thành thời Trung Cổ. Ba cḥi canh nghễu nghện với những hàng dây điện trông như một gă phù thủy đứng bất động tụng kinh. Các thửa ruộng hai bên lổ chỗ thửa đang gặt thửa vừa mới cấy. Rải rác khắp cánh đồng là những bóng người cúi lưng vục mặt xuống các mặt ruộng. Chân núi uốn lượn ṿng vèo.

Xe qua một cổng trại, tôi biết đó là phân trại B. Tường phân trại B không nghễu nghện đá ong như phân trại A, không có nhà cao tầng, trông rơ là kém bề thế rất nhiều so vơí phân trại A.

Qua cổng phân trại B, xe ôm cua tay mặt, đường đi bây giờ là sạn đạo, một bên là vách núi một bên là cánh đồng nước bạc nhấp nhô xen lẫn những thảm lúa xanh. Giữa khoảng nước bạc nhấp nhô là một sân đất nện nổi lên trông thật lạ lùng.

Tôi hỏi ông Lâm:
- Sân ǵ vậy cán bộ?
- Sân phơi thóc, cộ thóc? Lâm đáp, có vẻ tự hào.
- Sao mà lớn vậy!
- Sông c̣n chặn được th́ cái sân có nghĩa lư ǵ …

Bất giác tôi rùng ḿnh, liên tưởng lại những điều mô tả trong cuốn tự truyện Trại Đầm Đùn (7). Đầu tôi lùng nhùng âm thanh bốn chữ “nước sông công tù”! Bao nhiêu người đă nằm xuống cho cái sân phơi hoành tráng giữa đồng kia? Bao nhiêu mồ hôi, bao nhiêu đ̣n roi, bao nhiêu nước mắt của thân nhân họ khi biền biệt năm tháng không thấy người thân trở về …

Tôi bỗng bật ra câu hỏi với Lâm, gần như từ vô thức:
- Cán bộ có bao giờ nghe bài hát Ông Lái Đ̣ (8) không?

Lâm đáp nhanh, gật gù, tự nhiên, thanh thản
- ”Có chứ! Bài ấy hay …”

Tôi kín đáo nghiêng người nh́n về tay mặt bên sườn núi, nhưng là để thẩm định lại cho rơ thái độ của Lâm. Lâm vô tư nh́n theo hướng nh́n của tôi. Tôi biết là Lâm không biết lịch sử của ca khúc đau đớn ấy nên mới trả lời tôi như vậy. Đó là ca khúc đă ra đời từ những gịng sông dẫn vào trại ngày nay, xưa gọi là các trại Lư Bá Sơ. Thời 1950 đă bao người Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt đă bị bắt đưa vào các trại Lư Bá Sơ, người đưa đ̣ chuyển họ qua sông với dây thừng cột dính thành từng chùm nhóm. Những chuyến đ̣ không bao giờ được trả tiền công và cũng không bao giờ thấy ”khách” quay về, đến cả khi người chèo đ̣ già yếu và chết đi, vẫn không thấy ai quay về …Giờ đây, tôi đang cận mặt với những ǵ họ đă trút máu xương xây thành. Đầm Đùn, Lư Bá Sơ năm xưa, giờ là trại 5 công nghiệp tù!

Xe gật gù men theo đường sạn đạo, mắt tôi đụng phải một mái ngói xám chênh vênh giữa chân núi, đầu đao cong lên như thế nhảy của một con nghê bị trói bụng. Một cảm giác ớn lạnh chạy dọc sống lưng! Xe chạy gần hơn cho tôi nhận ra đó là một ngôi miếu loại hoành tráng, nửa miếu nửa đền! Tôi bật miệng hỏi:
- Miếu ai đây?
- Đền chứ miếu ǵ? Đền Lê Lai đấy! Ông ấy chết ngay tại đây! Trên kia là hang Lê Lợi …

Viên sĩ quan tài xế vừa nói vừa chỉ tay lên phiá núi. Tai tôi cơ hồ như ù đi. Lê Lai! Người anh hùng lịch sử mà tôi kính trọng nhất, hơn tất cả những vua chúa của các dân tộc Kinh Mường Nùng Chàm Thái, Hoa, Miên. Ở ông, từ thủa thiếu thời, tôi đă ám ảnh cách chọn cái chết vô cầu phi thường của ông, ḷng đă từng nghĩ có ngày phải t́m đến đền ông mà bái lạy. Giờ là đền ông ngay bên cạnh tôi, và tôi chân tay cùm xích…

Xe chạy qua đền, chắc chắn cả Lâm lẫn người tài xế và tay súng bảo vệ đều chẳng biết ḷng tôi vừa đụng phải một tia chớp giật cực mạnh.

Xe vào hẳn trong cổng. Cánh cổng sắt đồ sộ. Đây chính là phân trại C. Hướng núi và ṿng xe di chuyển cho tôi biết chắc đây là phân trại C. Trại gốc của một vùng huyền ảo Lư Bá Sơ năm nào. Sân trại phẳng tắp không cây cối, nền sân đất đá nện rất chắc chắn. Xe de đít vào ngay góc cổng trại. Một khu vực tường xây cao 2 mét biết lập hẳn vơí khu tù chung. Như vậy, khu kỷ luật của phân trại C là ngay đầu trại. “Ngay đầu trại th́ sinh khí hơn”! Tôi lẩm bẩm và bước xuống xe theo đà của cánh cửa, sau khi c̣ng được mở.

Đồ đạc tư trang của tôi được mang ngay vào buồng đầu tiên của khu cùm. Khu cùm từ tường vây đến tường nhà tường sân …đều xây bằng đá nâu. Tất cả đều cao nghễu nghện! Dao cạo râu, thuốc uống (tất cả các loại thuốc –dược phẩm) đều bị lưu kư. Quyển tự điển Hán Việt và quyển Pháp Việt, Anh Việt được lật kiểm từng trang. Bất kỳ bút ch́ bút bi hay thỏi ch́ … đều bị thu giữ. Thư gia đ́nh th́ tù được quyền giữ, nhưng giấy trắng th́ bị thu sạch.

Về đồ ăn, tôi là đứa vô sản nên không có ǵ, viên trực trại khu C hỏi tôi có đồ ăn khô ǵ không? Tôi bảo không. Ông ta chỉ vào một gói giấy hỏi cái ǵ đây rồi mở ra. Đó là bọc gói bên trong có xếp 10 gói ḿ Miliket loại có bao b́ bằng giấy cũ vàng y như là giấy bao xi măng, tức là loại ḿ ăn liền rẻ tiền nhất ở Việt Nam thời bấy giờ. Tôi cố dấu sự mừng rỡ, v́ biết đây là thủ thuật do Thố đă lo lắng cho tôi.

Thố bị cùm đă nhiều trận, kiên giam cũng đă nhiều lần kinh qua nên biết cái ǵ cần thiết cho người cùm kiên giam. 10 gói ḿ này tôi có thể ăn được 30 ngày. Tôi tính toán và h́nh dung ngay tức khắc sẽ bẻ làm ba mỗi gói và sẽ là ba ngày cho một gói ḿ. Một hạnh phúc tầm thường đối với những người thường bên ngoài xă hội, nhưng với người kiên giam là cả một sự rất qúi báu. Thố đă khôn ngoan gói lại và đặt trong thùng gỗ đựng sách vở và thuốc của tôi cốt để phiá cán bộ sẽ phải mở ra khi đă lỡ làng đặt trước mặt tôi khi khám tư trang tù như thủ tục. Với tôi, việc lấy lại 10 gói ḿ sẽ là việc gây khó khăn cho hầu hết cán bộ của các phân trại này. V́ thùng thuốc tây của tôi, tôi không từ chối chia sớt với ai bao giờ. Các thuốc tây ấy là do các anh chị của nhóm ông bà Nguyễn quốc Nam từ Pháp gởi cho gia đ́nh tôi (sau khi ra tù hàng chục năm sau tôi mới biết chi tiết này!) và gia đ́nh hàng tháng gởi vào cho tôi. Khi nh́n thấy số thuốc và kim tiêm cá nhân của tôi khi tôi bị chuyển từ A20 ra Trại 5, chính bà Đại úy bác sĩ trại tù này c̣n phải thốt lên ”cơ số thuốc của anh c̣n hơn cơ số thuốc của bệnh xá trại 5 …”

Giúp ai được điều ǵ th́ tôi chân thành giúp, anh em tù cũng vậy, phiá cán bộ cũng vậy. Với tôi, con bệnh không phân biệt quan điểm chính trị!

Giờ đây số thuốc của tôi chỉ c̣n lèo tèo mấy chục vỉ của tất cả các loại. “Trung ương” yêu cầu thu giữ lưu kư hết, kể cả thuốc thiết thân là thuốc thấp khớp của tôi.
- ”Khi lên cơn đau, bác sĩ trại sẽ khám và cấp thuốc”! Viên trực trại nói với tôi rằng quyết định “ở trên” là như vậy.

Tôi có đươc chiếc chăn trại. Một tấm chiếu. Tất cả những thứ được đem vào buồng cùm kiên giam được xếp gọn vào chiếc thùng gỗ mà Thố đă đóng cho tôi từ lúc c̣n ở A20 Xuân Phước Phú Yên. Dao cạo râu, kem đánh răng, bàn chải …không được mang vào.

Tôi vơ ngay lấy chiếc bàn chải và hộp kem, nặn ngay kem ra và tức khắc đánh răng, vừa đánh răng vừa chầm chậm vào buồng. Thật là sảng khoái khi người tù thi đua trại C đưa cho tôi ca nước bằng nhựa để hoàn tất công việc đánh răng. Từ ngày bị đưa vào buồng cùm và ra trạm cấp cứu đến nay đă ba tuần, tôi chưa hề đươc đánh răng! Râu ria tua tủa thật khó chịu (tôi có hàm râu chả đẹp đẽ ǵ, mọc bừa bộn thô lậu).

Lâm chào tôi. Lần đầu tiên Lâm đưa tay ra bắt tay tôi. Lâm là sĩ quan an ninh của trại 5 nhưng tướng pháp khác hẳn Lâm an ninh A20. Tướng Lâm A20 nhong nhỏng cao, mặt trắng nhợt nhạt, môi luôn như mím lại, trái với Lâm an ninh trại 5. Tướng đi ngang tang dềnh dàng, ngướ tầm thước đậm đà, miệng lúc nào cũng như muốn cười, mặt vuông vức … nh́n tướng đi của Lâm, tôi cảm giác là Lâm đă chọn lầm nghề. Tướng pháp như Lâm không thể nào hiểm độc hay thích tàn ác vơí tha nhân, điều trái ngược hẳn vơí nghề nghiệp công an - an ninh trại tù.

Ở Lâm tôi mờ mờ nhận ra đâu đó bóng dáng của một thằng bạn rất thân của tôi thủa thiếu thời 1978/80 là Đào Hậu. Hậu là đứa hết long v́ bạn, ruột để ngoài da, luôn thương người thấp kém hơn ḿnh, rất anh hùng mă thượng trong mọi hoàn cảnh. Hai tướng đi và hai ánh mắt của hai người này rất giống nhau.

An ninh, giáo dục, trực trại của phân trại C đừng chộn rộn trong ô sân cùm. Tất cả đều như mang một chút ngạc nhiên khi thấy Lâm đưa tay bắt tay tôi, thái độ thân ái như hai người bạn khi xa nhau. Lâm quay ḿnh bước ra cổng sân buồng cùm, không quay lại. Sân buồng c̣n lại hai người đại úy bảo tôi vào ô cùm.

Ô cùm kiên giam ngang chừng 2m50 rộng cũng chừng ấy. Cửa ra vào khoảng cao 1m60. Cửa sắt và gờ cừa cũng là sắt dầy. Cửa sắt kín từ dưới lên khoảng 1m20. 40 centimet trên cùng là sắt tṛn hàn thành các ô vuông 10 centimet để lấy ánh sang và không khí vào cho gian cùm. Bệ cùm chân cùm đă được phá đi, xây chồng lên là một lớp đá dầy. Tường vôi mới quét bốn chung quanh. Một ô vuông tường khuất hằn có lối đi vào là bể nước và WC bàn cầu ngồi. Cấu trúc này với tôi thật là lạ lùng. Cửa sắt đóng lại. Hai người đại úy lúi húi cùng cầm cùng xoay xoay nắn ổ khoá … Ra là họ không cùm tôi!

Sảng khoái, tôi chầm chậm ngồi xuống bệ nằm bằng đá. Tiếng bước chân hai người sĩ quan đi ra cửa sân rồi tiếng lách cách khoá cổng sân, cuối cùng là tiếng cánh cổng sắt khu kiên giam uỳnh uỳnh đóng lại. Tôi từ từ ngả lưng nằm dài xuống nền đá … nhưng vội gượng ngồi ngay dậy khi cảm thấy cả khu cùm bắt đầu quay ṃng ṃng! Tôi đă rất sợ cảm giác mọi thứ cứ quay lộn tùng phèo hết cả lên, không biết nắm vào đâu để giữ thăng bằng …
- Út ơi!

Tôi chới với đứng ngay dậy. Lờ quờ bước ba bốn bước ghé mặt sát các song cửa! Tiếng ai như tiếng anh Sương vừa gọi tôi!

Không nghe ǵ nữa cả! Tôi bẹo mạnh vào bắp tay để chắc chắn biết là ḿnh hoàn toàn tỉnh táo! Một cảm giác thảng thốt len nhanh qua tâm trí «… không lẽ Sương … không c̣n! » Tôi quyết định lên tiếng và nghĩ nếu là Sương đă chết th́ chắc chắn Sương đă về với tôi. Tôi nói lớn, nghiêm giọng:
- Phải anh Sương không?
- Sương đây Út ơi!

Tiếng anh Sương lập tức đáp lại, như từ một vách núi nào xa lắm! Tôi bán tín bán nghi bèn vào trong ô buồng WC, tường WC là giáp tường bên buồng số 2. Nếu Sương bên buồng 2 th́ Sương phải nghe tiếng tôi dộng tay vào tường. Tôi dộng mạnh năm sáu phát liền. Có năm sáu phát dộng lại, cũng như xa lắm! Vậy là Sương ở bên kia! Tôi mừng muốn khụyu chân xuống.

Tôi ra cửa, nói lớn, chậm răi v́ biết âm thanh bên anh Sương khó thoát ra
- « Em đây anh Sương? Anh sao rồi ».
- Khỏe Thành ơi! - Vẫn tiếng rất xa.
- Sao anh nói khó nghe quá!
-Anh ở xa cửa!

Tôi bần thần. Như vậy là Sương bị cùm!

-Anh bị cùm à?
- Ừa! Mà bộ tụi nó không cùm em à?
- Bên này không có bệ cùm!
- Có mà!
- Quái lạ! Là thực hay là mơ đây? Tôi định thần lại một lần nữa. Nh́n chung quanh buồng. Quả là vết bê tông ụ nằm lát đá c̣n rất mới!
- Mà thôi đừng nói nữa! Để mấy bữa nữa đi! Chớ nói nữa họ chuyển xa nhau là chết ngắc!...

Tôi không đáp, ḷng bấn loạn nghĩ đến Chinh và Thụy nên hỏi lớn.
- Anh biết Chinh Thụy đi đâu không?
- Bên số 5!

Tôi bàng hoàng, hỏi lớn.
- 5 nào?
- Anh số 2. Út số 1. Chinh số 5. Dũng số 6. Thụy 11, Đăng 12 đàng sau …

Tôi rú lên, đập cửa th́nh th́nh. Tiếng sắt thép va vào nhau rổn rảng, là tiếng đập cùm của anh Sương vọng sang!

*******

Tôi đứng khum khum nh́n ra khoảnh sân trước buồng cùm. Sân lát gạch nung vuông 30cm, bề ngang sân 5 mét, bề dài khoảng 7 mét là đến cửa cổng. Vách tường đá nâu cao ngất ngưởng khoảng 4 mét, trên 4 mét ấy mơí xây thêm 1 mét gạch thường. Như vậy, ô sân trở thành một cái giếng. Âm thanh từ buồng cùm vọng ra đă khó, trèo qua được bước tường cao này th́ biến dạng là phải.

Mắt tôi quan sát bên trên các bức tường đá. Rêu đă có khá nhiều, chứng tỏ căn buồng cùm này không mấy khi có người ở. Sát mép buồng cùm, lênh khênh trên một gờ đá ong có một thân cây giống cây me mọc bám chắc đă lâu ngày, cây cao chừng 30 cm bám chênh vênh giữa khoảng tường đá, thân cây cằn cỗi khẳng khiu cỡ bằng nửa chiếc đũa. ”Chắc con chim nào đă ị hạt giống vào đây”. Tôi ngẫm nghĩ nh́n gốc cây lạ lùng vô danh tí hon rồi đưa mắt soi cẩn thận xuống nền gạch của sân. Giữa sân, sát tường bên tay trái có một bệ đá xây như bàn ngồi ăn cơm và ghế đá. Tất cả đều là mới làm xong cỡ năm ba ngày. Chính giữa sân, thẳng tắp từ cửa buồng cùm đi thẳng ra cửa sân, hàng gạch nung bị vạt sâu hơm xuống thành một đường rănh hơm rất đều nhau. Tại sao có đường rănh này? Câu hỏi rất nhanh xẹt qua đầu và tức khắc đưa ra câu trả lời khốc liệt: Những người bị xiềng chân lưu cữu!

Bất giác tôi thấy ḿnh như lớn hẳn lên v́ thảng thốt nhận ra một dấu tích, tuy nhỏ nhặt bé mọn nhưng là một sự nối kết vô h́nh của một giai đoạn lịch sử tàn khốc, của nửa thế kỷ kéo dài dính chặt đến hôm nay, những con người mang một ư thức công bằng dân sinh, độc lập dân tộc, tự do tư tưởng … vẫn c̣n phải trả giá bằng những sự thù hận man dă từ chính những người đồng chủng chung một tổ tiên chung một nền văn hoá.

Những bước tường như thời Trung cổ Âu châu đang vây chung quanh tôi đây, đă ít nhất hơn 50 năm chứng kiến bao cảnh một đàn gà chung một Mẹ già tận lực xé xác lẫn nhau! Tôi cả nửa đời lang bạt kỳ hồ, ḷng chưa bao giờ h́nh dung đến sẽ phải (hay được) đứng trong một dăy hầm cùm đă được xây dựng từ 50 năm trước, khi đất nước vừa được người Nhật trao trả quyền độc lập sau các biến động Thế Chiến và bị thế lực cộng sản quốc tế thừa cơ chiếm đoạt, gây nên bao cảnh hăi hùng khởi từ những tấm ḷng cuồng nhiệt cực độ mà ngu ngơ cũng cực độ … dẫn đất nước vào hai cuộc chiến tranh triền miên máu, nước mắt và đói khát hèn hạ.

50 năm trước, khi dân c̣n cơ cầu đói khát lơ láo với món quà độc lập từ trên trời rơi xuống… th́ những trại tù hùng vĩ thế này được cất lên! Ai đă xây những bức tường này? Ai đă đập đá giă vôi? Ai đă ngào hồ trộn vữa… để cơ ngơi trùng trùng những nhà tù hôm nay trở thành như một nền công nghiệp trên giải đất Lam Sơn lịch sử 10 năm nằm gai nềm mật kháng chiến chống quân Hán Minh 500 năm về trước! Căn cứ nghĩa quân! Sân tập trận! Băi thao trường …là nơi giờ đây tôi đang đứng chân lên trên, trong một căn hầm dành cho loài mănh thú, với án danh là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng cho an ninh quốc gia!!!

Nh́n các vách tường đá lưu cữu, nh́n bầu trời trong xanh đă bị bó hẹp lại trên đỉnh những gờ đá, nh́n xa xa là vách núi dựng đứng, nơi có dấu chấm được gọi là miệng hang Lê Lợi lúc ẩn lúc hiện giữa những làn mây treo lơ lửng… khiến cảm xúc trong tôi tôi như sóng vỗ xô bờ

Có bóng người thấp thoáng đi qua đi lại trước khu cửa sân buồng số 1, là người tù thi đua ban năy đă phụ đem chiếc ḥm gỗ của tôi vào buồng. Như vậy là họ đă để túc trực một người tù thi đua ngay trong khu kỷ luật cách ly này. Chả trách anh Chinh và anh Dũng không lên tiếng với tôi, v́ chắc chắn sẽ phải gào rất lớn tôi mới nghe được, trong khi khu nhà trực trại là sát ngay tường phiá bên ngoài khu biệt giam, chỉ cách con đường chính dẫn vào cổng trại.

Người tù thi đua này có vẻ chân phương, không « gai góc sắc sảo » như hai người tù thi đua ngoài trại A. Anh ta có vẻ muốn gần gũi tôi, nhưng xa quá, chỉ nh́n thoáng thấy tia mắt của nhau từ cửa sắt buồng cùm vơí của sắt để dẫn ra cổng khu cách ly.

Khoảng 4 giờ chiều có tiếng lỉnh kỉnh mở cổng khu kỷ luật, rồi ngay sau đó là mở cửa sân buồng tôi. Hai người đại úy đi vào cửa buồng, cùng lúi húi tra ch́a khoá vào ổ để mở khoá. Khoá mở xong th́ một người cầm ổ khoá trên tay gọi tôi bước ra sân. Trong sân có ba người là hai đại úy và người tù thi đua. Viên đại úy cao ngang ngửa vơí tôi lên tiếng.
- Tôi là trực trại, ông … (tôi quên tên) đây là trách nhiệm giáo dục. Qui chế sinh hoạt của anh cho tuần này là không cùm. Anh có hai lần mỗi ngày, chúng tôi mở cửa buồng để anh ra bàn ăn cơm. 11 giờ sáng và 4 giờ chiều. Mỗi lần ra sân anh có 30 phút.

Nh́n chung quanh một lượt ông nói tiếp, giọng người Mường Thanh hoá đặc thù.
- Đây là phân trại C. Anh chắc đă nhận thấy sự khác biệt của buồng anh vơí các buồng khác. Chúng tôi mong anh an tâm sinh hoạt, không để xảy ra những chuyện đáng tiếc … v́ chắc chắn là anh chỉ sẽ thiệt hại mà thôi…

Tôi không nói ǵ, đứng yên lắng nghe. Thái độ của cả hai là thái độ nhă nhặn, tuyệt không thấy sự thù hằn nào hiện lên trên hai khuôn mặt này.

Ông ta chỉ người tù thi đua.

-Đây là anh … (tôi quên tên rồi) là người bên cạnh các anh. Có điều ǵ cần gặp chúng tôi, anh cứ nói vơí anh ta. Nước nôi sinh hoạt của buồng anh … sẽ hàng ngày châm cho đầy cái bể trong nhà met (WC). Cơm anh ta cũng là người nấu trực tiếp cho các anh, không chung nồi với trại chung …

Nói xong ông ta ra hiệu cho người tù thi đua mang cơm vào. Người tù thi đua bê một chồng 4 cái mâm vào đặt trên bàn đá rồi thứ tự lấy mâm trên cao nhất đặt xuống mặt bàn, lấy mâm cao thứ ba đặt lên cái mâm thứ nhất dưới mặt bàn và chuyền chiếc mâm áp chót của hàng mâm lúc đem vào, đặt lên thành tầng thứ ba của ba mâm. Như vậy. Mâm cuối cùng là mâm của tôi. Thủ tục này suốt hai tháng trời là như thế.

Ba mâm của các anh Dũng, Sương, Chinh bằng nhau, bát cơm đầy hơn một chút so với bát cơm mâm của tôi, bát canh rau muống giống nhau và đăc biệt mỗi bát cơm của các anh có một nủa con cá khô, bằng chừng gần ngón tay út.
-“Miếng ăn trong tù to lớn vô cùng”! Vào trong hoàn cảnh này tôi mới thật sự hiểu được giá trị của câu nói ấy.

Thủ tục này tôi hiểu là hoàn toàn không phát sinh từ giám thị trại này. V́ “tiêu chuẩn” ăn của tôi, ngay đến giám thị Lường (phân trại C) cũng có lần bày tỏ sự bất b́nh trước mặt tôi.”Sao lại đối xử với các anh như thế này nhỉ …” câu nói ấy theo tôi măi đến ngày hôm nay, từ một người thượng tá gốc Mường đơn sơ đôn hậu.

Tôi ăn cơm xong (chỉ 5 phút) bèn tận dụng giờ được tản bộ trong sân tôi mon men ra cánh cửa sắt, hy vọng t́m thấy h́nh bóng hay âm thanh nào đó của Chinh và Dũng … nhưng không tḥ đầu ra song cửa sắt được. Gờ tường quá dầy nên tầm mắt nh́n nghiêng qua buồng 1 và 2, chỉ thấy ba, bốn mét lối đi. Có lẽ các anh sợ bị chuyển xa nhau nên không lên tiếng lớn, chỉ húng hắng ho để tôi nhận biết là các anh đă biết tôi ở buồng này. Tôi to mồm gọi chào anh Dũng anh Chinh. Đăng và Thụy ở bên kia, phẩn tường đàng sau th́ không cách chi bắn tiếng cho nhau được. Tuy nhiên, biết các anh cả ở đây là yên tâm rồi. Có điều anh Dũng và Đăng tại sao bị bắt vào cùm th́ tôi chưa biết lư do. Vơí anh Dũng, tôi đă dặn kỹ trước khi xảy ra chuyện đối đầu là anh cần đứng ngoài, không dính chùm vào với tôi… vậy hà cớ ǵ anh lại bị cùm vào đây! Đăng tôi cũng không hiểu v́ sao!

Người tù thi đua luôn ẩn hiện. Một lần tôi ”chộp” được anh ta.
- Này anh bạn!
- Dạ …

Anh ta có vẻ lúng túng.
- Quê anh ở đâu?
- Ở tỉnh này anh ạ!

Nghe giọng nói và cung cách, tôi không dấu đươc ngạc nhiên.
- Sao ông lại … vào đây nhỉ? - Tôi vừa hỏi vừa lắc lắc cái đầu, không ngờ cảm giác lộn tùng phèo ập ngay đến. Tôi vội ngồi thụp xuống tựa lưng vào thành cửa sắt, dán chạt lựng vào tấm cửa, hai chân dạng rộng ra để khỏi mất thăng bằng mà đâm đầu xuống nền đá. Tiếng người tù thi đua í ới chạy ra cổng khu gọi ”ông ơi ông ơi” bài hăi!

Phải nói là tôi đă rất sợ cảm giác lộn tùng phèo tất tần tật tất cả mọi thứ lên. Nhớ mấy hôm c̣n bên bệnh xá trại A, những lúc ngă đâm đầu xuống cạnh luống hoa thược dược mà không có Linh, mặt mũi tôi bê bết đất cát khi đứng lên được! Tôi sợ trời đất quay ṃng ṃng. Sợ cảm giác sụp đổ. Sợ thân ḿnh bị chổng ngược lơ lửng giữa đất trời và những mái tầng nhà tù.

May mà t́nh trạng đảo lộn chỉ thoáng qua chừng 3, 4 phút. Tôi bắt đầu co chân lại để vịn tường đứng lên th́ cửa mở. Viên đại úy trực trại ào vào vực nách tôi d́u vào buồng. Cả hai đều cao lớn nên cùng phải khom khom mới lọt qua được cánh cửa sắt. mà vơí tôi, việc cúi đầu xuống là việc đă trở thành tối kỵ… nên trôi phải khụy gối xuống, nửa bước nửa qùy để vào bệ cùm, ngồi tựa lưng ngay ngắn vào vách tường.

Viên sĩ quan trực trại có vẻ rất ái ngại khi phải khoá cửa buồng để tôi lại một ḿnh. Ông lần khân lần khan vẻ như không biét xử trí ra sao.

Tôi nói
- Tôi quen rồi. Không sao đâu cán bộ..

Ông ta tần ngần cùng người tù thi đua đi ra khỏi buồng, lách cách đóng khoá. Lần này th́ tôi biết chắc rằng cái ổ khoá là loại khoá hai ch́a!
- Tôi lẩm bẩm “… mấy ông bị lừa rồi! Tôi có là con khỉ khô ǵ đâu mà mấy ông phải nh́n tôi là quan trọng một cách quái gở thế này …”.

Khoảng 2 tiếng sau, bóng đêm ập xuống, ánh đèn vàng vọt từ một cái lỗ như lỗ thông hơi trên cửa ra vào sát với trần buồng hắt le lói vào đúng vị trí bệ cùm tôi nằm. Những tiếng tạch xè tạch xè quen thuộc của một thủa ấu thơ dội về, tôi rảo mắt chầm chậm nh́n lên hướng đền vàng vọt và thấy những cánh bay của những chú cào cào bay qua bay lại trước cửa buồng. Ḷng tôi mừng húm! V́ những con cào cào sẽ là những dấu chỉ của cuộc sống đang sinh động diễn ra, thứ nữa là tôi có thể … ăn được những chú mà tôi có thể vồ được. Tôi sẽ ăn các chú cào cào, v́ nếu không ăn, tôi e rằng ḿnh khó có thể sống mà không bị suy kiệt dinh dưỡng, đầu óc v́ thế sẽ trở thành mông muội, sẽ thành đất cát mất … vả lại, tôi không ăn các chú th́ các chú cũng chết, v́ các chú sẽ chẳng biết lối đâu mà bay ra. Phần tôi, chắc chắn sẽ không đuổi theo các chú được, với cái đầu giờ cứ phải như người máy thế này. Đầu quay đi đâu là cả thân người phải quay theo thế ấy, không dám nh́n xuống, không dám nh́n lên. Tôi cần phải sống các bạn ạ.

Tôi ngồi như vậy với những đường bay của các chú cào cào, cả mấy mẹ thiêu thân cũng cắm đầu ra cắm đầu vào cái bóng đèn, có hai ba chú lọt vào buồng và quả nhiên là bay đâm loạn xà ngầu vào các ngách tường. Tôi chả dại ǵ mà đừng lên, nhất nữa là đuổi theo các chú. Đúng lúc tôi quan sát một chú cào cào đang ḅ trên tường th́ phát hiện suy đoàn kiến lửa đang xa luân chiến cái mớ quà qúi báu mà Thố đă khôn khéo gói cho tôi: Túi ḿ gói Mikilét (h́nh như tên nguyên dạng là Ḿ Liên Kết).

Này th́ không xong rồi. Ở cái đất này, h́nh như các loại sinh vật đều rất dễ nảy sinh hành vi thảo khấu. Đến mấy con muỗi cũng cư xử như thảo khấu và giờ là binh đoàn kiến vàng. Liên tưởng đến những gói ḿ bao bằng giấy bị hàng vạn những cái gọng hàm nghênh ngang kia liên thủ đục khoét th́ … chẳng mấy chốc mà nát bét. Tôi bám tường cố đứng lên, chậm răi bước đến cái nóc ḥm gỗ. Giời ạ! Đúng là hàng sư đoàn! Mới chỉ có hai ba gói bị vỡ hàng rào pḥng ngự. Tôi cầm chiếc túi có 10 gói ḿ, ph́ ph́ thổi thổi cho lũ kiến đang điên cuồng bới gặm phải rơi xuống nền buồng, nhưng rồi không biết phải để bọc ḿ khô ở đâu! Binh đoàn kiến th́ đâu chúng cũng có thể ṃ tới mà tường th́ không có mấu hay đinh, que, dây … ǵ để có thể treo. Cuối cùng th́ miếng áo nhựa dùng để đi mưa đă được tôi nhớ ra, quấn 10 gói ḿ vào rồi tôi thả nổi nổi trên mặt cái bể nước trong nhà wc. 10 gói ḿ này sẽ là … sinh lực cho tôi hàng tháng hoặc có thể hơn cả tháng trời. Nó sẽ giúp tôi phấn đấu … Tôi đă ”ra chỉ tiêu” cứng rắn là mỗi ngày, 10 giờ tối tôi sẽ được tự ”thưởng” cho ḿnh 1 phần 3 của lát ḿ gói Miliket kia.

Tôi về chỗ nằm, ngồi tựa vào tường. Bên anh Sương yên ắng như một khu nhà mồ …

Bỗng có tiếng dế gáy rơ to vang lên. Bỏ mẹ tôi rồi! Dế cơm Lam Sơn! Những con dế cơm không hề cơm tí nào! Chúng gáy hung dũng và to gấp năm sáu lần những con dế chiến của tôi thủa ấu thời. Làm sao mà bịt mồm con dế này được? Tôi tự hỏi trong đầu và từng bước đứng lên đi t́m cái ca đựng nước xối WC. Tôi múc một ca đầy, ḷ ḍ ngồi kiểu nước lụt rồi nhếch từng chút một t́m chỗ con dế ác liệt. Không thể nhân nhượng hay thơ ca lẩn thẩn ǵ được với trự dế cơm này. Tiếng gáy của y như muốn nong cả óc của tôi ra rồi.

Đây rồi, hai sợi râu của hắn tḥ hẳn ra một ngách đá ong sát chân tường, cao hơn măt nền buồng chừng 5cm! Này th́ sao mà đổ nước vào cái ngách ấy! Chỉ c̣n nước là lấy cái ca đập vào miệng ngách hang bé tí cho hắn sợ mà”câm miệng” lại! Tôi đổ nước ra mép cửa, gơ gơ chiếc ca nhựa vào miệng hang! Thật đúng là thứ du côn! Hắn im được chưa tới 5 phút đă lại gáy tướng lên. Tôi lại ṃ đến miệng ngách hang, lại gơ gơ. Lần này hắn không thèm im luôn! Tôi gơ cứ gơ! Hắn gáy cứ gáy! Thậm chí c̣n có phần gay cấn hơn!

Tôi trở lại chỗ nằm. Kiểu này anh chàng dế chắc đă thành tinh, hắn chắc thèm một đối tác cộng sinh để giải tỏa nhu cầu ca hát. Vậy th́ ta chỉ c̣n cách là lơ luôn hắn đi. Tôi định thần ngồi yên, bắt đầu khép chân bán già để tập tịnh tâm. Chàng dế không buông tha tôi. Hắn gáy một ḿnh có vẻ không đă tai nên tỏ rơ thái độ nửa cám dỗ nửa khiêu khích. Hắn lẫm chẫm ḅ ra hẳn ngách, đứng oai phong sát tường và nền nhà, nhổng cái đít lên, khuỳnh hai cái càng đen đủi gớm ghiếc ra mà gáy, đầu hướng về phiá tôi ngồi. Giời ạ, dế ǵ đâu mà du côn quá trời! Hắn đen trùi nhũi, to bằng cả ngón tay cái của tôi! Khi tôi mới ra trại 5, ở khu cách ly bên khu nữ đă thấy một con ẩn trong ngách đá gần bờ giếng. Lúc ấy tôi đă rất ngạc nhiên v́ cái sự ”cơm” của loài dế này. Nhưng con ấy so với con này coi bộ chỉ là hàng em út! Con này chắc đă thành tinh rồi!

“Đất không chịu giời th́ giời phải chịu đất thôi”! Tôi ngẫm nghĩ và t́m cách nương theo âm thanh của cu dế này mà gieo các nhịp thở. Khốn nỗi cu chàng gáy chả theo một thứ tự hay âm giai hợp lư nào cả. Lúc th́ hùng dũng sang trọng kiểu giao hưởng Beethoven, lúc lại như kiểu rèng rẹc ghẹ mái. Thật là quá quắt! Chừng hơn 1 giờ như thế, hắn bỗng im bặt, lần ṃ thu xếp kèn loa rồi chui vào cái khe ngách ấm yên của hắn. Trả lại cho căn buồng sự tĩnh mịch thật là héo hắt.

Tôi cố giữ nhịp nhàng cho các hơi thở, lược dần những sự suy nghĩ ra khỏi đầu, dù rất nhiều thứ đang thúc dục tôi phải nhớ lại từng sự việc để suy ra bản chất những điều đă đến với anh em chúng tôi trong ba tuần vừa qua. Điều lo lắng lớn nhất của tôi là Chinh và Thụy th́ đă được giải tỏa. Các ảnh ở đây, cùng vơí tôi trong khu cùm kỷ luật này. Mà chuyện cùm kẹp đối mấy ổng th́ chẳng có ǵ phải lo lắng. Họ đều là những cội đại thụ của A20 trong chuyện cùm kẹp!

Đúng lúc tôi bắt đầu có sự yên ắng nhẹ nhàng của các nhịp thở th́ những âm thanh đập cùm ầm ầm vọng sang từ buồng sát vách buồng tôi, phiá dăy sau. Tiếng va đập cùm phải là của một người nào đó rất khỏe và rất lỳ đ̣n. Tiếng va cùm kiểu ấy, ngay như tôi cũng không dám làm, v́ chắc chắn sẽ bật máu cổ chân!

Tiếng đập cùm cứ năm ba phút lại vang lên, dộng như nện vào đầu tôi sự công phá nặng tŕnh trịch. Cán bộ không ai vào dù những tiếng chửi thề độc địa đă bật ra không c̣n đâu là giới hạn. Từ quản giáo đến giám thị, đều bị anh chàng lôi ra chửi không tiếc hơi sức. Gần 1 giờ liên tục như vậy. Nghỉ chừng 15 phút lại ”tăng ca”! Thật là thảm hại cho tôi nếu cứ phải chịu cảnh này. Hết thằng dế cơm ngổ ngáo lại đến anh chàng tù kỷ luật lên cơn điên. Kiểu này là không xong rồi! Sẽ không tập trung zô ga zô ghiếc ǵ được trong bối cảnh quái gở này. Tôi quyết định ”làm chủ t́nh thế”. Tôi gồng người nói lớn, chậm để âm thanh có thể dẫn truyền trọn vẹn sang cho ngướ đồng cảnh bất đắc dĩ.
- Này …anh…bạn…ǵ…ấy…ơi…!

Im ắng lạ lùng.Tôi gọi lại lần thứ hai y như vậy, th́ có tiếng trả lời.
- Anh …ǵ …là …Việt…kiều… phải không?
- Ừ, Việt kiều Pháp đây!

Tôi đáp to từng tiếng và dặn anh ta cũng phải nói như vậy, nếu không th́ lơm bơm rất khó nghe.

Tôi hỏi anh ta muốn ǵ? Anh ta bảo là chỉ muốn ra trại chung thôi, chứ ở đây chịu không nổi nữa rồi. Tôi hỏi chịu không nổi là sao? Anh ta bảo.
- Thèm tiếng người! Giờ chúng nó chửi em, em cũng thích nghe!

Một cảm giác thương tâm bật lên trong ḷng tôi. Chỉ một câu ngắn ngủi với âm giọng lơm bơm nhưng là thể hiện một nhu cầu thật là hết sức con người.

Tôi nhớ lại thời kỳ bị biệt giam ở B34, những tháng chờ ra ṭa thật là đằng đẵng. Khi ấy tôi cũng có cảm giác thật thèm được nghe tiếng người. Cảm giác ấy, mấy mươi năm đầu của cuộc đời, tôi không bao giờ nghĩ là nó có trên cơi đời này! Đêm nay, một người tù xa lạ, cách tôi một bức tường đá dày hàng nửa thước, chân bị kẹp trong suốt cùm, dùng chính cái móng cùm đang thắt chặt ở cổ chân mà đập lấy đập để vào trụ cùm, mong đ̣i được nghe tiếng con người! Được sống b́nh thường như một con người tù b́nh thường ở trại chung...

Một ư nghĩ thoáng qua đầu và tôi lớn giọng gào tiếp tục.
- Này … Anh…Bạn…Bên…Kia… ơi!

Tiếng đáp ”em đây” rơ mồn một!
- Anh có muốn ra ngoài trại chung không?

Tiếng đáp ”C…ó …” rất to.
- Anh có sợ không?
- Em chả sợ ǵ sất!

Vậy tôi hét câu nào, anh lập lại câu ấy nhá! Lập lại giống y như tôi nhá …
Tiếng anh ta ”vâng ạ” lớn. Tôi lập lại.
- Hét giống y như tôi nhá!
- Vâng!
- Thề đi!
-Thề! Em Xin Thề!

Tôi đứng hẳn lên. Khom người chu mỏ ra ô cửa sắt, gào cật lực từng câu từng chữ.
- Đ. M. Hồ …chí… Minh…!
….!
Không tiếng đáp lại! Tôi gào lại lần nữa!
- Đ.M. Hồ… chí… Minh..!
- …
Tôi hoàn toàn không nghe bất cứ âm thanh ǵ thêm nữa. Hỏi với sang: ”Anh Ǵ Đâu Rồi …” chỉ là tiếng mấy con cào cào tạch xè bay qua bay lại trên đầu tôi, phiá cái bóng đèn mờ mờ nhợt nhạt.

Chừng 15 phút sau tiếng cổng cánh cửa sắt khu kỷ luật bật mở. Tôi cười thầm, ”giải thoát được cho ông rồi nhá”!

Tiếng cửa buồng phiá sau bật mở rất nhanh, tiếng lách cách tháo khoá và tiếng suốt cùm roèn roẹt kéo qua trụ sắt.

Từ đó, tôi không bao giờ gập lại người tù kỷ luật ấy nữa, một người đă thoát được khu cùm kỷ luật kinh hoàng mà đám h́nh sự gọi là khu cùm K Chết!

Tôi thiếp đi trong những âm thanh hỗn độn của tiếng người tru tréo, tiếng than thở, tiếng van cầu … và những người đàn ông đàn bà không quần áo đứng ngoài cửa buồng nh́n vào!
Đêm hầm cùm đầu tiên của khu kỷ luật Lam Sơn C trôi qua với nhiều những âm vang vọng lại đến cả suốt 20 năm sau của đời tôi.


Phạm Văn Thành
Attached Thumbnails
Click image for larger version

Name:	mail.jpg
Views:	0
Size:	54.3 KB
ID:	1362239   Click image for larger version

Name:	mail (1).jpg
Views:	0
Size:	160.9 KB
ID:	1362241  
hoanglan22_is_offline   Reply With Quote
Old 04-08-2019   #89
hoanglan22
hoanglan22's Avatar
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Apr 2011
Posts: 5,908
Thanks: 3,711
Thanked 7,527 Times in 3,566 Posts
Mentioned: 47 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 2477 Post(s)
Rep Power: 15
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
Reputation: 23623
Default Một trà, một rượu, một đàn bà



Một trà, một rượu, một đàn bà

Trong đời sống con người, nhất là nam giới thường mắc phải vài thói hư tật xấu. Tứ đổ tường thường dính phải một, hai. Có nhiều người c̣n tự hào về những thói hư tật xấu của ḿnh.

Xin đọc câu chuyện vui sau đây:“Một người đàn ông đi làm việc về thấy một gă lạ mặt, quần áo rách rưới đứng trước sân nhà, liền hỏi:- Ông là ai mà đứng trước nhà tôi?

Gă lạ mặt trả lời:- Thưa ông, tôi lỡ đường, lại đói quá, xin ông vui ḷng giúp tôi ít tiền để tôi có được buổi ăn chiều.Người đàn ông từ chối:

- Tôi có thể giúp anh nhưng tôi biết cho anh tiền anh sẽ đi uống rượu hoặc đánh bạc.

Gă lạ trả lời:

- Tôi thề với ông, đời tôi chẳng biết tứ đổ tường là ǵ, th́ khi nào tôi lại đi uống rượu hay đánh bạc.

Mắt người đàn ông sáng lên, vui vẻ nói:

- Vậy th́ mời anh bước vào nhà uống miếng nước rồi tôi giúp anh chút tiền ăn cơm chiều

Gă lạ mặt ngạc nhiên:

- Sao lại phải bước vào nhà, áo quần tôi rách rưới, dơ bẩn.

Người đàn ông nói:

- Tôi chỉ muốn vợ tôi nh́n thấy một người không có thói hư tật xấu nó như thế nào. Vậy thôi!

***

Như ông Tú Vị Xuyên:

“Bài bạc kiệu cờ cao nhất xứ. Rượu chè, trai gái đủ tam khoanh.”

Thế mà ông Tú chẳng ngại miệng đời, ngông nghênh làm thơ nói ra cho thiên hạ biết đời người có tứ khoái: Ăn, ngủ, ấy, ể.

Những cái khoái của ông Tú là:

“Một trà, một rượu, một đàn bà
Ba cái lăng nhăng nó quấy ta
Chừa được thứ nào hay thứ nấy
Hoạ chăng chừa rượu với chừa trà.”

Vậy ta hăy tán gẫu về những thứ mà ông Tú là Vị Xuyên vướng phải cho vui:

1- MỘT TRÀ:

Chẳng được bao lâu. Một lần sau buổi cơm chiều, bà vợ đang rửa chén sau nhà th́ nghe chồng gọi: “Bà nó ơi! Vào xơi chè với tôi.”

Trà là thức uống thanh nhă của người Á đông. Trà, tiếng miền Bắc gọi là chè.

Có cặp vợ chồng, chồng Bắc, vợ Nam , cưới nhau

Bà vợ ngạc nhiên la lên: “Mới ăn cơm xong no muốn chết, bụng dạ đâu ăn chè cho nổi.” Ba miền Bắc, Trung , Nam có nhiều tiếng khiến dân ba miền hiểu lầm nhau. Có lần người viết bài nầy đến thăm cô bạn gái người Huế, thuộc dạng hoàng tộc, cũng là người trong giới cầm bút. Vừa mở cổng, có hai con chó chạy ào ra sủa toáng lên làm tôi sợ hăi. Lúc đó, người bạn từ trong nhà chạy ra vừa xua đuổi hai con chó vừa trấn an tôi: “Không răng mô! Không răng mô!” Tôi vừa sợ vừa giận, nói lớn: “Chó nhà em răng chơm chởm thế kia, sao bảo không răng?”

Trở lại chuyện uống trà. Uống trà tinh thần sảng khoái, quên cả mệt nhọc.Trong trà có chất thebaine, giống như chất cafeine có tác dụng giúp cho tỉnh ngủ. Thuở xưa các dân du mục bên Tàu, mỗi lần đi săn hay chinh chiến về, thấy loài ngựa mệt nhọc, thường hay t́m một thứ lá cây để ăn. Ăn xong loài ngựa như khoẻ ra. Loài người thấy vậy bèn lấy lá nấu nước, uống thử, thấy nước có vị hơi đắng và chát nhưng hậu ngọt. Uống vào một lát sau thấy người khoẻ khoắn. Từ đó người ta t́m ra được một thức uống mới và mỗi ngày một cố gắng cải tiến để trà uống được ngon hơn.

Trà uống có nhiều cách. Có người tính t́nh giản dị, đun nước cho sôi, bỏ trà vào b́nh rồi châm nước vào đợi một lúc cho ra trà, rót vào chén lớn uống ừng ực đến đă th́ thôi. Uống như vậy gọi là “ngưu ẩm.”

Có nhiều người cách uống cầu kỳ. Họ không nấu trà bằng nước mưa mà bằng nước giếng khơi ở trên núi hoặc bằng nước suối. Các cụ bảo: “Tuyền dĩ trà vi hữu.” Suối là bạn của trà. C̣n nước giếng th́ phải trong, ngọt và không có phèn.

Bậc vua chúa uống trà c̣n cầu kỳ hơn nữa. Mỗi sáng các cung phi ra vườn, hứng những giọt sương đêm đọng trên lá sen rồi đem đước đun sôi trên cái ḷ than nhỏ. Than phải đốt đến lúc đỏ rực để không c̣n khói mới bắc ấm nước lên. Nước sôi, châm nước vào cái b́nh bằng đất nung màu đồng vỏ cua để tráng ấm. Rồi mới châm nước vào trà. Nước đầu tiên cốt để rửa trà cho sạch, gọi là nước Khất Cái. Kế đó châm nước lần thứ hai, đậy nắp b́nh lại giữ nóng cho ra trà. Nước nầy gọi là nước Hoàng đế. Xong đổ ra chén tống rồi chuyển sang chén quân, mới uống.

Loại b́nh trà tốt có màu như gan gà. Thứ nhứt Thế Đức gan gà, thứ nh́ Lưu Bội thứ ba Mạnh Thần.

Uống trà phải uống thong thả để tận hưởng hương vị trà. Nhiều người chỉ uống một ḿnh vào buổi sáng tinh mơ, vừa uống vừa suy nghĩ chuyện đời.

Uống như vậy gọi là độc ẩm. Nếu có thêm một tri kỷ ngồi uống với ḿnh gọi là đối ẩm.

Trà có nhiều loại không sao biết hết. Loại trà Bạch Mao Hầu, trà Thiết Quan Âm, trà Trảm M. thường thấy ở Việt Nam . Vùng Thái Hồ, huyện Bích La bên Tàu có trà Bích La Xuân nước trà màu xanh biếc, rất thơm có vị đắng nhưng hậu ngọt. Vùng Vân Nam có thứ sơn trà danh tiếng được mệnh danh là Điền Trà, màu vàng sậm. đắt tiền nhất là trà Mạn Đà. Trà nầy chỉ có bậc vua chúa hoặc rất giàu có mới dùng nổi. Ngoài ra c̣n trà Mạn Nguyệt, trà Hồng Trang Tố Lữ, trà Thập Bát Học Sĩ có mười tám bông màu sắc đều khác nhau. Trà Phong Trấn Tam Hiệp có ba bông. Trà Nhị Kiều có hai bông và c̣n nhiều nữa.

Người Tàu và người Việt Nam , không ai không biết uống trà. Miếng trà đậm đà câu chuyện. Có lẽ v́ vậy, mỗi lần khách đến, chủ nhà vội vàng nấu nước pha trà ngay. Có một ông khách đến thăm ngay lúc nhà bà bạn đang sửa ống nước. Ống nước chính dẫn vào nhà bị khoá. Trong nhà không c̣n nước để nấu trà. Bà chủ hoảng quá, chạy vội vào pḥng tắm vét hết số nước c̣n lại trong một cái xô” đem nấu trà đăi khách. Khi khách uống, bỗng thấy ở cổ vương vướng một vật ǵ, cố gắng khạc ra th́ là một sợi lông. Ông khách là người thiếu tế nhị, đưa sợi lông ra hỏi: “Sao trong trà lại có lông?” Bà chủ nhà đỏ mặt, ấp úng đáp: “Thưa, đó là trà Ô Long.” Ông khách thầm nghĩ Ô Long là con rồng đen đâu phải sợi lông đen nhưng ông khách im lặng. Lúc ra về ông ghé qua khắp các tiệm trà trong phố, hỏi xem th́ không có loại trà nào là Ô Lông cả..

C̣n một thứ trà rất rẻ tiền, người nghèo cũng có thể uống được. Hương trà rất thơm ngon, tên là trà Thái Đức. Uống vào thức đái suốt đêm.

II- MỘT RƯỢU:

Rượu chữ nho gọi là tửu. “ Nam vô tửu như kỳ vô phong.” Cờ không gặp gió, lá cờ rũ xuống, xem chẳng oai hùng chút nào đàn ông thiếu rượu, giống như lá cờ rũ, kim đồng hồ thường chỉ sáu giờ, trông phát nản.

Rượu cất bằng gạo nếp, nấu xong, dùng men ủ, vài ngày sau mới đem ra cất. Rượu ngon hay dở c̣n tuỳ vào bí quyết và kinh nghiệm nấu. Rượu là lộc Trời cho.

Bậc vua chúa ngày xưa, đă biết dùng rượu để di dưỡng thiên hạ, dùng vào việc tế Trời, lễ đất, cầu phúc, cầu lợi. Vô tửu bất thành lễ.

Các bậc thánh nhân ngày xưa không ai không uống rượu. Lưu Bang Hán Cao Tổ nhân lúc rượu say, cầm gươm chém rắn bạch, khởi nghĩa, lập nên cơ đồ nhà Hán. Phàn Khoái dự tiệc Hồng Môn Phàn, lấy cao cắt thịt, uống rượu, thi đua múa gươm, mưu đồ đại sự. Khổng Tử lúc hứng uống cả ngàn chung. Tử Lộ uống như hũ ch́m. Lă Bạch càng uống, làm thơ càng hay. Nhiều người không quen mùi rượu, đọc xong thơ của Lă Bạch cũng lăn quay ra say khước. Một lần Kinh Kha rượu đă ngà ngà, uống thêm một chén rượu tiễn đưa, rút gươm chỉ xuống ḍng sông Dịch chửi thề: - Mẹ kiếp! Chuyến nầy không thành công th́ ông đíu thèm qua sông nầy nữa.

Và lần đó Kinh Kha đă hát bài nhạc Pháp “Aller Sans Retour,” mua tấm vé tàu suốt rong chơi miền tiên cảnh.

Người tài hoa phải biết đủ cầm, kỳ, thi, hoạ, nhưng chưa sành sọi về rượu th́ chưa trọn vẹn. Người sành rượu không phải chỉ biết vị, biết hương của rượu mà c̣n phải nhập vào linh hồn của rượu nữa.

Rượu giúp con người thêm can đảm. Nếu không say rượu th́ có cho kẹo, Lưu Bang cũng không khi nào dám chơi dại cầm gươm chém rắn. Chỉ nhờ lúc có rượu làm liều mà dựng nên sự nghiệp. Rượu gây thêm hào hứng cho kẻ anh hùng đàn ông có rượu vào, khí thế oai minh, thái độ hùng dũng như cờ gặp gió, như lân gặp pháo.

Thứ nhất rượu đă ngà ngà,
Thứ nh́ chàng ở phương xa mới về.

Chàng ở phương xa mới về th́ phải biết đá liên tu bất tận nhưng nói nào ngay đá chẳng được bền. C̣n rượu đă ngà ngà th́ không thể chê vào đâu được đá mạnh, đá bền bĩ, đá đến lúc các bà ngả nón chào thua mới thôi.

Lờ rằng lờ chẳng sợ ai
Sợ thằng say rượu ấy dai đau lờ.

Đấy, thằng say rượu nó hung hăng đến như thế. V́ vậy các bà có kinh nghiệm sống lại thích có một ông chồng say.

Thấy chồng đôi ba ngày không uống rượu th́ t́m cách làm thức ăn ngon bày ra trước mắt. Dân nhậu thấy thức ăn ngon th́ chém chết cũng đ̣i rượu mà đ̣i rượu coi như sụp bẫy các bà.

Đốt than nướng cá cho vàng
Lấy tiền mua rượu cho chàng nhậu chơi.

Dân nhậu có tính thảo ăn. Có thức ăn ngon th́ nghĩ ngay đến bạn hiền. Nếu trong ḷng tâm sự đa mang, có được người bạn hiền để chén chú, chén anh, nỉ non tâm sự th́ c̣n ǵ bằng:

Một ly nhâm nhi t́nh bạn
Hai ly uống cạn ḷng sầu
Ba ly mũi chảy tới râu
Bốn ly ngồi đâu gục đó
Năm ly cho chó ăn chè
Sáu ly vợ đè cạo gió.

Giai thoại về rượu rất nhiều, không sao kể xiết. Mỗi quốc gia có vài thứ rượu đặc biệt. Rượu Pháp nổi tiếng nhất thế giới như rượu vang Champagne . Ai cũng biết Champange là loại rượu sủi bọt (Sparkling wine) thường dùng trong các cuộc vui như đám cưới, sinh nhật v...v... Napoléon, Hoàng đế nước Pháp đă nói một câu để đời về rượu Champange:

- Khi thắng trận ta uống Champange để mừng chiến thắng.

- Khi bại trận ta càng cần phải uống Champange để giải sầu.

Nho để làm rượu Champange phải là loại Chardonnay (chát trắng) và loại Pinot noir (chát đỏ) của vùng Bourgonge mới số dzách. Mở Champagne cũng là một nghệ thuật. Mở thế nào cho rượu nổ một tiếng pop khá lớn mà rượu không vọt ra ngoài do áp suất của khí carbonique trong chai. Lan man về Champange đă hơi nhiều, người viết xin nói tiếp về rượu Pháp. Ngoài Champange c̣n rượu khai vị như Cointreau, Grand Marnier, rượu mạnh có Martell, Hennessy, Courvoisier, Remy Martin, thứ nào cũng hết xảy nhưng phải loại XO mới tuyệt cú mèo. Đó là rượu Tây.

Người Tàu coi trọng vấn đề ăn uống. Gặp nhau câu hỏi đầu tiên là: - Lứ chía pừng bị? hay Nị xực phàn m.? hoặc Nị sứ phán mĩ dầu? có nghĩa là Anh ăn cơm chưa? V́ quí trọng miếng ăn nên người Tàu chủ trương miếng ăn, thức uống phải ngon và bổ nên người Tàu nghĩ ra rượu thuốc như: Nhứt dạ lục giao sinh ngũ quỷ. Một đêm lâm trận với sáu bà sinh ra năm thằng quỷ sống, hoặc nhứt long quần ngũ hổ, một con rồng quần với năm chị cọp cái.

Ngoài ra c̣n Mai Quế Lộ, Ngũ Gia B́. Thứ nào cũng cường dương, cũng số dzách.

Nhật bản có Sa-kê. Nga có Vodka, Việt Nam có Whiskyson. Nói lái hai âm ky-song là công xi Rượu công xi Bạc Liêu th́ hết xảy. Rượu đế Phước Long rất nổi tiếng. Chất rượu trong như nước mưa, rót ra, bọt nổi ṿng quanh miệng ly, uống vào nóng muốn cháy cổ. Thở ra nếu ngồi gần vách lá có thể làm cháy nhà như chơi. Ngoài ra c̣n rượu B́nh tây, rượu nếp than. Sau năm 1975 , Việt Cộng mang vào Nam loại rượu cà-phê, rượu chanh, uống như đồ bỏ.

Tôi có một người bạn là Công tử Bạc Liêu, tự pha chế một loại rượu thuốc và đặt tên là Phu ẩm phụ hoà hài tửu. có nghĩa là rượu chồng uống vợ khen. Nếu có văn thi hữu nào viếng nhà Công tử Bạc-liêu, nếm thử vài chung xem đức phu nhân có khen không cho biết.

Rượu ngon, thức nhấm ngon, chỗ ngồi nhậu thoải mái, lại có thêm bạn hiền th́ uống ngàn chung cũng c̣n quá ít.

“Rượu ngon không có bạn hiền,
Không mua là tại không tiền không mua.”

III- MỘT ĐÀN BÀ:

Như trên đă nói, thời tiết có bốn mùa, con người có tứ khoái. Người ta thắc mắc không hiểu tại sao cái khoái thứ ba thường làm người ta điên đảo thần hồn, khốn khổ đến chết lên chết xuống mà vẫn muốn t́m hưởng cho bằng được lại bị xếp vào hàng thứ ba, sau ăn và ngủ? Thật ra cũng chẳng khó khăn ǵ để thắt mắc. Ca dao có câu:

C̣n ăn, c̣n ngủ, c̣n gân,
Hết ăn, hết ngủ, có mần được chi?

Ăn không được, ngủ không được làm ǵ có xí quách mà hưởng cái khoái thứ ba. Ăn không được th́ thác, ngủ không được cũng đi đong. Không hưởng được cái khoái thứ ba tuy có buồn nhưng vẫn sống phây phây, lại không bị đau lưng nhức mỏi. Con người vốn yếu đuối, thường làm nô lệ cho thói quen. Nghiện rượu, nghiện trà muốn bỏ không phải chuyện dễ nhưng theo cụ Tú Xương nghiện rượu, trà ǵ cũng có thể bỏ được, c̣n món đàn bà th́ vô phương: Hoạ chăng chừa rượu với chừa trà. Thế mới biết món đàn bà khó mà thiếu được.

Trà, rượu là sản phẩm của con người. Đàn bà là tác phẩm của Thượng Đế: Giê-hô-va, Đức Chúa Trời làm cho Adam ngủ mê bèn lấy xương sườn rồi lắp thịt thế vào. Giê-hô-va Đức Chúa Trời dùng xương sườn đă lấy nơi Adam làm nên một người nữ, đưa đến cùng Adam. (Sáng Thế K. 2: 21, 22.)

Từ lúc Adam có thêm bà Eve để đêm đêm đem gà ra chọi chơi cho đỡ buồn th́ bao nhiêu chuyện khốn nạn xảy ra cho Adam và cũng từ đó bọn đàn ông thất điên bát đảo luôn cho tới bây giờ. Thế mà cũng không ai tởn.

Nh́n lại đời xưa, nụ cười của Đắc Kỷ làm sụp đổ nhà Thương, Bao Tự làm tiêu tan nhà Chu , Dương Quí Phi chỉ mỉm cười cũng đủ làm Đường Huyền Tôn són đái đó là chuyện xưa.

C̣n ngày nay, xếp Edward Kennedy cũng v́ nàng Mary Jo mà thân bại danh liệt. Chú nhỏ Gary Hart cũng v́ cái “ lima ” của chị Donna Rice mà tiêu tùng sự nghiệp. Cả đến các bậc tu hành Jim Baker, Oral Robert, Marvin Gorman và Jimmy Swaggart cũng v́ “cái sự đời” mà sự nghiệp tiêu ma. Thế mới biết, cổ nhân ngày xưa đă nói: Sắc bất ba đào dị nịch nhân. Nhan sắc đàn bà không có sóng mà đánh ch́m được con người.

Nhưng cứ đem đàn bà ra tố khổ là điều bất công. Đàn bà cũng trăm thứ đàn bà. Đàn bà của cụ Tú Xương thuộc loại:

“Đàn bà lặn lội bờ sông. Gánh gạo nuôi chồng, tiếng khóc nỉ non” nên Tú Xương không bỏ được, lại c̣n được sống trong chế độ ba nuôi:

Nhỏ cha mẹ nuôi, lớn vợ nuôi, già con nuôi.

“Nhỏ th́ nhờ mẹ nhờ cha,
Lớn lên nhờ vợ về già nhờ con.”

Đàn bà như vậy ngu sao mà bỏ. Cái đau là gặp phải loại đàn bà cột t́m trâu, tối ngày ṃ tới đàn ông, chằn ăn, trăn quấn:

“Chữ trinh đáng giá ngàn vàng
Từ anh chồng cũ đến chàng là năm
C̣n như yêu vụng nhớ thầm
Họp chợ trên bụng có trăm con người.”

Gặp loại đàn bà như vậy mà vẫn không sao bỏ được mới là tai hoạ. Đời sống tị nạn gặp phải cảnh gái thiếu trai thừa, cộng thêm cái hoạ là phong tục xứ người nữ trọng nam khinh. Lộ tŕnh của các ông cứ dần dần đi xuống cực tiểu, trong khi lộ tŕnh của các bà thênh thang như xa lộ không đèn.

Nếu may mắn chớp được một bà dù đẹp, dù xấu, dù hư, dù nên chắc cũng phải khư khư giữ lấy và cũng bắt chước cụ Tú Xương mà ngâm nga:

Hoạ chăng chừa rượu với chừa trà.

QUÁCH TỐ VƯƠNG
Attached Thumbnails
Click image for larger version

Name:	image.jpg
Views:	0
Size:	108.1 KB
ID:	1362244  
hoanglan22_is_offline   Reply With Quote
Old 04-08-2019   #90
hoanglan22
hoanglan22's Avatar
 
R7 Tuyệt Đỉnh Cao Thủ
Join Date: Apr 2011
Posts: 5,908
Thanks: 3,711
Thanked 7,527 Times in 3,566 Posts
Mentioned: 47 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 2477 Post(s)
Rep Power: 15
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7hoanglan22 Reputation Uy Tín Level 7
Reputation: 23623
Default Nhà hàng khỏa thân ở Paris đóng cửa v́ thiếu khách hàng



Nhà hàng khỏa thân ở Paris đóng cửa v́ thiếu khách hàng

Hơn một năm sau khi khai trương, nhà hàng khỏa thân đầu tiên của Paris sẽ chuẩn bị đóng cửa vào tháng 2 do thiếu kinh doanh.

O’Naturel khai trương vào tháng 11 năm 2017 tại thành phố ánh sáng, một minh chứng cho sự phổ biến ngày càng tăng của chủ nghĩa tự nhiên ở Pháp.

Nhưng thật không may, nó đă không chứng minh được sự phổ biến như mong đợi, v́ các chủ nhà hàng vừa công bố ngày cuối cùng sẽ vào tháng tới.

"Thật tiếc nuối khi chúng tôi tuyên bố đóng cửa nhà hàng O'Naturel vào thứ Bảy, ngày 16 tháng 2 năm 2019", chủ nhà hàng 42 tuổi Mike và Stephane Saada, tuyên bố, trên The Local.

"Cảm ơn bạn đă tham gia vào cuộc phiêu lưu này bằng cách đến dùng bữa tại O'Naturel. Chúng tôi sẽ chỉ nhớ những khoảng thời gian tốt đẹp, gặp gỡ những người đẹp và khách hàng đă vui mừng chia sẻ những khoảnh khắc đặc biệt."

Khách sạn 40 chỗ ngồi trong pḥng kiểm tra quần áo trước khi được mang đến bàn của họ. Ở đó, họ có thể dùng bữa với giá cao cấp của Pháp, bao gồm vịt foie gras và escargot, hoàn toàn khỏa thân.

Tuy nhiên, nhân viên phục vụ và nhân viên nhà bếp vẫn mặc quần áo v́ lư do vệ sinh, cùng với bất kỳ thanh thiếu niên nào, phải có người lớn đi kèm.

Michelle Gant - BM
Attached Thumbnails
Click image for larger version

Name:	image (2).jpg
Views:	0
Size:	81.3 KB
ID:	1362263  
hoanglan22_is_offline   Reply With Quote
Reply
Page 9 of 12 « First 78 9 1011 Last »

User Tag List

Thread Tools

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is On


 
iPad Tablet Menu

Announcement

Breaking News

Society News

VietOversea

World News

Business News

Other News

History

Car News

Computer News

Game News

USA News

Mobile News

Music News

Movies News

Sport News

Stranger Stories

Comedy Stories

Cooking Chat

Nice Pictures

Fashion

School

Travelling

Funny Videos


Page generated in 0.21195 seconds with 13 queries