|
R11 Tuyệt Thế Thiên Hạ
Join Date: May 2007
Posts: 138,750
Thanks: 9
Thanked 6,560 Times in 5,506 Posts
Mentioned: 3 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 38 Post(s)
Rep Power: 174
|
Các việc này đă được ghi nhận trong bản tường tŕnh của một nhân vật có trách nhiệm về Sở Địa Dư Đông-Dương (SGI) năm 1948 (vẫn c̣n xếp vào loại mật) ghi lại sau đây [3]:
« J’ai l’honneur de vous adresser une note sur la délimitation et l’abornement de la frontière entre l’Indochine et la Chine, avec une copie de la lettre de présentation à la Direction des Archives à qui je demande quelque secours.
A mon arrivée en Juin 1946, j’ai trouvé au Service Geographique de l’Indochine un grand desordre dans les archives techniques. Les évènements de 1945 en sont moins la cause que la crise de 1932 qui a fait supprimer une grande partie du personnel du Service Geographique de l’Indochine, à partir de ce moment ces archives ont été pratiquement abandonnées a elles-mêmes. Deux déménagements successifs: Hanoi-Gia Dinh-Dalat ont encore aggrave la situation. »
Tạm dịch : « Tôi kính gởi đến quí ông một ghi nhận về việc phân định và việc phân giới đường biên giới giữa Đông Dương và Trung Hoa, với một bản sao lá thư giới thiệu đến ban trách nhiệm Văn Khố mà tôi đă xin quí vị nầy một vài giúp đỡ.
Khi tôi đến đây vào tháng 6 năm 1946, thấy rằng văn khố tại Sở Địa Dư Đông Dương vô cùng bề bộn. Biến cố 1945 là nguyên nhân nhưng ít trầm trọng hơn cuộc khủng hoảng 1932 đă băi bỏ một số lớn nhân viên của sở SGI. Từ lúc đó hồ sơ lưu trữ tại đây đă bị bỏ quên. Hai cuộc dời chỗ liên tiếp : Hà Nội – Gia Định – Đà Lạt càng làm cho t́nh trạng thêm bi đát. »
Điều nầy cho thấy những hồ sơ liên-quan đến biên giới Việt Trung đă có những thất thoát quan trọng.
Tuy nhiên, vẫn c̣n một số dữ kiện sưu tập được, ghi lại qua hồ sơ của Cảnh Sát Biên Giới (Police Frontière). Theo đó cho thấy đường rằng biên giới bị thay đổi tại vài nơi. Hai bên Pháp và Trung Hoa có làm biên bản và đă thỏa thuận với nhau ở các việc thay đổi nầy (thí dụ việc cắm thêm cột mốc 14 bis năm 1937).
Do đó, mặc dầu thiếu sót về dữ kiện từ 1954 tới nay, ta vẫn tạm thời có thể dựa lên các hồ sơ đó để làm căn bản cho một khuynh hướng về việc nên hay không phân định lại đường biên giới.
Việc nghiêm trọng và tệ hại nhất đă xảy ra làm thay đổi đường biên giới, qua các hồ sơ t́m thấy, là do việc nhiều cột mốc biên giới không c̣n ở đúng vị trí ban đầu. Hồ sơ lưu lại không t́m thấy những dấu vết điều chỉnh lại vị trí các cột mốc đă dời đi. Điều nầy có nghĩa là các Công Ước về biên giới 1887, 1895 không những không được tôn trọng mà c̣n vi phạm nặng nề.
Bản báo cáo mật ghi trên kết luận :
« Si maintenant l’on compare le document de 1893 au 1/100.000 à la carte régulière à la même échelle faite 10 ou 11 ans plus tard, on constate que les deux documents ne sont pas superposable. Ceci n’est pas surprenant, mais ce qui l’est, c’est que le tracé de la frontière et l’emplacement des bornes ne concorde pas toujours. On a aucun moyen d’expliquer ces différences. »
Tạm dịch : « Nếu người ta so sánh bản đồ 1/100.000 vẽ năm 1893 với bản đồ cùng tỉ lệ 10 hay 11 năm sau th́ thấy rằng hai bản đồ đó không chồng lên được với nhau. Việc nầy không lạ nhưng điều đáng ngạc nhiên là vị trí cột mốc không c̣n trùng hợp. Người ta không có phương tiện nào để làm sáng tỏ việc này ».
Vùng biên giới Quảng Tây, nhân viên sở SGI cũng nh́n thấy khuyết điểm của biên bản cắm mốc của Đại Tá Galliéni. Phần Đông Quảng Tây, các cột mốc thiếu phần ghi chú vị trí v́ lư do biên bản của ông Frandin đă không t́m thấy. (Biên bản cắm mốc của Frandin đă được tác giả t́m thấy trong hồ sơ phân định biên giới CAOM, có chụp h́nh đăng lại ở chương 3).
Ngày 15 đến ngày 30 tháng 6 năm 1914, trong dịp kiểm soát các cột mốc vùng Lạng Sơn[4], bản báo cáo về vị trí các cột mốc ghi lại như sau:
4 cột mốc ghi trên bản đồ nhưng không thấy trên thực địa.
6 cột mốc có trên thực địa nhưng không có trên bản đồ.
7 cột ở đúng vị trí trên bản đồ nhưng không đúng số đă ghi.
21 cột mốc chính xác.
5 cột mốc không ghi số đă t́m thấy.
Có lẽ các cột mốc nầy hiện hữu trước năm 1886 (tức các mốc lịch sử đă được hai bên Việt-Trung cắm).
Vùng biên giới Vân Nam, từ Sông Hồng đến biên giới Quảng Tây, được phân giới và cắm mốc rơ ràng. Nhưng phía hữu ngạn sông Hồng th́ hoàn toàn mù mờ. Từ sông Hồng đến sông Đà thuộc đoạn thứ 5, không cắm mốc nào. Đoạn nầy chỉ được phân định năm 1887 trên bản đồ, bằng những đường nối các điểm mà các điểm nầy chưa chắc đă hiện hữu.
Xin ghi lại một đoạn trích trích tài liệu « Historique d’apres le rapport de M. DUREAU de VAULCOMTE, député, fait au nom de la Commission parlementaire chargée d’examiner la convention du 26 juin 1887 relative à la frontière – Câu chuyện qua tờ tŕnh của ông Dân Biểu DUREAU de VAULCOMTE, thực hiện nhân danh Ủy Ban Quốc Hội khảo xét Công Ước biên giới ngày 26 tháng 6 năm 1887 ». Báo cáo này cho ta có cái nh́n về giá trị công tŕnh phân định 1887:
« Nous possedons une feuille d’une de ces cartes, plus exactement une reproduction d’une copie conforme. On y trouve les indications suivantes: Cinquieme section de la frontiere. Echelle 1/24000. Signe: Constans, Prince King Soung.
Les seuls noms identifiables sont: Riviere Noire, Lai-Chau, Phong To; tous les autres sont chinois; il s’agit donc bien d’une carte chinoise. La frontiere est marquee d’un trait ponctue de lettres A a E; elle correspond exactement au descriptif de la convention. Cette carte n’est qu’un croquis tres mal dessine, etabli de chic, sans mesures faites sur le terrain. Elle ne ressemble que de tres loin a la carte reguliere faite ulterieurement. Sauf au depart du Fleuve Rouge, la frontiere tracee sur ce croquis n’a aucun rapport avec la frontiere actuelle. C’est celle du Vice-Roi.
En somme, deux ans apres la signature du traite de paix, on avait tout juste reconnu 120 kilometres de frontiere; tout le reste, plus de 1,000 kilometres figurait sur des cartes fantaisistes. La Convention n’etait pratiquement qu’un chiffon de papier et tout restait a faire. »
Tạm dịch như sau : « Chúng tôi có một tấm trong nhiều tấm bản đồ đó, đúng hơn là một bản sao y bản chánh. Ta thấy trong đó những dấu hiệu sau đây : Vùng thứ 5 của đường biên giới. Tỉ lệ 1/24.000. Kư tên Constans, Prince King Soung.
Các tên nhận diện được là: Sông Đà, Lai Châu, Phong Thổ; tất cả những tên khác là chữ Tàu; như vậy đúng đây là một bản đồ của Tàu. Đường biên giới được vạch bằng một đường nối các chữ A đến E. Phù hợp hoàn toàn với các điểm mô tả trong công ước. Tấm bản đồ này chỉ là một sơ đồ vẽ rất sai, lập nên do sự khéo tay, không hề dựa lên những đo đạc trên thực địa. Nó không giống một tí nào bản đồ thông thường vẽ sau này. Ngoại trừ khởi điểm của sông Hồng, đường biên giới vẽ trên sơ đồ này không có một tương quan nào với đường biên giới hiện nay. Đây là bản đồ của Tổng Đốc (Vân Nam).
Kết cuộc, hai năm sau khi kư hiệp ước ḥa b́nh, người ta chỉ biết có 120 Km đường biên giới; phần c̣n lại, hơn 1.200 Km vẽ trên các bản đồ vô căn cứ. Công ước trên thực tế chỉ là một mảnh giấy vụn và tất cả đều phải làm lại. »
phandinh
H́nh trên : Bản đồ phân định 1887 vùng biên giới Vân Nam.
Đoạn 5 được phân định lại năm 1895 (xem chương 4) và toàn vùng biên giới nầy chỉ cắm có 4 cột mốc.
Một bản tường tŕnh khác, cũng của nhân viên SGI, ghi :
« En face d’une Chine anarchique et impuissante tout specialement en 1900 (Boxers – siège des légations, etc.) des initiatives individuelles de Chefs de Postes ou de leurs administres avaient beau jeu. Peut-être pourrait-on leur attribuer cette pérégrination des bornes qui s’étend presque à la totalité de la frontière du Kouang Si – de nôtre côte Province à Lang Son et deuxième territoire militaire. Toutefois cette explication entraine un nouveau mystère: quelle peut être la raison de ces pérégrination (sic)? En principe ce nouveau système d’abornement devrait constituer une amélioration du premier. Or l’examen des cartes montre qu’il n’en est rien. Par example au Nord de Chi-Ma, la commission Gallieni avait placé la borne 40 dans un col au bord d’une piste; les bornes 39 et 41 l’encadraient a environ trois kilomètres. Sur le 1/100.000, vérifié en 1914, ces deux bornes se sont rapprochées a 100m de la borne 40 et le No. 42 en est a 600m, de sorte qu’entre 42 et 43, il y a un trou de pres de 10 km d’une frontière très sinueuse. »
Tạm dịch như sau : « Đối diện với một nước Trung Hoa hỗn loạn và bất lực , đặc biệt vào năm 1900 (vụ Boxers tức khởi nghĩa Nghĩa Ḥa Đoàn, bao vây sứ quán v.v.. ) những hành động cá nhân của các trưởng trạm hay của các nhân viên th́ rất tự tiện. Người ta có thể qui trách cho họ về việc “viễn du” của các cột mốc, trải dài hết cả biên giới Quảng Tây, từ bờ biển cho đến Lạng Sơn, qua vùng 2 Quân-Sự . Nhưng sự giải thích nầy đem đến một bí ẩn mới: Lư do nào dẫn đến việc viễn du (sic) nầy ? Thông thường th́ việc phân giới và cắm mốc lần sau cùng sẽ bổ khuyết cho lần phân giới trước. Nhưng khi khảo sát bản đồ th́ việc nầy không đúng. Thí dụ phía bắc Chí Mă, phái đoàn Gallieni đă cắm cột mốc số 40 trên một cái đèo, bên lề một đường ṃn; các cột số 39 và 41 bao bọc cột này cách khoảng 3 Km. Trên bản đồ 1/100.000, kiểm lại năm 1914, hai cột nầy xít lại cột 40 khoảng 100 m và cột số 42 khoảng 600m, kết quả là giữa hai cột 42 và 43, có một lỗ hổng 10 Km trên một đường biên giới ngoằn ngoèo ».
Như thế, ta thấy từ vùng Lạng Sơn ra đến biển, hầu như toàn bộ cột mốc đă bị thay đổi vị trí từ những năm 1900.
Mặc khác, theo những biên bản ghi lại vị trí các cột mốc, một số lớn đă không xác định rơ rệt. Một vài thí dụ :
Cột số 1 : giao điểm giữa sông Thiên Hà với con đường từ Cúc Phương đến Lăo Ao Trang, dưới chân một cụm núi chắn ngang.
Cột số 2 : trên đường từ Long Ba Mỹ (龍波美) đến Bạch Thạch Nhai (白石崖).
Cột số 3 : ở một cái đèo, trên đường từ Nam Trại (南寨) đến Giáp Mă Thạch (夾馬石).
Cột số 4 : ở một cái đèo, trên đường từ Nam Trại (南寨) đến Tân Trại (新寨)..
Cột số 5 : đường từ Nam Trại đến Thủy Đối Pḥng (水碓防).
Cột số 6 : đường từ Thiên Hà Trại (千河寨) đến Thủy Đối Pḥng.
Cột số 7 : đường từ Tân Trại đến Tân Điếm (新店), ở gần Độc Mộc Kiều (獨木橋).
Cột số 8 : đường từ (Mănh Khang) Mường Khương (猛康) đến Tien Tang.
Đây là những mốc tiêu biểu được cắm trên đoạn thứ 1 thuộc biên giới Vân-Nam[5], nguyên bản tiếng Pháp và Hoa. Những mốc số 2, 5,6, 8 không được mô tả chính xác. Thí dụ, « trên đường từ Nam Trại đến Tân Trại », nhưng không nói rơ cột mốc cách Tân Trại hay Nam Trại là bao nhiêu ? Rất nhiều cột mốc được ghi chú như vậy trong các biên bản. Như thế, giả sử có một cột mốc bị dời đi , nay khám phá ra, chính phủ hai bên làm thủ tục cắm lại. Trường hợp như vậy phải cắm ở đâu, lấy thí dụ trên, phải cắm ở đâu trên đường từ Nam Trại đến Tân Trại ?
Xin ghi tiếp phần kết luận bản tường tŕnh của sở Địa Dư Đông Dương thực hiện năm 1948 ghi trên. Hồ sơ nầy (vào thời điểm tác giả làm nghiên cứu) vẫn c̣n được CAOM xếp vào loại mật. Có nghĩa là người nghiên cứu được quyền công bố chi tiết nhưng không được tiết lộ tên người liên hệ viết trong tài liệu:
« La construction, si l’on peut dire, de la frontiere entre l’Indochine et la Chine a demande douze ans d’efforts.
De ce travail que rest-t-il? Des bornes placees sur le terrain d’une part et sur la carte au 1/100,000 d’autre part. Il faut remarquer toutefois que la carte au 1/100,000 s’arrete avant le Mekong, laissant en blanc environ 150 kilometres de frontiere. En outre, la reconnaissance de 1914 a montre qu’entre la carte et les bornes la concordance n’etait pas absolue; comme il semble bien que cette reconnaissance ait ete isolee – et elle a ete faite il y a plus de 24 ans – on peut se demander dans quelle proportion cette concordance existe aujourd’hui.
En la matiere, la carte au 1/100,000 est insuffisante. Sans meme parler des erreurs qu’ont pu commettre des topographes debutants dans le leve du terrain, la precision du 1/100,000 est en planimetrie de 15 a 20m; la carte ne pourrait donc deceler eventuellement que des deplacements de borne d’assez grande amplitude.
….
Une autre question peut-etre posee: les bornes ont-elles ete placees judicieusement? N’y en a-t-il pas trop a certains endroits et pas assez a d’autres? L’examen de la carte au 1/100,000 donne la reponse. Il est indeniable que nombre de bornes sont parfaitement inutiles tandis que certains points qui appellent une borne en sont depourvus. Une revision de l’abornement serait donc justifiee. C’est bien entendu une vue d’avenir assez lointain. »
Tạm dịch như sau : « Việc xây dựng, nếu ta có thể gọi thế, đường biên giới Việt Trung đă đ̣i hỏi 12 năm nỗ lực.
Công tŕnh nầy c̣n lại ǵ ? Các cột mốc được cắm một mặt trên thực địa và mặt khác được ghi trên bản đồ 1/100.000. Phải nhấn mạnh rằng, bản đồ 1/100.000 ngừng lại trước sông Mékong, bỏ một khoảng trống khoảng 150 Km biên giới. Mặt khác, một cuộc kiểm sát vào năm 1914 cho thấy rằng sự phù hợp (về vị trí) giữa bản đồ và các cột mốc th́ không tuyệt đối. Chắc rằng việc kiểm sát nầy là duy nhất – và nó đă làm từ 24 năm qua – người ta tự hỏi với sai số nào cho vị trí (giữa cột mốc ghi trên bản đồ và cột mốc trên thực địa) đó hiện hữu hôm nay.
Theo chuyên môn th́ bản đồ 1/100.000 không đủ chính xác. Không nói đến những sai lầm có thể phạm phải của các trắc địa viên mới vào nghề trong lúc đo đạc, sự chính xác của 1/100.000 (có sai số) trắc diện là từ 15 đến 20 m. Bản đồ v́ vậy chỉ có thể phát hiện khi khoảng cách dời cột mốc tương đối lớn.
…
Một câu hỏi khác có thể đặt ra : Các cột mốc đă được cắm một cách hợp lư ? Phải chăng có chỗ th́ nhiều, có chỗ th́ không đủ ? Khảo sát bản-đồ 1/100.000 sẽ có câu trả lời. Không thể chối cải rằng số lượng cột mốc th́ thực sự vô dụng, trong lúc nhiều nơi cần đến th́ không có. Một sự xét lại việc phân giới cắm mốc sẽ là chính đáng. Nhưng chắc chắn là trong một tương lai khá xa. »
Như vậy, có ba yếu tố chi phối vị trí các cột mốc : Kỹ thuật cắm mốc, sự thiếu chính xác của biên bản cắm mốc và sự thiếu quan tâm của chính quyền. Dầu vậy nội dung tổng quát đường biên giới Việt Trung theo Công Ước 1877 và 1895 không thấy bị đặt vấn đề. Viên chức viết bản tường tŕnh nầy cho rằng : « Une revision de l’abornement serait donc justifiée ». Một cuộc kiểm soát lại việc phân giới (tức việc cắm mốc) sẽ là việc chính đáng.
Kết luận :
Có cần phân định lại đường biên giới Việt Trung hay không ?
Ư kiến của các nhân viên trách nhiệm phân định biên giới (người Pháp) là kiểm soát lại các cột mốc và điều chỉnh cho thích hợp vị trí của nó theo Công Ước 1887-1995. Không thấy họ đặt vấn đề phải phân định lại biên giới.
Ư kiến Charles Fourniau, Giáo Sư (quá cố) viện Đại Học Aix-En-Provence, chuyên gia về Việt Nam, đường biên giới Việt-Trung, là « một thực tế đă bắt rễ sâu xa » giữa hai dân tộc Việt và Hán.
Ư kiến của viên chức sở Địa Dư Đông Dương : biên giới Việt Trung trên đất liền nên được phân giới lại.
Đây là một đề nghị hữu lư. Các cột mốc đă bị dời đi phải được đem trở về vị trí cũ của nó.
Vấn đề là biên giới Việt Trung phân giới lại như thế nào để ít thiệt hại nhất cho Việt Nam, về hai mặt : biên giới trên đất liền và biên giới trong vịnh Bắc Việt ?
Quan chức VN gần đây cho rằng vịnh Bắc Việt chưa được phân định, do đó cần phân định lại. Bị Vong Lục của bộ Ngoại giao VN công bố thập niên 70 có nội dung :
« Công ước Pháp-Thanh 1887, điều 2, đă nói rơ kinh tuyến Paris 105°53’ kinh tuyến đông (nghĩa là kinh tuyến 108°3’13’’ kinh tuyến đông Greenwich) là đường biên giới giữa hai nước trong vịnh Bắc bộ. Phía VN sẵn sàng bàn với phía TQ để xác định về cửa vịnh Bắc bộ, từ đó đi đến xác định chính thức đường biên giới trong vịnh. »
Cũng theo tài liệu này, TQ đă đồng ư về « hai đường biên giới do lịch sử để lại » vào tháng 4 năm 1958. Hai đường biên giới ở đây dĩ nhiên là đường biên giới trên bộ và biên giới trong Vịnh Bắc Việt.
Dầu vậy, giả sử rằng phía TQ nói ngược lại, vịnh Bắc Việt chưa được phân định (theo công ước 1887). Vấn đề là hai bên phân định trên căn bản nào ?
Nếu hai nước cùng đồng ư đặt lại vấn đề biên giới, cùng đồng ư phủ nhận công ước 1887 để phân định lại vịnh Bắc Việt và biên giới trên đất liền, điều hợp lư là phải đặt lại tất cả những vấn đề về biên giới liên quan đến công ước 1887.
Có nghĩa là phía VN phải đặt lại vấn đề các vùng đất đă mất như Tụ Long, đất Đèo Lương, đất Kiến Duyên và Bát Tràng, vùng mũi Bạch Long…
Việt Nam có thể nhượng bộ trên đường biên giới, nh́n nhận chủ quyền của TQ tại các vùng đất đă mất (do công ước 1887), nhưng với điều kiện TQ làm tương tự trong Vịnh Bắc Việt.
Nhưng thực tế đă không như thế. Trung Quốc đă đạt được tất cả những ǵ họ muốn, trên biển cũng như trên đất liền (xem chương 8). Việt Nam bị thiệt hại mọi nơi, trên biển cũng như trên đất liền.
Hiệp Ước Phân Định Biên Giới Trên Đất Liền kư ngày 30 tháng 12 năm 1999, trước hết nh́n nhận chủ quyền của TQ tại các vùng đất của VN đă bị Pháp nhượng do công ước 1887. Hiệp ước này cũng nh́n nhận chủ quyền của TQ những vùng đất của VN do TQ chiếm được (trong cuộc chiến 1979).
Hiệp Ước Phân Định Lănh Hải Trong Vịnh Bắc Bộ kư ngày 31 tháng 12 năm 2000 không b́nh đẳng. Việc phân định không đặt trên bất kỳ một nguyên tắc công bằng nào (như phân định theo Luật Biển 1982). Dĩ nhiên, việc làm vô nguyên tắc này đă gây thiệt hại lớn lao lănh thổ, hải phận của tổ quốc VN.
Theo FB Trương Nhân Tuấn
(Trích từ chương 7 cuốn « Biên Giới Việt-Trung 1885-2000 – Lịch sử thành h́nh và những tranh chấp ».)
[1] Xem Tâm-Quách Langlet, La Perception de frontières dans l’Ancien Vietnam à travers quelques cartes vietnamiennes et occidentales, Les Frontière du Vietnam, nxb Harmattan, Paris 1989. (tr 26-57)
[2] Michel Foucher, Fronts et Frontières, nxb Fayard 1991, trb 111
[3] CAOM, HCI/ 49. Tài liệu nầy của GS Lê Xuân Khoa t́m thấy và tặng cho người viết trong lúc ông đang nghiên cứu tại CAOM. Trân trọng cám ơn GS LX Khoa.
[4] đội trưởng là thiếu úy Monère, thuộc chi khu Lạng Sơn. Đoạn biên giới được kiểm soát thuộc vùng B́nh Nhi từ cột 20 đến 55. Một nhóm khác kiểm soát các cột 8 đến 19 cũng thấy những sai biệt tương tự.
[5] CAOM.
tm
|