|
R11 Tuyệt Thế Thiên Hạ
Join Date: Aug 2007
Posts: 113,793
Thanks: 7,446
Thanked 47,186 Times in 13,138 Posts
Mentioned: 1 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 511 Post(s)
Rep Power: 162
|
Cảnh báo gia tăng các cơn đột quỵ “tĩnh mạch năo” hiếm gặp
BÍCH NGỌC22:23 19/11/2020
12 ’sát thủ’ hại thận có thể bạn chưa biết: 5 điều đầu tiên rất quen thuộcHiểm họa từ bức xạ điện thoại thông minh và thiết bị không dây
Hầu hết các cơn đột quỵ xảy ra khi một động mạch trong năo đột ngột bị tắc nghẽn, nhưng nghiên cứu mới cho thấy một nguyên nhân hiếm gặp hơn –*huyết khối*tĩnh mạch năo*(CVT) gây ra đột quỵ đang trở nên phổ biến hơn.
CVT xảy ra khi một tĩnh mạch trong năo bị tắc. Trong khi CVT được ước tính là nguyên nhân gây ra ít hơn 1% tổng số đột quỵ, các nhà khoa học phát hiện ra nó hiện đang trở nên phổ biến hơn…
Tác giả nghiên cứu, Tiến sĩ Fadar Otite, Đại học Y khoa SUNY Upstate ở Syracuse, NY và các đồng nghiệp đă nghiên cứu hồ sơ bệnh viện từ New York và Florida trong nhiều năm để t́m ra các trường hợp CVT xảy ra ở những bang này từ năm 2006 đến năm 2016.
Dựa trên dữ liệu phân tích, các nhà nghiên cứu ước tính rằng số trường hợp CVT ở Hoa Kỳ đă tăng từ khoảng 14 trường hợp / triệu, năm 2006 lên 20 trường hợp/ triệu vào năm 2014. TS Otite cho biết: Mặc dù tỷ lệ mắc bệnh CVT vẫn dưới 1% của tất cả các trường hợp đột quỵ, thậm chí trong suốt thời gian nghiên cứu, nhưng tỷ lệ mắc bệnh đă tăng 70% theo thời gian. Năm 2006, tỷ lệ tất cả các trường hợp đột quỵ CVT là 0,47%. Vào cuối nghiên cứu năm 2016, tỷ lệ này đă tăng lên 0,80%.
CVT gây ra các*cục máu đông*h́nh thành trong các tĩnh mạch của năo. Nếu cục máu đông h́nh thành ở một trong những tĩnh mạch này, nó có thể ṛ rỉ vào mô năo xung quanh và có thể gây đột quỵ.
Mặc dù CVT vẫn phổ biến nhất ở phụ nữ trẻ – khoảng 2/3 số ca nhập viện do CVT được đưa vào nghiên cứu là ở nữ – các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng số trường hợp mắc bệnh trong nhóm nhân khẩu học này không tăng trong thời gian 10 năm nghiên cứu. Thay vào đó, họ thấy sự gia tăng CVT ở nam giới và*phụ nữ lớn tuổi.
Các nhà nghiên cứu lưu ư rằng một số yếu tố có thể khiến một người có nguy cơ phát triển CVT cao hơn, bao gồm mang thai và uống thuốc tránh thai nội tiết tố. Điều này có thể là nguyên nhân khiến CVT phổ biến hơn ở phụ nữ trẻ. Nhiều yếu tố nguy cơ khác như: Rối loạn đông máu hoặc thuốc gây đông máu, mất nước nghiêm trọng, nhiễm trùng tai, mặt hoặc cổ, chấn thương đầu, béo ph́ và ung thư…
Video đang HOT
Điều quan trọng là các bác sĩ lâm sàng phải nhận thức được sự gia tăng của tỷ lệ mắc bệnh CVT v́ t́nh trạng này có thể dễ bị nhầm lẫn với một bệnh khác. Bệnh nhân bị CVT có thể có những phàn nàn không đặc hiệu như nhức đầu, mờ mắt hoặc co giật. TS Otite nói lưu ư.
Theo TS Otite, khoảng 3% bệnh nhân trong một nghiên cứu trước đây bị CVT và đến bệnh viện được chẩn đoán mắc bệnh khác. V́ vậy, điều quan trọng là phải nhận ra điều này ngay từ đầu, bởi v́ lần sau, t́nh trạng lâm sàng có thể tồi tệ hơn. CVT có thể được điều trị bằng thuốc làm loăng máu và giúp ngăn ngừa đông máu. CVT có thể không được kê đơn nếu t́nh trạng bệnh không được chẩn đoán chính xác.
Huyết khối tĩnh mạch năo: Bệnh nguy hiểm, cần phát hiện sớm
Huyết khối tĩnh mạch năo (HKTMN) là t́nh trạng tĩnh mạch năo và xoang tĩnh mạch năo bị tổn thương do h́nh thành cục máu đông hay c̣n gọi là huyết khối.
HKTMN có thể gây tắc nghẽn, ứ máu trong tĩnh mạch năo và dẫn đến xuất huyết mạch máu năo, sưng năo và có thể gây ra đột quỵ. Do đó, bệnh cần được chẩn đoán, phát hiện kịp thời để tránh biến chứng nguy hiểm.
Nguyên nhân gây HKTMN
Thông thường, tổn thương huyết khối trong mạch máu thường do xơ vữa động mạch gây ra. Tuy nhiên, đối với HKTMN, xơ vữa động mạch không phải là nguyên nhân gây ra t́nh trạng này. Cho đến nay, nguyên nhân gây HKTMN vẫn chưa được xác định chính xác.
Một số nghiên cứu cho thấy nguyên nhân gây HKTMN được phân thành 2 loại là do nhiễm trùng và không nhiễm trùng, cụ thể:
HKTMN do nhiễm trùng: viêm màng năo, viêm xoang chũm, viêm tai dẫn đến nhiễm trùng xoang chũm, nhiễm trùng tai, nhiễm trùng ổ mắt, là những nguyên nhân thường gặp làm h́nh thành cục máu đông trong tĩnh mạch năo;
HKTMN không do nhiễm trùng: các rối loạn đông máu như bệnh Thrombophilia do di truyền hoặc mắc phải, hoặc rối loạn tăng sinh tủy, bệnh lư ung thư, t́nh trạng mất nước, sử dụng thuốc tránh thai... là những nguyên nhân gây HKTMN. HKTMN thường gặp ở phụ nữ trẻ tuổi do mang thai, bệnh tạo keo, thời kỳ chu sinh.
Ngoài ra, các tai nạn làm chấn thương vùng đầu, phẫu thuật chọc ḍ tủy sống cũng có thể để lại biến chứng máu đông trong tĩnh mạch năo.
H́nh ảnh huyết khối tĩnh mạch năo.
Các yếu tố làm tăng nguy cơ HKTMN
HKTMN là bệnh hiếm gặp, tuy nhiên, những yếu tố sau làm tăng nguy cơ mắc bệnh như: Phụ nữ lạm dụng thuốc tránh thai hoặc các thuốc làm thay đổi nội tiết tố nữ estrogen. Phụ nữ mang thai hoặc trong thời kỳ chu sinh, giai đoạn hậu sản. Bị chấn thương, tổn thương vùng đầu do tai nạn hoặc phẫu thuật, điều trị. Các chứng rối loạn đông máu làm tắc nghẽn mạch máu, ứ đọng lưu thông máu, thay đổi thành phần máu có thể làm tăng nguy cơ HKTMN. Trẻ sơ sinh bị nhiễm trùng, đặc biệt là nhiễm trùng tai. Người lớn bị nhiễm trùng ở vùng mặt, tai, xoang, cổ họng. Mắc bệnh ung thư, khối u. Bị thừa cân, béo ph́ hoặc thiếu hụt protein.
Triệu chứng của HKTMN
HKTMN không có triệu chứng lâm sàng điển h́nh. Tùy vào vị trí h́nh thành cục máu đông, các biểu hiện bệnh sẽ khác nhau. Dưới đây là một số biểu hiện thường thấy của t́nh trạng tổn thương tĩnh mạch năo do huyết khối gây ra, được phân thành mức độ từ trung b́nh đến nghiêm trọng và nặng:
Trung b́nh:*Mờ mắt, buồn nôn, nôn, đau nhức đầu dữ dội.
Nghiêm trọng:*Rối loạn ngôn ngữ như nói ngọng, liệt nửa người, suy kiệt cơ thể, yếu người và không c̣n tỉnh táo.
Nặng:*Hạn chế vận động ở một số bộ phận trên cơ thể, co giật, ngất xỉu, hôn mê, thậm chí có thể tử vong.
Ngay khi nhận thấy các biểu hiện nghiêm trọng của HKTMN, người bệnh cần được đưa đi cấp cứu ngay lập tức, tránh biến chứng đáng tiếc.
Chẩn đoán HKTMN
Để chẩn đoán HKTMN, bác sĩ sẽ đánh giá các triệu chứng gặp phải cũng như bệnh sử cá nhân và gia đ́nh. Tuy nhiên, chẩn đoán cuối cùng phụ thuộc vào việc kiểm tra lưu thông máu trong năo. Để kiểm tra lưu lượng máu, bác sĩ có thể sử dụng các xét nghiệm h́nh ảnh để phát hiện cục máu đông và t́nh trạng sưng của bệnh nhân.
2 xét nghiệm h́nh ảnh tốt nhất để giúp phát hiện bệnh là: Chụp tĩnh mạch MRI (c̣n được gọi là MRV) là một xét nghiệm tạo ra h́nh ảnh của các mạch máu ở vùng đầu và cổ. Nó có thể giúp bác sĩ đánh giá lưu thông máu, các bất thường, đột quỵ hoặc chảy máu năo.
Trong phương pháp này, bác sĩ sẽ tiêm thuốc cản quang vào máu của bạn để có thể thấy rơ lưu lượng máu và giúp xác định xem máu có đông không; Chụp CT tĩnh mạch. Chụp CT sử dụng h́nh ảnh Xquang để cho bác sĩ xem xương và mạch máu.
Trong phương pháp này, bác sĩ cũng sẽ tiêm thuốc cản quang vào tĩnh mạch để tạo ra h́nh ảnh lưu thông máu giúp phát hiện đông máu.
Cảnh báo gia tăng các cơn đột quỵ “tĩnh mạch năo” hiếm gặp
BÍCH NGỌC22:23 19/11/2020
12 ’sát thủ’ hại thận có thể bạn chưa biết: 5 điều đầu tiên rất quen thuộcHiểm họa từ bức xạ điện thoại thông minh và thiết bị không dây
Hầu hết các cơn đột quỵ xảy ra khi một động mạch trong năo đột ngột bị tắc nghẽn, nhưng nghiên cứu mới cho thấy một nguyên nhân hiếm gặp hơn –*huyết khối*tĩnh mạch năo*(CVT) gây ra đột quỵ đang trở nên phổ biến hơn.
CVT xảy ra khi một tĩnh mạch trong năo bị tắc. Trong khi CVT được ước tính là nguyên nhân gây ra ít hơn 1% tổng số đột quỵ, các nhà khoa học phát hiện ra nó hiện đang trở nên phổ biến hơn…
Tác giả nghiên cứu, Tiến sĩ Fadar Otite, Đại học Y khoa SUNY Upstate ở Syracuse, NY và các đồng nghiệp đă nghiên cứu hồ sơ bệnh viện từ New York và Florida trong nhiều năm để t́m ra các trường hợp CVT xảy ra ở những bang này từ năm 2006 đến năm 2016.
Dựa trên dữ liệu phân tích, các nhà nghiên cứu ước tính rằng số trường hợp CVT ở Hoa Kỳ đă tăng từ khoảng 14 trường hợp / triệu, năm 2006 lên 20 trường hợp/ triệu vào năm 2014. TS Otite cho biết: Mặc dù tỷ lệ mắc bệnh CVT vẫn dưới 1% của tất cả các trường hợp đột quỵ, thậm chí trong suốt thời gian nghiên cứu, nhưng tỷ lệ mắc bệnh đă tăng 70% theo thời gian. Năm 2006, tỷ lệ tất cả các trường hợp đột quỵ CVT là 0,47%. Vào cuối nghiên cứu năm 2016, tỷ lệ này đă tăng lên 0,80%.
CVT gây ra các*cục máu đông*h́nh thành trong các tĩnh mạch của năo. Nếu cục máu đông h́nh thành ở một trong những tĩnh mạch này, nó có thể ṛ rỉ vào mô năo xung quanh và có thể gây đột quỵ.
Mặc dù CVT vẫn phổ biến nhất ở phụ nữ trẻ – khoảng 2/3 số ca nhập viện do CVT được đưa vào nghiên cứu là ở nữ – các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng số trường hợp mắc bệnh trong nhóm nhân khẩu học này không tăng trong thời gian 10 năm nghiên cứu. Thay vào đó, họ thấy sự gia tăng CVT ở nam giới và*phụ nữ lớn tuổi.
Các nhà nghiên cứu lưu ư rằng một số yếu tố có thể khiến một người có nguy cơ phát triển CVT cao hơn, bao gồm mang thai và uống thuốc tránh thai nội tiết tố. Điều này có thể là nguyên nhân khiến CVT phổ biến hơn ở phụ nữ trẻ. Nhiều yếu tố nguy cơ khác như: Rối loạn đông máu hoặc thuốc gây đông máu, mất nước nghiêm trọng, nhiễm trùng tai, mặt hoặc cổ, chấn thương đầu, béo ph́ và ung thư…
Video đang HOT
Điều quan trọng là các bác sĩ lâm sàng phải nhận thức được sự gia tăng của tỷ lệ mắc bệnh CVT v́ t́nh trạng này có thể dễ bị nhầm lẫn với một bệnh khác. Bệnh nhân bị CVT có thể có những phàn nàn không đặc hiệu như nhức đầu, mờ mắt hoặc co giật. TS Otite nói lưu ư.
Theo TS Otite, khoảng 3% bệnh nhân trong một nghiên cứu trước đây bị CVT và đến bệnh viện được chẩn đoán mắc bệnh khác. V́ vậy, điều quan trọng là phải nhận ra điều này ngay từ đầu, bởi v́ lần sau, t́nh trạng lâm sàng có thể tồi tệ hơn. CVT có thể được điều trị bằng thuốc làm loăng máu và giúp ngăn ngừa đông máu. CVT có thể không được kê đơn nếu t́nh trạng bệnh không được chẩn đoán chính xác.
Huyết khối tĩnh mạch năo: Bệnh nguy hiểm, cần phát hiện sớm
Huyết khối tĩnh mạch năo (HKTMN) là t́nh trạng tĩnh mạch năo và xoang tĩnh mạch năo bị tổn thương do h́nh thành cục máu đông hay c̣n gọi là huyết khối.
HKTMN có thể gây tắc nghẽn, ứ máu trong tĩnh mạch năo và dẫn đến xuất huyết mạch máu năo, sưng năo và có thể gây ra đột quỵ. Do đó, bệnh cần được chẩn đoán, phát hiện kịp thời để tránh biến chứng nguy hiểm.
Nguyên nhân gây HKTMN
Thông thường, tổn thương huyết khối trong mạch máu thường do xơ vữa động mạch gây ra. Tuy nhiên, đối với HKTMN, xơ vữa động mạch không phải là nguyên nhân gây ra t́nh trạng này. Cho đến nay, nguyên nhân gây HKTMN vẫn chưa được xác định chính xác.
Một số nghiên cứu cho thấy nguyên nhân gây HKTMN được phân thành 2 loại là do nhiễm trùng và không nhiễm trùng, cụ thể:
HKTMN do nhiễm trùng: viêm màng năo, viêm xoang chũm, viêm tai dẫn đến nhiễm trùng xoang chũm, nhiễm trùng tai, nhiễm trùng ổ mắt, là những nguyên nhân thường gặp làm h́nh thành cục máu đông trong tĩnh mạch năo;
HKTMN không do nhiễm trùng: các rối loạn đông máu như bệnh Thrombophilia do di truyền hoặc mắc phải, hoặc rối loạn tăng sinh tủy, bệnh lư ung thư, t́nh trạng mất nước, sử dụng thuốc tránh thai... là những nguyên nhân gây HKTMN. HKTMN thường gặp ở phụ nữ trẻ tuổi do mang thai, bệnh tạo keo, thời kỳ chu sinh.
Ngoài ra, các tai nạn làm chấn thương vùng đầu, phẫu thuật chọc ḍ tủy sống cũng có thể để lại biến chứng máu đông trong tĩnh mạch năo.
H́nh ảnh huyết khối tĩnh mạch năo.
Các yếu tố làm tăng nguy cơ HKTMN
HKTMN là bệnh hiếm gặp, tuy nhiên, những yếu tố sau làm tăng nguy cơ mắc bệnh như: Phụ nữ lạm dụng thuốc tránh thai hoặc các thuốc làm thay đổi nội tiết tố nữ estrogen. Phụ nữ mang thai hoặc trong thời kỳ chu sinh, giai đoạn hậu sản. Bị chấn thương, tổn thương vùng đầu do tai nạn hoặc phẫu thuật, điều trị. Các chứng rối loạn đông máu làm tắc nghẽn mạch máu, ứ đọng lưu thông máu, thay đổi thành phần máu có thể làm tăng nguy cơ HKTMN. Trẻ sơ sinh bị nhiễm trùng, đặc biệt là nhiễm trùng tai. Người lớn bị nhiễm trùng ở vùng mặt, tai, xoang, cổ họng. Mắc bệnh ung thư, khối u. Bị thừa cân, béo ph́ hoặc thiếu hụt protein.
Triệu chứng của HKTMN
HKTMN không có triệu chứng lâm sàng điển h́nh. Tùy vào vị trí h́nh thành cục máu đông, các biểu hiện bệnh sẽ khác nhau. Dưới đây là một số biểu hiện thường thấy của t́nh trạng tổn thương tĩnh mạch năo do huyết khối gây ra, được phân thành mức độ từ trung b́nh đến nghiêm trọng và nặng:
Trung b́nh:*Mờ mắt, buồn nôn, nôn, đau nhức đầu dữ dội.
Nghiêm trọng:*Rối loạn ngôn ngữ như nói ngọng, liệt nửa người, suy kiệt cơ thể, yếu người và không c̣n tỉnh táo.
Nặng:*Hạn chế vận động ở một số bộ phận trên cơ thể, co giật, ngất xỉu, hôn mê, thậm chí có thể tử vong.
Ngay khi nhận thấy các biểu hiện nghiêm trọng của HKTMN, người bệnh cần được đưa đi cấp cứu ngay lập tức, tránh biến chứng đáng tiếc.
Chẩn đoán HKTMN
Để chẩn đoán HKTMN, bác sĩ sẽ đánh giá các triệu chứng gặp phải cũng như bệnh sử cá nhân và gia đ́nh. Tuy nhiên, chẩn đoán cuối cùng phụ thuộc vào việc kiểm tra lưu thông máu trong năo. Để kiểm tra lưu lượng máu, bác sĩ có thể sử dụng các xét nghiệm h́nh ảnh để phát hiện cục máu đông và t́nh trạng sưng của bệnh nhân.
2 xét nghiệm h́nh ảnh tốt nhất để giúp phát hiện bệnh là: Chụp tĩnh mạch MRI (c̣n được gọi là MRV) là một xét nghiệm tạo ra h́nh ảnh của các mạch máu ở vùng đầu và cổ. Nó có thể giúp bác sĩ đánh giá lưu thông máu, các bất thường, đột quỵ hoặc chảy máu năo.
Trong phương pháp này, bác sĩ sẽ tiêm thuốc cản quang vào máu của bạn để có thể thấy rơ lưu lượng máu và giúp xác định xem máu có đông không; Chụp CT tĩnh mạch. Chụp CT sử dụng h́nh ảnh Xquang để cho bác sĩ xem xương và mạch máu.
Trong phương pháp này, bác sĩ cũng sẽ tiêm thuốc cản quang vào tĩnh mạch để tạo ra h́nh ảnh lưu thông máu giúp phát hiện đông máu.
HKTMN là bệnh lư hiếm gặp nhưng nghiêm trọng, người bệnh cần được phát hiện, theo dơi để kịp thời điều trị, xử trí biến chứng gây nguy hiểm đến tính mạng.
HKTMN là bệnh lư hiếm gặp nhưng nghiêm trọng, người bệnh cần được phát hiện, theo dơi để kịp thời điều trị, xử trí biến chứng gây nguy hiểm đến tính mạng.
|