VietBF

VietBF (https://vietbf.com/forum/index.php)
-   School | Kiến thức 2006-2019 (https://vietbf.com/forum/forumdisplay.php?f=273)
-   -   Những câu chuyện để học hỏi (https://vietbf.com/forum/showthread.php?t=1280322)

florida80 10-06-2019 21:00

Những Hiểu Lầm Về Đạo Phật - Minh Đức Triều Tâm Ảnh









Đạo Phật ngày càng suy đồi, tha hoá, “mạt pháp”, nguyên nhân th́ nhiều, nhưng đôi khi v́ trong giới tu sĩ và cư sĩ không trang bị đủ kiến thức của giáo pháp như thực - tức là giáo pháp cội rễ - mà chỉ chạy theo cành, nhánh, ngọn lắm hoa và nhiều trái. Từ đấy, khó phân biệt đâu là đạo Phật chơn chánh, đâu là đạo Phật đă bị biến chất, chạy theo thị hiếu dung thường của thế gian. Đôi nơi đạo Phật c̣n bị trộn lẫn với tín ngưỡng duy linh và cả tín ngưỡng nhân gian nữa... Nhiều lắm, không kể xiết đâu.

Với cái nh́n “chủ quan” của một tu sĩ Theravāda, tôi xin mạo muội liệt kê ra đây những hiểu lầm tai hại và rất phổ biến của Phật giáo trong và ngoài nước để chư vị thức giả cùng thấy rơ như thực:




1- Tôn giáo: Đạo Phật có những sinh hoạt về tôn giáo nhưng đạo Phật không phải là tôn giáo, v́ đạo Phật không có một vị thượng đế tối cao hoá sinh muôn loài và có quyền ban thưởng, phạt ác.




2- Tín ngưỡng: Đạo Phật có những sinh hoạt tín ngưỡng nhưng đạo Phật không phải là tín ngưỡng để mọi người đến van vái, cầu xin những ước mơ dung tục của đời thường.




3- Triết học: Đạo Phật có một hệ thống tư tưởng được rút ra từ Kinh, Luật và Abhidhamma, được gọi là “như thực, như thị thuyết” chứ không phải là một bộ môn triết học “chia” rồi “chẻ”, “phán” rồi “đoán” như của Tây phương.




4- Triết luận: Đạo Phật có tuệ giác để thấy rơ Cái Thực chứ không sử dụng lư trí phân tích, lư luận. C̣n triết, c̣n luận là v́ chưa thấy rơ Cái Thực. Đạo Phật là đạo như chơn, như thực. Kinh giáo của đức Phật luôn đi từ cái thực cụ thể để hướng dẫn mọi người tu tập, nó không có triết, có luận đâu. Ngay “thiền” mà c̣n “luận” (thiền luận) là đă đánh mất thiền rồi.




5- Từ thiện xă hội: Đạo Phật có những sinh hoạt từ thiện xă hội nhưng không coi từ thiện xă hội là tất cả, để hy sinh cuộc đời đầu tṛn, áo vuông một cách uổng phí. Đạo Phật c̣n có những sinh hoạt cao cả hơn: Đó là giáo dục, văn hoá, nghệ thuật, tu tập thiền định và thiền tuệ nữa. Từ thiện xă hội th́ ai cũng làm được, thậm chí người ta c̣n làm tốt hơn cả Phật giáo, ví dụ như Bill Gates. C̣n giáo dục, văn hoá, nghệ thuật của đạo Phật là nền tảng Mỹ Học viết hoa (nội hàm các giá trị nhân văn, nhân bản) mà không một tôn giáo, môt chủ nghĩa, một học thuyết nào trên thế gian có thể so sánh được. Và đây mới là sự phụng hiến cao đẹp của đạo Phật cho thế gian. C̣n nữa, nếu không có tu tập thiền định và thiền tuệ th́ mọi h́nh thái sinh hoạt của đạo Phật, xem ra không phải là của đạo Phật đâu!




6- Cực lạc, cực hạnh phúc: Đạo Phật có nói đến hỷ, lạc trong các tầng thiền; có nói đến hạnh phúc siêu thế khi ly thoát tham sân, khổ lạc (dukkha), phiền năo của thế gian - chứ không có một nơi chốn cực lạc, cực hạnh phúc được phóng đại như thế.




7- 8 vạn 4 ngàn pháp môn: Đạo Phật có nói đến 8 vạn 4 ngàn pháp uẩn (dhammakhandha) chứ không nói đến 8 van 4 ngàn pháp môn (dhammadvāra). Uẩn (khandha) ngoài nghĩa che lấp, che mờ và nghĩa chồng lên, chồng chất, c̣n có nghĩa là nhóm, liên kết, tập hợp ví như Giới uẩn (nhóm giới), Định uẩn (nhóm định), Tuệ uẩn (nhóm tuệ). Do từ uẩn (khandha) lại dịch lệch ra môn - cửa (dvāra), pháp môn nên ai cũng tưởng là có 8 vạn 4 ngàn pháp môn, tu theo pháp môn nào cũng được! Ai là người có thể đếm đủ 8 vạn, 4 ngàn cửa pháp này? C̣n nữa, xin lưu ư, 8 vạn 4 ngàn chỉ là con số tượng trưng, có nghĩa là nhiều lắm, đếm không kể xiết theo truyền thống tôn giáo và tín ngưỡng Ấn Độ cổ thời. Ví dụ 84 ngàn lỗ chân lông, 84 ngàn vi trùng trong một bát nước, 84 ngàn phiền năo, 84 ngàn cách tu...




8- Xin xăm, bói quẻ, cầu sao, giải hạn, xem ngày giờ tốt xấu: Những h́nh thức này không phải của đạo Phật. Trong kinh tụng Pāli có đoạn: “Sunakkhataṃ sumaṅgalaṃ supabhātaṃ suhuṭṭhitaṃ, sukhno ca suyiṭṭaṃ brahmacārisu. Padakkhinaṃ kāyakammaṃ vācākammaṃ padakkhinaṃ padakkhinaṃ manokammaṃ paṇidhī te padakkhinā...”




Có nghĩa là: Giờ nào (chúng ta) thực hành thân, khẩu, ư trong sạch; giờ đó được gọi là vận mệnh tốt, là giờ tốt, là khắc tốt, là canh tốt... Ngày đó gọi là có nghiệp thân phát đạt, nghiệp khẩu phát đạt, nghiệp ư phát đạt. Và nguyện vọng theo đó được gọi là nguyện vọng phát đạt. Người tạo nghiệp thân, nghiệp khẩu, nghiệp ư phát đạt như thế rồi sẽ được những lợi ích phát đạt (chữ phát đạt có thể có thêm nghĩa nhiêu ích).

florida80 10-06-2019 21:01

9- Định mệnh: Đạo Phật có nói đến nghiệp, đến nhân quả nghiệp báo chứ không hề nói đến định mệnh. Theo đó, gây nhân xấu ác th́ gặt quả đau khổ, gây nhân lành tốt th́ gặt quả an vui - chứ không phải “cái tơ cái tóc cũng do trời định” như định mệnh thuyết của Khổng Nho hoặc định mệnh 4 giai cấp của Bà-la-môn giáo.




10- Siêu độ, siêu thoát: Không có bài kinh nào, không có uy lực của bất kỳ ông sư, ông thầy nào có thể tụng kinh siêu độ, siêu thoát cho hương linh, vong linh, chân linh cả. Thời Phật tại thế, nếu có đến nơi người mất, chư tăng chỉ đọc những bài kệ vô thường, khổ và vô ngă để thức tỉnh người sống; và hiện nay các nước Phật giáo Theravāda c̣n duy tŕ. Có thể có hai trường hợp:

- Nếu vừa chết lâm sàng th́ thần thức người chết vẫn c̣n. Vậy có thể đọc kinh, mở băng kinh, chuông mơ, hương trầm... để “thần thức người chết” hướng về điều lành... để thần thức tự tạo “cận tử nghiệp” tốt cho ḿnh.

- Nếu thần thức đă ĺa khỏi thân rồi – th́ họ đă tái sanh vào cơi khác rồi, ngay tức khắc. Khi ấy th́ gia đ́nh làm phước để chư tăng tụng kinh hồi hướng phước ấy cho người đă mất.




Cả hai trường hợp trên đều không hề mang ư nghĩa siêu độ, siêu thoát mà chỉ có ư nghĩa gia hộ, gia niệm, gia lực mà thôi. Tu dựa vào tha lực cũng tương tự như vậy, nhưng cuối cùng cũng phải tự lực: “Tự ḿnh thắp đuốc mà đi, tự ḿnh là ḥn đảo của chính ḿnh”.

Chư thiên chỉ có khả năng hoan hỷ phước và báo truyền thông tin ấy cho người quá văng mà thôi. Họ không có uy lực ban phước lành cho ai cả.




11- Huyền bí, bí mật: Giáo pháp của đức Phật không có cái ǵ được gọi là huyền bí, bí mật cả. Đức Phật luôn tuyên bố là “Như Lai thuyết pháp với bàn tay mở ra”; có nghĩa là ngài không có pháp nào bí mật để giấu kín cả!




12- Tâm linh: Ngày nay, người ta tràn lan lễ hội, tràn lan mọi loại điện thờ với những h́nh thức mê tín, dị đoan, sa đoạ văn hoá... mà ở đâu cũng rêu rao các giá trị tâm linh. Đạo Phật không hề có các kiểu tâm linh như vậy. Thuật ngữ tâm linh này được du nhập từ Trung Quốc. Và rất tiếc, tôi không hề t́m ra nguồn Phật học Pāli hay Sanskrit có từ nào tương thích với chữ “linh” này cả!




13- Niết-bàn: Nhiều người tưởng lầm Niết-bàn là ở một cơi nào đó, một nơi chốn nào đó; thậm chí là ở một thế giới ở ngoài thế gian này. Người nào t́m kiếm Niết-bàn kiểu ấy, thuật ngữ thiền tông có cụm từ “lông rùa, sừng thỏ” như ngài Huệ Năng đă nói rơ: “Phật pháp tại thế gian. Bất lư thế gian giác. Ly thế mịch bồ-đề. Cáp như tầm thố giác”. Thố giác là sừng thỏ. Và giác ngộ cũng vậy, chính ở trong khổ đau, phiền năo mới giác ngộ bài học được.




14- Bỏ khổ, t́m lạc: Tu Phật không phải là bỏ khổ, t́m lạc. Xin lưu ư cho: Khổ và Lạc chính là căn bản của phiền năo!




15- Tu để được cái ǵ! Có nhiều người nghĩ rằng, tu là để được cái ǵ đó. Xin thưa, được cái ǵ là sở đắc. Ai sở đắc? Chính là bản ngă sở đắc. Đạo Phật là vô ngă. Hăy xin đọc lại Bát-nhă tâm kinh.




16- Tu là sửa: Nếu tu là sửa th́ ḿnh đă từ “cái ta này” biến thành “cái ta khác”. Nếu tu là không sửa th́ cứ để nguyên trạng tham sân si như vậy hay sao? Xin thưa, sửa hay không sửa đều trật. Đạo Phật quan trọng ở Cái Thấy! Có Cái Thấy mới nói đến giác ngộ và giải thoát. Không có Cái Thấy này th́ tu kiểu ǵ cũng trệch hướng hoặc rơi vào phước báu nhân thiên

florida80 10-06-2019 21:01

17- Vía: Đạo Phật không có vía nào cả. Vía, hồn, phách là quan niệm của nhân gian. Ví dụ, ba hồn bảy vía. Ví dụ, nam thất, nữ cửu – nam bảy vía, nữ chín vía. Nếu là nam thất, nữ cửu th́ nó trùng với nam 7 khiếu, nữ 9 khiếu. Vía là phần hồn. Không có cái hồn, cái linh hồn tự tồn tại nếu không có chỗ nương gá. Vía không độc lập được. Như danh - phần tâm, sắc - phần thân – luôn nương tựa vào nhau. Chỉ có năng lực thiền định mới tạm thời tách ĺa danh ra khỏi sắc, như Cơi trời Vô tưởng của tứ thiền. Tuy nhiên, cơi trời Vô tưởng hữu t́nh này không phải là không có danh tâm mà chúng ở dạng tiềm miên. C̣n các Cơi trời Vô sắc th́ sắc không phải là không có, chúng cũng ở dạng tiềm miên. Thật đáng phàn nàn, Phật và Bồ-tát đều có “vía” cả! Và cũng thật là “đau khổ” khi trong lễ an vị Phật, người ta c̣n hô “Thần nhập tượng” nữa chứ!




18- Bồ-tát: Bồ-tát là âm của chữ Bodhisatta: Chúng sanh có trí tuệ. Vậy, chúng ta tạm thời bỏ quên “khái niệm Bồ-tát” quen thuộc trong kinh điển mà trở về với nghĩa gốc là “chúng sanh có trí tuệ”. Và như vậy, sẽ có hạng chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Thanh Văn; chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Độc Giác; chúng sanh có trí tuệ với nguyện lực Chánh Đẳng Giác. Ngoài 3 loại chúng sanh có trí tuệ trên – không có loại chúng sanh có trí tuệ nào khác.




19- Phật: Phật là âm của chữ Buddha, nghĩa là người Giác ngộ. Vậy chúng ta nên tạm thời bỏ quên “khái niệm Phật” từ lâu đă mọc rễ trong tâm thức mà trở về nghĩa gốc là bậc Giác ngộ. Vậy, có người Giác ngộ do nghe pháp từ bậc Chánh Đẳng Giác, được gọi là Thanh Văn Giác. Có người Giác ngộ do tự ḿnh tu tập vào thời không có đức Chánh Đẳng Giác, được gọi là Độc Giác. Có vị Giác ngộ do trọn vẹn 30 ba-la-mật, trọn vẹn minh và hạnh nên gọi là Chánh Đẳng Giác.

Không có vị Giác ngộ (Phật) nào ngoài 3 loại Giác ngộ trên.




20- Thể nhập: Tu là không thể nhập vào cái ǵ cả. Thể nhập là bỏ cái ngă này để nhập vào cái ngă khác. Căi ngă khác ấy có thể là ḍng sông, có thể là ngọn núi, có thể là một cội cây, có thể là một thần linh, thượng đế. Cái cụm từ “thể nhập pháp giới” rất dễ bị hiểu lầm. Khi đi, chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái đi; khi nói, chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái nói; khi ăn, chánh niệm, tỉnh giác trọn vẹn với cái ăn – th́ đấy mới đúng nghĩa “thể nhập pháp giới”, ngay giây khắc ấy, mọi tham sân, phiền năo không có chỗ để phan duyên, sanh khởi

florida80 10-07-2019 20:43

Bước chậm lại giữa thế gian vội vă để tâm trí được nghỉ ngơi

Chủ nhật, 29/09/2019 | 05:24










Cuốn sách Bước chậm lại giữa thế gian vội vă của Hae Min Đại Đức như là một bước dừng của người đọc trong cuộc sống hối hả, để họ suy nghĩ về chính bản thân ḿnh. Đây là một quyển sách hay mang lại cho người đọc một điểm tựa an yên giữa cuộc đời bận rộn.


>>Những cuốn sách hay nên đọc



Con người hiện đại là con người của công việc. Trong cái guồng quay điên cuồng của cuộc sống, để tồn tại được trong môi trường đó, chúng ta bắt buộc phải sống vội vàng, tất bật. Đôi khi người ta vẫn giục nhau “nhanh lên khẻo không kịp”.


Bài liên quan

Hai tác phẩm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh đoạt giải sách hay 2019

Bởi thế mà cuộc sống luôn ồn ào và vội vă như thế: ăn vội, uống vội, chào nhau vội để rồi bước qua nhau như thế. Công việc và những lo toan cứ bám theo chúng ta từ nơi làm việc về nhà, đôi khi mọi người quên mất thời gian dành cho chính bản thân ḿnh. Dần dần, những áp lực, mệt mỏi đó bào ṃn, rút cạn sức sống làm cho chúng ta cảm thấy ngột ngạt, trống rỗng và mơ hồ về cuộc sống: không biết ḿnh đang sống v́ điều ǵ, đâu mới là hạnh phúc thật sự đối với ḿnh.

Hăy dừng lại một chút và dành thời gian để yêu lấy chính bản thân ḿnh

Bước chậm lại giữa thế gian vội vă của Đại Đức Hae Min là đă bắt đúng mạch và chữa lành cho hàng triệu người trẻ luôn tất bật với nhịp sống hiện đại hối hả. Đây là cuốn sách được đông đảo các bạn trẻ đón nhận và là một trong những cuốn sách bán chạy nhất tại Hàn Quốc.

Cuốn sách chia thành 8 chương với những chủ đề khác nhau mà ta thường gặp trong cuộc sống: Nghỉ ngơi, những mối quan hệ, tương lai, cuộc sống, t́nh yêu, tu hành, nhiệt huyết, tôn giáo. Mỗi chương mang ư nghĩa tích cực, cũng như nhiều vấn đề khi gặp khó khăn chúng ta có thể lật dở từng trang sách để t́m lời khuyên và sự chia sẻ.

Sách Bước chậm lại giữa thế gian vội vă liên tục đứng trong bảng xếp hạng bán chạy của Hàn Quốc năm 2012. Là cuốn sách liên tục đứng đầu bảng best seller từ năm 2012 trên các trang sách trực tuyến của Hàn Quốc, Bước chậm lại giữa thế gian vội vă là cuốn sách được yêu thích của những bạn trẻ t́m lại sự b́nh yên giữa cuộc đời bận rộn. Ngay từ trang đầu tiên, cuốn sách đă mang lại cho người đọc cảm giác muốn được nghỉ ngơi, t́m một điểm tựa an yên trong ḿnh.

“Nếu cảm thấy mệt mỏi, hăy nghỉ một lát rồi đi tiếp.

Khi bị người khác làm tổn thương đến rơi nước mắt,

Khi điều bạn khao khát không trở thành hiện thực,

Khi người yêu thương rời bỏ bạn,

Hăy nghỉ ngơi rồi đi tiếp”.

Khi c̣n trẻ ai cũng cố gắng chạy thật nhanh, như thể đi chậm lại th́ sẽ bị cả thế giới bỏ lại.

“Tôi không sợ chuyện ḿnh già đi

Nhưng tôi sợ nhiệt huyết của ḿnh sẽ dần nguội lạnh”.

Với tư tưởng mang đậm chất Phật giáo, cuốn sách Bước chậm lại giữa thế gian vội vă đưa ra những nguyên tắc sống cơ bản. Có thể nói, cuốn sách như là một nơi dừng chân thanh tịnh giữa cuộc sống xô bồ. Tác giả đă đưa ra nhiều câu hỏi mang t́nh căn bản về cá nhân, xă hội và các mối quan hệ, những câu hỏi ông đưa ra dù cụ thể hay mơ hồ th́ đều chung một tinh thần “bước chậm lại” – để nh́n rơ hơn chính bản thân ḿnh và học cách sống nhẹ nhàng và thanh thản hơn.

Với tư tưởng mang đậm chất Phật giáo, cuốn sách Bước chậm lại giữa thế gian vội vă đưa ra những nguyên tắc sống cơ bản. Có thể nói, cuốn sách như là một nơi dừng chân thanh tịnh giữa cuộc sống xô bồ. Tác giả đă đưa ra nhiều câu hỏi mang t́nh căn bản về cá nhân, xă hội và các mối quan hệ, những câu hỏi ông đưa ra dù cụ thể hay mơ hồ th́ đều chung một tinh thần “bước chậm lại” – để nh́n rơ hơn chính bản thân ḿnh và học cách sống nhẹ nhàng và thanh thản hơn.


Bài liên quan

10 đầu sách hay Phật Giáo nên đọc

Chúng ta ai cũng có 24 giờ để sống và làm việc, nhưng có người tối tăng ca làm thêm, có người đi học thêm bằng tiếng anh, bằng đại học, một lớp kỹ năng mềm… để rồi bỗng nhiên thấy ḿnh nghẹt thở giữa cuộc sống bận rộn.

Thế rồi một ngày thấy mệt mỏi, đôi chân rời ră không thể tiếp tục chạy. Muốn bỏ lại tất cả những cố gắng chỉ để nghỉ ngơi, để mặc thế giới ngoài kia đang chạy. Vậy th́ nghỉ ngơi thôi, bởi “Bạn nghĩ thế gian này đang làm khổ bạn? Nếu bạn nghỉ ngơi, thế gian này cũng sẽ nghỉ theo”.

Nghỉ ngơi không hẳn là phải xách ba lô và đi đâu đó, cũng không phải đóng Facebook, hay là nghỉ việc. Mà đơn giản chúng ta gặp gỡ bạn bè, người thân, người yêu và dành thời gian cho tâm trí ḿnh nghỉ ngơi.

Đừng quá đặt nặng vấn đề nh́n nhận, phán xét của những người xung quanh, cuộc sống là của bản thân ḿnh. V́ vậy hăy để bản thân ḿnh quyết định. “Việc bạn tốt nghiệp đại học nào không quan trọng. Việc bạn sống cuộc sống nào sau khi tốt nghiệp đại học mới là điều quan trọng”.

Những bạn trẻ, hăy đi nhiều nhất có thể

Những bạn trẻ c̣n đang loay hoay chưa biết ḿnh sẽ chọn nghề nghiệp, con đường nào cho những bước đi tiếp theo. Hae Min Đại Đức gửi tới những người chưa biết chọn nghề nghiệp nào cho ḿnh bằng ba cách:

Thứ nhất: Hăy đi nhiều hết mức có thể, đi du lịch, t́nh nguyện, thực tập nhiều nơi, t́m hiểu những thứ ḿnh chưa từng biết, những người bạn gần xa, bạn ngoại quốc.

Thứ hai: Hăy đọc thật nhiều sách. Mọi thể loại sách du kư, sách thời trang, sách marketing, sách kinh tế thế giới, tiểu thuyết, thơ, t́nh cảm… hay bất kỳ quyển sách nào về xu hướng thịnh hành hiện nay trong bất kỳ thời gian rảnh nào.

Thứ ba: Hăy yêu thật chăm chỉ. T́nh yêu làm con người ta hoàn thiện bản thân ḿnh hơn, không có người thầy nào giúp ta trưởng thành nhiều như t́nh yêu; cũng không có ǵ giúp ta hiểu bản chất ḿnh như thế nào như t́nh yêu.

Đại Đức Hae Min sinh ra và lớn lên tại Hàn Quốc. Đại đức lấy bằng thạc sĩ Tôn giáo học đối chiếu ở đại học Harvard và tiến sĩ Tôn giáo học ở đại học Princenton, Mỹ.

Đại Đức Hae Min sinh ra và lớn lên tại Hàn Quốc. Đại đức lấy bằng thạc sĩ Tôn giáo học đối chiếu ở đại học Harvard và tiến sĩ Tôn giáo học ở đại học Princenton, Mỹ.


Bài liên quan

Những kiến thức bổ ích trong cuốn sách 'The Buddha in the Vacuum-cleaner'

Với những triết lư hết sức b́nh dị, đời thường quyển sách là lời mà Hea Min Đại Đức muốn nhắn gửi đến thế hệ trẻ hiện nay. Thế hệ có bao nhiêu nỗi lo và bất an xuất hiện, thế hệ chông chênh và dễ buồn ḷng nhất, thế hệ mà đi măi cũng chỉ để t́m cho bản thân một lối ra.

T́nh yêu luôn mang cho mỗi chúng ta niềm vui và niềm hạnh phúc mỗi ngày, nhưng khi t́nh yêu mất đi th́ dường như cả thế giới trước mắt bỗng dưng sụp đổ. Vậy th́ hăy xem: “T́nh yêu là món quà quư giá của cuộc sống. Dù ta muốn hay không, nó luôn như một vị khách bất ngờ t́m đến với ta”, lúc ấy mọi thứ sẽ nhẹ nhàng hơn rất nhiều.

Với tư tưởng mang đậm chất Phật giáo, cuốn sách Bước chậm lại giữa thế gian vội vă đưa ra những nguyên tắc sống cơ bản. Có thể nói, cuốn sách như là một nơi dừng chân thanh tịnh giữa cuộc sống xô bồ. Tác giả đă đưa ra nhiều câu hỏi mang t́nh căn bản về cá nhân, xă hội và các mối quan hệ, những câu hỏi ông đưa ra dù cụ thể hay mơ hồ th́ đều chung một tinh thần “bước chậm lại” – để nh́n rơ hơn chính bản thân ḿnh và học cách sống nhẹ nhàng và thanh thản hơn.

florida80 10-07-2019 20:47

Đức Phật giảng như thế nào về cái chết và quy luật sinh lăo bệnh tử trên đời?

Chủ nhật, 29/09/2019










Thuở Đức Phật Thích Ca Mâu Ni c̣n tại thế, tại thành Xá Vệ có một thiếu nữ nghèo khổ tên là Kisa Gotami. Lớn lên, cô kết hôn và có một bé trai đầu ḷng. Nhưng bất hạnh thay, chẳng được bao lâu, con trai của cô qua đời v́ cơn bạo bệnh.


>>Những lời Phật dạy


Bài liên quan

Câu chuyện Đức Phật độ đệ tử bệnh

Kisa Gotami chưa bao giờ thấy cái chết, v́ thế nên khi người ta mang đứa bé đi thiêu, cô cực lực ngăn cản rồi bế con trên hông đi từ nhà này đến nhà khác t́m thuốc cứu con. Nh́n cảnh ấy, không ai khỏi buồn thương rơi lệ. Một bậc trí giả thấu hiểu hoàn cảnh của Kisa Gotami nên chỉ dẫn cô đến gặp Đức Phật. Cô đảnh lễ Đức Thế Tôn, đứng một bên và thưa hỏi:

– Bạch Thế Tôn, có thật như người ta đă nói, Ngài biết thuốc chữa cho con của con không?

Đức Phật từ bi đáp:

– Phải, ta biết.

– Con phải kiếm những ǵ?

– Một nhúm hạt cải trắng.

– Con sẽ đi t́m, nhưng biết nhà ai có?

– Nhà nào không có con trai, con gái hay bất cứ ai chết.

– Xin vâng, bạch Thế Tôn!

Kisa Gotami bế con vào làng, đến từng nhà hỏi xin hạt cải. Họ đều có hạt cải để đưa cho cô; nhưng đến khi Kisa Gotami hỏi thăm, th́ mới biết rằng nhà nào cũng có người chết, người chết nhiều hơn người sống, thế là cô đành trả lại hạt cải. Cứ như vậy, cô bế con thất thểu đi đến chiều cũng không nhà nào có hạt cải đúng theo ư Đức Phật.

Kisa Gotami chưa bao giờ thấy cái chết, v́ thế nên khi người ta mang đứa bé đi thiêu, cô cực lực ngăn cản rồi bế con trên hông đi từ nhà này đến nhà khác t́m thuốc cứu con. Nh́n cảnh ấy, không ai khỏi buồn thương rơi lệ. Một bậc trí giả thấu hiểu hoàn cảnh của Kisa Gotami nên chỉ dẫn cô đến gặp Đức Phật.

Kisa Gotami chưa bao giờ thấy cái chết, v́ thế nên khi người ta mang đứa bé đi thiêu, cô cực lực ngăn cản rồi bế con trên hông đi từ nhà này đến nhà khác t́m thuốc cứu con. Nh́n cảnh ấy, không ai khỏi buồn thương rơi lệ. Một bậc trí giả thấu hiểu hoàn cảnh của Kisa Gotami nên chỉ dẫn cô đến gặp Đức Phật.


Bài liên quan

Đặc tính hoằng pháp của Đức Phật

Bất chợt, Kisa Gotami hiểu ra: Không phải chỉ ḿnh cô mất con, mà trên đời này ai cũng từng mất đi người thân yêu của ḿnh. Như có một ḍng nước trong lành vừa gột rửa sạch vết thương ḷng của cô; tâm cô chợt thông suốt, sáng sủa và mạnh mẽ hẳn lên. Cô lặng lẽ mang xác đứa bé vào rừng, chôn xuống đất rồi đi gặp Đức Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng sang một bên.

Đức Phật hỏi:

– Con có xin được hạt cải không?

Kisa Gotami đáp:

– Thưa không, bạch Thế Tôn! Làng nào người chết cũng nhiều hơn người sống.

Đức Phật từ bi khai thị:

– Thật hăo huyền nếu con nghĩ rằng chỉ ḿnh con mất con. Ai cũng phải tuân theo định luật bất biến, đó là: “Thần chết, như một ḍng nước lũ, quét sạch mọi chúng sinh ra biển hoại diệt, trong khi ḷng tham đắm của họ chưa thỏa”.

Và Ngài đọc Pháp cú:

“Người tâm ư đắm say,

Con cái và súc vật,

Tử thần bắt người ấy,

Như lụt trôi làng ngủ”.

Cuối bài kệ, Kisa Gotami chứng quả Dự lưu. Nhiều người khác cũng chứng quả Dự lưu, Nhị và Tam quả. Cô xin gia nhập Tăng đoàn, được Đức Phật chấp thuận và giao cho Ni chúng.

Một hôm thắp đèn trong giảng đường, ni cô Kisa Gotami chăm chú nh́n ngọn lửa. Vài ngọn lóe sáng, vài ngọn chập chờn tắt. Cô lấy đó làm đề mục thiền quán: Chúng sinh trên thế gian cũng như ngọn đèn, chợt sáng chợt tắt, chỉ khi đạt Niết-bàn mới chấm dứt.

Đức Phật ngồi trong hương thất phóng quang ảnh đến trước mặt cô và dạy rằng:

– Chúng sinh như ngọn lửa, chợt sáng chợt tắt. Người nào đến Niết-bàn mới chấm dứt. Do đó, dù chỉ sống trong khoảnh khắc mà chứng Niết-bàn, c̣n hơn sống trăm năm không thấy biết Niết-bàn.

Và Đức Phật đọc Pháp cú:

“Ai sống một trăm năm,

Không thấy câu bất tử,

Tốt hơn sống một ngày,

Thấy được câu bất tử”.

Cuối bài kệ, Kisa Gotami chứng quả A-la-hán cùng các thần thông.

Phàm là con người sống trên thế gian này, dẫu giàu sang phú quư hay nghèo khổ bần hàn, ai rồi cũng phải chết. Quyền cao chức trọng, kho vàng đụn bạc, vợ đẹp con khôn đều cũng có lúc chia ĺa. Sinh, lăo, bệnh, tử, đó là những quy luật bất biến của đời người, ai ai cũng biết. Thế nhưng, mỗi người lại đối đăi với chúng bằng thái độ khác nhau, dẫn đến kết cục cũng khác nhau.

Kisa Gotami xin gia nhập Tăng đoàn và được Đức Phật chấp thuận.

Kisa Gotami xin gia nhập Tăng đoàn và được Đức Phật chấp thuận.


Bài liên quan

3 lời nguyện quan trọng nhất của Đức Phật A Di Đà đối với chúng sinh cơi Sa Bà

Có người bị mê hoặc bởi ánh hào quang của danh và lợi, hay say đắm trong ái t́nh, nên cảm thấy vẫn c̣n ngày rộng tháng dài, không mảy may lo lắng. Bỗng một ngày tóc ngả muối tiêu, thân thể hao ṃn, mới giật ḿnh nhận ra những ǵ ḿnh gom góp một đời sắp sửa thành hư vô cả.

Có người lại rất nhạy cảm với sự ngắn ngủi của kiếp người, nên lao ḿnh vào những cuộc vui, để tận hưởng tất cả những lạc thú trần gian khi c̣n có thể. Thế nhưng, con người khi theo đuổi khoái lạc của bản thân th́ dễ dàng làm tổn thương người khác, chính là trong vô minh mà tạo nghiệp. Khi trăm năm đời người vụt qua, thân xác tiêu vong nhưng linh hồn sẽ phải đối diện với sự phán quyết và trừng phạt tương ứng với tội nghiệp mà ḿnh đă tạo.

Chỉ có những ai hiểu được thân người khó đắc, kiếp người mong manh, một ḷng hướng Thiện, đắc chính Pháp và nhẫn nhục tu hành, th́ mới có cơ hội vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi biển khổ.

Dẫu rằng không có duyên đắc chính Pháp tu luyện, th́ đă là sinh mệnh có thể đến thế gian này mà nói, tôn kính Phật Pháp, kính trọng người tu luyện, duy hộ Thiện lương và chính nghĩa sẽ mang đến cho tất cả chúng ta một tương lai tốt đẹp.

florida80 10-07-2019 20:48

Thương con, mẹ hăy niệm Phật nhiều hơn

Chủ nhật, 06/10/2019 | 18:22










Myanmar những ngày đầu thu, những cơn mưa bắt đầu đỏng đảnh rơi trên mặt đường ướt mềm màu tối. Con bước đi trên những con đường vắng người qua, hôm nay sao thấy ḷng thổn thức, cảm nhận con đường đến trường sao xa quá.


>>Phật pháp và cuộc sống

Thi thoảng lại có cơn gió nhẹ ùa qua làm ḷng con se thắt lại. Một bóng dáng phụ nữ, tuổi chừng năm mươi, trên đầu đội một cái thúng to, đi giữa trời mưa để bán đôi cọng rau. Nh́n người phụ nữ ấy, con đứng lại thật lâu, con thầm nghĩ Mẹ cũng đă từng khổ cực như thế. Nghĩ đến đó nước mắt con khẽ rơi, ḥa quyện vào những giọt mưa rơi… Nhớ mẹ, con khóc thật nhiều… khóc rồi con thấy nhẹ cả ḷng!

Tác giả tại Myanmar – gửi bài viết và h́nh ảnh của ḿnh, mong mẹ ở quê nhà đọc được, thấy h́nh, yên tâm và nhớ “niệm Phật nhiều hơn” – Ảnh: TGCC

Tác giả tại Myanmar – gửi bài viết và h́nh ảnh của ḿnh, mong mẹ ở quê nhà đọc được, thấy h́nh, yên tâm và nhớ “niệm Phật nhiều hơn” – Ảnh: TGCC

Mẹ kính thương! Myanmar mùa này đă vào thu rồi Mẹ ạ. Chỉ không biết miền Trung đầy nắng gió của con như thế nào? Có lẽ vẫn là cái nắng hanh hao đến gai người, phải không Mẹ? C̣n con, bên này đă nghe thấy cái lạnh len lỏi vào tấm áo khi ra đường vào sáng sớm, những cơn mưa đầu mùa chợt đến rồi chợt đi rất nhanh, làm cho đất trời và ḷng người bao cảm xúc xao xuyến đến lạ lùng.

Mẹ à, Myanmar chững lại nhiều so với cái buổi ban đầu con đặt chân đến đây, có lẽ, con đă bắt đầu học học được cách làm quen với cuộc sống nơi này. Nơi mà thiếu vắng t́nh thương của Thầy tổ, Tăng thân, và đặc biệt là hơi ấm và t́nh yêu của Mẹ.

Đă gần bốn năm, con xa Thầy tổ, xa Mẹ để đến một thành phố mới, để bắt đầu cho một cuộc hành tŕnh t́m cầu tri thức. Con vẫn c̣n nhớ những ngày đầu me tiễn con, nước mắt lăn dài trên gương mặt có mùi vị thời gian, đôi mắt hằn vết chân chim, già nua theo năm tháng của Mẹ. Những lo lắng muộn phiền của Mẹ con đều cảm nhận được. Con biết, Mẹ sợ con thiếu thốn đủ thứ, sợ con không tự lo được cho bản thân khi chỉ có một ḿnh, mẹ sợ con không đủ bản lĩnh để chống chọi với những thử thách của cuộc sống đang chờ đợi con phía trước… Nhưng mẹ à, Mẹ đừng lo lắng, con vẫn ổn! Con gái của mẹ đă chọn con đường xuất gia từ lúc c̣n đôi mươi, th́ dẫu cho con đường có thăng trầm đến mấy, khổ đau và khó khăn đến nhường nào, nhưng chỉ cần nhớ đến Mẹ thôi th́ con đă có đầy đủ ư chí, sức mạnh vượt qua mọi thử thách của cuộc đời mang lại.

Mẹ biết không, con thầm cảm ơn trời Phật đă cho con một người mẹ tuyệt vời mà trên cơi đời này không thứ ǵ có thể sánh được. Không có mẹ, con không thể hiện hữu trên cuộc đời này, mẹ đă vun đắp cho con từ h́nh hài nguyên vẹn cho đến lúc trưởng thành, để con có thể vững vàng trên đôi chân đi về phía trước. Dẫu cho thanh xuân của Mẹ đă chịu nhiều nhọc nhằn – khó khăn, nhưng con vẫn cứ lớn măi từng ngày trong ṿng tay tŕu mến, chăm sóc của mẹ… Ôi! Bao nhiêu kư ức đẹp đẽ về mẹ cứ tràn về trong tâm trí con. Mẹ của con, con cảm ơn mẹ đă cho con những ḍng suối mát, tràn đầy sức sống và con cảm nhận được rằng, mẹ luôn ở trong con, từng mạch máu hơi thở của con mẹ đều hiện hữu… giúp con luôn sống trọn vẹn mỗi ngày.

Mẹ ạ! Dẫu Mẹ và con có xa cách đến đâu th́ con vẫn luôn nghĩ về Mẹ. Mẹ là cả cuộc đời của con, mỗi lúc con tụng kinh hay hành thiền, niệm Phật con luôn cầu nguyện cho Mẹ có được sức khỏe, sống an vui trong suốt cuộc đời c̣n lại. Mẹ đă cực khổ, hy sinh nhiều rồi, cho nên bây giờ con mong Mẹ hăy giành thời gian cho Mẹ nhiều hơn nữa Mẹ nhé.Và điều thật sự làm con sung sướng và hạnh phúc nhất từ lúc con sinh ra cho đến tận bây giờ, khi nghe tin Mẹ ở quê nhà luôn tinh tấn đến chùa tụng kinh, ăn chay và niệm Phật. Đó là món quà vô giá mà mẹ đă tặng cho con đó mẹ à. Thương con, mẹ hăy niệm Phật nhiều hơn, v́ như thế trong mẹ có con và trong con cũng có mẹ. Mẹ và con là một thực thể nhiệm mầu.

Mẹ của con, con viết lên những ḍng thư này mà ḷng con nghĩ đến Mẹ thật nhiều. Không biết ở phương trời xa, Mẹ có nghe được những thổn thức của con hay không? Nhưng con tin rằng Mẹ sẽ cảm nhận được. V́ mỗi lần nhớ đến Mẹ, con thường gọi điện thoại về và chỉ cần nghe giọng nói của con trong điện thoại thôi, Mẹ cũng cảm nhận được từng hơi thở của con. Mẹ biết con vui hay buồn, hay ốm đau như thế nào Mẹ đều biết cả, phải không Mẹ? Con mong những lời yêu thương này của con sẽ đến được tay Mẹ, để Mẹ biết rằng con gái của Mẹ thương nhớ Mẹ rất nhiều.

Mẹ kính thương! Con đă trải qua một chặng đường chông chênh, chứng kiến nhiều cuộc đổi thay của cuộc đời. Nhưng không v́ thế, mà con bỏ cuộc đâu Mẹ, nhờ những bài học khổ đau ấy, mà con gái của Mẹ đă thực sự trưởng thành hơn nhiều, và con cũng đă t́m được hạnh phúc tâm linh mà con hằng mong đợi. Bởi lẽ, bên cạnh con luôn có một người Mẹ tuyệt vời, luôn đồng hành cùng con qua mọi nẻo đường. Con nguyện sẽ cố gắng tu học để trở thành một người có ích cho đời. Để Mẹ luôn yên ḷng về con. Con yêu Mẹ, món quà quư giá nhất của cuộc đời con!

florida80 10-07-2019 20:49

Ảnh hưởng của Phật giáo tới tâm đức con người Việt Nam truyền thống

Thứ năm, 03/10/2019 | 07:03










Mặc dù không phải là một học thuyết về đạo đức nhưng những triết lư nguyên thủy của Phật giáo đă dạy con người biết nguyên nhân của nỗi khổ và con đường giải thoát đau khổ bằng quá tŕnh hướng thiện.


>>Phật pháp và cuộc sống

Trên phương diện đạo đức học, triết lư đao đức Phật giáo được coi là một đường lối sống, mội phương thức sống, một triết lư sống, một cách tu dưỡng thân tâm để thực hiện lẽ sống, hướng tới Niết Bàn, t́m con đường thoát khỏi bể khổ trần gian. Tuy nhiên, sự giải thoát ấy không phải dựa vào một thế lực bên ngoài mà bản thân ḿnh phái tự thực hiện lấy, như lời Phật dạy: Hăy tự ḿnh là ngọn đèn soi sáng cho ḿnh, hăy tự ḿnh tạo cho ḿnh chỗ nương tựa, và đừng nương tựa vào ai ngoài bản thân ḿnh.


Bài liên quan

Phật giáo khơi dậy tinh thần dân tộc vượt qua thách thức của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Trước khi có sự du nhập của Phật giáo, tại Việt Nam đă có một nền văn hóa với các tín ngưỡng bản địa khá phong phú. Một trong những nguyên nhân khiến Phật giáo dễ dàng được tiếp nhận, có sức sống lâu bền tại Việt Nam v́ trong nó chứa đựng những nội dung nhân sinh quan phù hợp với tâm thức, bản sắc văn hóa người Việt. Từ khi du nhập vào Việt Nam cách đây trên dưới hai ngh́n năm, Phật giáo đă ḥa nhập vào đời sống dân tộc không phải chỉ trong một giai đoạn, một thời đại mà trong suốt cả trường kỳ lịch sử lâu dài. Trải qua nhiều triều đại phong kiến, mối quan hệ giữa Phật giáo và nhà nước luôn được củng cố v́ chúng song hành cùng tồn tại và phát triển, không bao giờ diễn ra sự tranh chấp giữa giáo quyền và thế quyền. V́ vậy, Phật giáo không chỉ ăn sâu vào đời sống tâm linh mà c̣n đi vào văn hóa dân tộc, trong đó có đạo đức con người Việt Nam.

Trên phương diện đạo đức học, triết lư đao đức Phật giáo được coi là một đường lối sống, mội phương thức sống, một triết lư sống, một cách tu dưỡng thân tâm để thực hiện lẽ sống, hướng tới Niết Bàn, t́m con đường thoát khỏi bể khổ trần gian.

Trên phương diện đạo đức học, triết lư đao đức Phật giáo được coi là một đường lối sống, mội phương thức sống, một triết lư sống, một cách tu dưỡng thân tâm để thực hiện lẽ sống, hướng tới Niết Bàn, t́m con đường thoát khỏi bể khổ trần gian.

Ngay từ khi truyền bá vào nước ta ở đầu thời Bắc thuộc, Phật giáo đă chứng tỏ tính ưu việt của ḿnh, giúp nhân dân bản địa t́m được hệ tư tưởng mới làm đối trọng với hệ tư tưởng Nho giáo của chế độ phong kiến Trung Quốc lúc bấy giờ. Những tư tưởng của đạo Phật đă dần ăn sâu vào tâm thức người Việt, khích lệ nhân dân chống lại ách đô hộ của phong kiến phương Bắc và thực hiện thành công hàng loại cuộc kháng chiến bảo vệ chủ quyền đất nước. Chính v́ thế, đạo đức Phật giáo đă trở thành luân lư sống của các Phật tử và đông đảo các tầng lớp trong xă hội, từ vua chúa, thiền sư, quan lại đến quần chúng nhân dân. Theo Giáo sư Trần Văn Giàu, trong bảng giá trị truyền thống Việt Nam, tư tưởng yêu nước là giá trị đạo đức tinh thần hàng đầu, được h́nh thành trong quá tŕnh dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Biểu hiện đầu tiên, rơ rệt nhất của ḷng yêu nước là tinh thần độc lập dân tộc, ư thức đ̣i quyền tự chủ, tự do và b́nh đẳng cho nước nhà. Ḷng yêu nước c̣n thể hiện ở sự anh dũng, bất khuất trước kẻ thù, sẵn sàng hy sinh tính mạng cá nhân để bảo vệ nền độc lập dân tộc.


Bài liên quan

Lễ Vu Lan – truyền thống tốt đẹp của Phật giáo và Dân tộc

Như chúng ta đă biết, trong Ngũ giới, Phật giáo cấm sát sinh, thực chất là cấm giết người, cấm giết các sinh vật khác một cách cố ư, đồng thời luôn đề cao và tôn trọng sự sống Phật giáo có tư tưởng ḥa b́nh, với cái tâm từ bi, lương thiện. Tuy nhiên, Từ bi của Phật giáo gắn liền với Trí, Dũng, tức là phân biệt thiện - ác, đúng - sai và dám dấu tranh bảo vệ chính nghĩa. Chính v́ vậy, “trừ bạo” để cứu người, cứu dân tộc không phải là việc làm sai. Phật giáo căn cứ vào động cơ, mục đích của hành dộng để phân biệt thiện - ác. Hơn nữa, theo quan niệm của Bồ Tát giới, thấy người bị hại mà không cứu cũng là phạm giới nên việc sẵn sàng chống giặc ngoại xâm đế cứu đồng bào, giải phóng dân tộc lại được xem là việc thiện, việc nhân nghĩa. Đúng như một tác giả đă viết: “Thiện lớn, đức lớn. hợp thời đúng lúc, tùy nghi lúc này là ở cứu dân tộc, quê hương đất nước khỏi cái thảm họa là nạn ngoại xâm. V́ cái thiện lớn, đức lớn đó mà các Phật tử sẵn sàng cầm gươm lên ngựa, sẵn sàng vi phạm giới luật (cấm sát sinh), giết một người để cứu muôn người. Trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng, những người Phật tử không thể giáo điều máy móc ôm khư khư giới luật mà không được giết hại chúng sinh trong đó có cả kẻ thù, quân xâm lược giết hại đồng bào. Không thể v́ một điều thiện nhỏ cho cá nhân mà quên điều thiện lớn cho dân tộc, ở đây phá giới là theo tinh thần phá chấp". Nếu so sánh đạo đức Phật giáo với đạo đức người Việt với nét nổi bật là tinh thần yêu nước th́ thấy có nhiều điểm tương đồng: Nhân sinh quan Phật giáo đă ḥa quyện với tư tưởng yêu nưóc Việt Nam, từ đó, tinh thần từ bi, bác ái được thể hiện thành tinh thần nhân nghĩa. Theo Giáo sư Trần Văn Giàu: “Mặc dù Phật giáo không có chủ nghĩa yêu nước, nhưng đạo Phật Việt Nam tách khỏi chủ nghĩa yêu nước th́ không c̣n giá trị ǵ hết”.

Ngoài đạo lư Từ bi, người Việt c̣n chịu ảnh hưởng sâu sắc cùa một đạo lư nữa trong giáo lư nhà Phật là đạo lư Tứ Ân, gồm ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân quốc gia và ân chúng sinh. Trong đạo lư Tứ ân, ân cha mẹ được coi là quan trọng nhất và có ảnh huởng rất sâu đậm trong t́nh cảm và đạo lư của người Việt Nam, điều này phù hợp với nếp sống, đạo lư, truyền thống của người Việt Nam.

Ngoài đạo lư Từ bi, người Việt c̣n chịu ảnh hưởng sâu sắc cùa một đạo lư nữa trong giáo lư nhà Phật là đạo lư Tứ Ân, gồm ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân quốc gia và ân chúng sinh. Trong đạo lư Tứ ân, ân cha mẹ được coi là quan trọng nhất và có ảnh huởng rất sâu đậm trong t́nh cảm và đạo lư của người Việt Nam, điều này phù hợp với nếp sống, đạo lư, truyền thống của người Việt Nam.

Về triết lư sống, nhân sinh quan Phật giáo cũng khá gần với tư tưởng, tâm hồn người Việt, đặc biệt là tinh thần nhân nghĩa, đạo lư từ bi, tinh thần ḥa hiếu. Tinh thần thương người như thể thương thân này đă biến thành ca dao tục ngữ rất phổ biến trong nhân dân, như: “Lá lành đùm lá rách”, hay "Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng"...

Ngoài đạo lư Từ bi, người Việt c̣n chịu ảnh hưởng sâu sắc cùa một đạo lư nữa trong giáo lư nhà Phật là đạo lư Tứ Ân, gồm ân cha mẹ, ân sư trưởng, ân quốc gia và ân chúng sinh. Trong đạo lư Tứ ân, ân cha mẹ được coi là quan trọng nhất và có ảnh huởng rất sâu đậm trong t́nh cảm và đạo lư của người Việt Nam, điều này phù hợp với nếp sống, đạo lư, truyền thống của người Việt Nam.

Người Việt tiếp nhận đạo Phật không phảỉ chỉ là những nội dung triết lư ẩn chứa trong đó, mà quan trọng hơn là những hành vi đạo đức mang tính hướng thiện.

Người Việt tiếp nhận đạo Phật không phảỉ chỉ là những nội dung triết lư ẩn chứa trong đó, mà quan trọng hơn là những hành vi đạo đức mang tính hướng thiện.


Bài liên quan

Vị Phật của người Việt Nam

Trong lịch sử, Phật giáo vào nước ta một cách ḥa b́nh. Đạo Phật không gây nên sự đảo lộn, hoặc phủ định những giá trị tinh thần, những phong tục, tập quán truyền thống của cộng đồng người Việt. Chính v́ thế, Phật giáo dễ thâm nhập và thấm sâu vào tâm thức người Việt. Mối quan hệ giữa đạo đức Phật giáo với những giá trị đạo đức Việt Nam truyền thống là mối quan hệ hai chiều: Phật giáo ảnh hưởng đến văn hóa, đạo đức truyền thống, và ngược lại, những cơ sở, điều kiện kinh tế - xă hội bản địa đă tạo nên nhiều nét đặc thù của Phật giáo Việt Nam.

Có thể nói, đạo đức Phật giáo đă thực sự ăn sâu vào đạo lư truyền thống dân tộc, ảnh hưởng sâu sắc đến tâm lư, lối sống, phong tục, tập quán của con người. Người Việt tiếp nhận đạo Phật không phảỉ chỉ là những nội dung triết lư ẩn chứa trong đó, mà quan trọng hơn là những hành vi đạo đức mang tính hướng thiện. Họ tiếp thu Phật giáo không phải với tư cách là một hệ tư tưởng với các giáo lư cao siêu mà là những điều rất gần gũi với tâm tư, t́nh cảm của ḿnh, mang tính nhân bản sâu sắc. Phật giáo v́ thế từ yếu tố ngoại sinh đă lan tỏa rộng răi, từng buớc ḥa nhập với nền văn hóa dân tộc, tác động mạnh mẽ đến nếp sống của mỗi con người và trở thành yếu tố nội sinh góp phần thúc đẩy sự vận động và phát triển của cộng đồng dân tộc Việt Nam truyền thống.

florida80 10-07-2019 20:50

Tâm an vạn sự an, ung dung tự tại, tâm rộng thiên địa rộng, không người hiềm khích

Thứ hai, 07/10/2019 | 11:56










Cuộc sống không thể lúc nào cũng thuận tâm vừa ư, không thể chỗ nào cũng hoàn mỹ tinh khôi. Có lúc gặp phải những chuyện thị phi mà chúng ta có giải thích cỡ nào cũng chỉ là uổng sức phí công. Vậy chi bằng chúng ta hăy cười mà bỏ qua, thời gian sẽ trả lời tất cả.


>>Phật pháp và cuộc sống

Làm người, tâm an, vạn sự an, ung dung tự tại, tâm rộng, thiên địa rộng, không người hiềm khích.

Cuộc sống không thể lúc nào cũng thuận tâm vừa ư, không thể chỗ nào cũng hoàn mỹ tinh khôi. Có lúc gặp phải những chuyện thị phi mà chúng ta có giải thích cỡ nào cũng chỉ là uổng sức phí công. Vậy chi bằng chúng ta hăy cười mà bỏ qua, thời gian sẽ trả lời tất cả.

Cuộc sống không thể lúc nào cũng thuận tâm vừa ư, không thể chỗ nào cũng hoàn mỹ tinh khôi. Có lúc gặp phải những chuyện thị phi mà chúng ta có giải thích cỡ nào cũng chỉ là uổng sức phí công. Vậy chi bằng chúng ta hăy cười mà bỏ qua, thời gian sẽ trả lời tất cả.

Kể về người tâm rộng có thể bao dung thiên hạ, trong lịch sử từng có một câu chuyện nhỏ như sau:


Bài liên quan

Thân tâm an lạc có nghĩa là ǵ, thân tâm cái ǵ quan trọng hơn

Tại Đường Vân, Phụng Hóa, Trung Quốc có một gia thôn nhỏ tên là Uông Gia Thôn, trong thôn có hơn chục gia tộc: Lưu, Bối, Hồ, Thành, Đổng, Lạc, Chu, Mao, Trúc, Uông, Chung… cùng chung sống ḥa thuận với nhau, t́nh thân như anh em một nhà. Tất cả những nét đẹp văn hóa truyền thống này đều được bắt nguồn từ Uông Thái Công của Uông gia mà h́nh thành.

Trước đây rất lâu, có một ngày lợn nuôi của nhà họ Uông xổng chuồng chạy sang giẫm hỏng hết rau trong vườn nhà họ Đổng. Người nhà họ Đổng phát hiện nên đă dùng gậy đánh chết lợn nhà họ Uông rồi đem làm thịt ăn. Người nhà họ Đổng ỷ nhà ḿnh người đông thế mạnh, tự nhủ rằng nếu như người nhà họ Uông đến đ̣i th́ sẽ đánh cho một trận nhớ đời.

Sau khi sự việc bị phát hiện, anh em nhà họ Uông tay cầm khí giới chuẩn bị động thủ với gia đ́nh nhà họ Đổng. Uông Thái Công nói: “Lợn nhà ḿnh giẫm hỏng rau người ta, theo lư th́ phải bồi thường, mọi người đừng có gây chuyện nữa”. Các anh em con cháu nghe Uông Thái Công nói vậy th́ đều không phục, Uông Thái Công phải cố gắng lắm mới ngăn chặn được sự phẫn nộ của mọi người.

Tuy nhiên sự việc bất ngờ xảy ra, ba ngày sau đó Đổng lăo gia đột nhiên bị kịch bệnh qua đời. Uông Thái Công lấy đức báo oán, đích thân sang nhà họ Đổng giúp con cháu bên nhà họ Đổng lo liệu ma chay, đồng thời yêu cầu con cháu trong nhà sang đưa tang. Sự việc này khiến gia đ́nh nhà họ Đổng vô cùng hối hận cảm kích tấm chân t́nh của Uông gia.

Một sự việc tưởng chừng như sắp xảy ra xung đột kịch liệt, bỗng nhiên lại được hóa giải một cách nhanh chóng. Anh em con cháu nhà họ Uông cũng vô cùng bội phục sự bao dung cũng như tầm nh́n xa trông rộng của Uông Thái Công. Từ đó về sau có bất kỳ việc ǵ xảy ra họ đều dùng tâm thái khoan dung độ lượng để đối đăi. Ngay cả người bên ngoài nghe thấy vậy cũng lần lượt kéo nhau đến ở khu vực lân cận nhà họ Uông.

Khoan dung không chỉ là thiện lương với người khác mà c̣n là thể hiện của trí tuệ, là đại trí tuệ có thể dung nạp tất cả mọi thứ trên đời.

Kỳ thực, được là phúc, nhưng mất ấy cũng lại là phúc. Được và mất, ai là người có thể phân biệt được rơ ràng là phúc hay họa? Vậy nên đừng để những giả tướng trước mắt làm mê mờ…

Bao dung chính là cách giải thoát cho mọi con đường, cho mọi sai lầm trong cuộc sống. Đôi khi trừng phạt hay trả đũa lẫn nhau cũng chỉ là lấy sai lầm để đối đăi cái sai lầm mà thôi.

Bao dung chính là cách giải thoát cho mọi con đường, cho mọi sai lầm trong cuộc sống. Đôi khi trừng phạt hay trả đũa lẫn nhau cũng chỉ là lấy sai lầm để đối đăi cái sai lầm mà thôi.

Có một câu chuyện khác cũng rất thú vị:

Trước đây có một tiểu ḥa thượng rất ham chơi, tâm tư không hề đặt vào việc tu luyện. Tiểu ḥa thượng thường xuyên trốn ra ngoài chơi đùa, lăo ḥa thượng tuy biết nhưng cũng không hề quở trách.


Bài liên quan

Lắng nghe Đức Phật giảng về 7 kiểu vợ: Chọn kiểu vợ nào cho gia đ́nh hạnh phúc ấm êm, thân tâm an lạc?

Một hôm khi trời đă ngả chiều hôm, trăng tṛn lên cao trên đỉnh núi, những chú dế cũng bắt đầu cất vang khúc nhạc đêm du dương của ḿnh. Tiểu ḥa thượng không thể nhẫn chịu được nữa, chú muốn được tung tăng bay nhảy như những con nai vàng vui tươi bên ḍng suối. Chú nghĩ ngoài kia trăng tṛn vằng vặc, đêm thu trong vắt, gió thổi nhẹ nhàng, hương hoa nhè nhẹ khiến cho ḷng người không khỏi xuyến xao. Gió thu phong cảnh tuyệt vời, nếu được đi dạo th́ c̣n ǵ tuyệt hơn! Tuy nhiên giờ đây cửa đă khóa rồi, làm sao có thể ra ngoài dạo chơi đây?

Tiểu ḥa thượng nảy ra một ư, chú mang chiếc ghế cao ra đặt ở chân tường phía sau bụi cây, rồi từ đó trèo tường nhảy ra ngoài dạo chơi. Đang đêm lăo ḥa thượng đi kiểm tra tự viên th́ phát hiện có chiếc ghế ở chân tường, ông đoán chắc là tiểu ḥa thượng ham chơi lại trốn ra ngoài rồi. “Được, ta sẽ ở đây đợi tiểu ḥa thượng, nhân tiện giáo hóa tṛ ta một chút mới được”, lăo ḥa thượng nghĩ.

Đợi một hồi rất lâu lăo ḥa thượng nghe thấy có tiếng trèo tường, ông nhanh tay đem chiếc ghế ra chỗ khác rồi đứng dưới chân tường chống hay tay xuống đầu gối. Tiểu ḥa thượng nh́n xuống chân tường, thấy đám đen đen cứ nghĩ đó là chiếc ghế hồi tối ḿnh để nên nhón chân bước xuống. Đột nhiên một cảm giác hoàn toàn khác lạ, dưới chân là một thứ nhũn nhũn mềm mềm khiến chú giật ḿnh suưt té ngă.

Quay đầu nh́n lại hóa ra là sư phụ, chú ba chân bốn cẳng co chân chạy nhanh như một làn khói về pḥng, rồi vội vàng nằm trên giường bấm bụng đợi sư phụ đến trách phạt. Tuy nhiên đợi măi mà chẳng thấy ǵ, tiểu ḥa thượng cũng ngủ luôn lúc nào không hay.

Sáng hôm sau, trong buổi học kinh sáng, chú len lén nh́n sư phụ như thể cá nằm trong chậu đợi người xử lư. Tuy nhiên chỉ thấy lăo ḥa thượng rất nghiêm nghị lên lớp chứ không hề nhắc tới chuyện đêm qua khiến cho chú càng cảm thấy bất an. Mấy ngày qua đi, lăo ḥa thượng phát hiện tiểu ḥa thượng đă không c̣n như trước, không c̣n ham chơi, trốn học ra ngoài nữa, lên lớp tham thiền học Pháp cũng chuyên tâm dụng chí hơn nhiều. Và cũng kể từ đó, tiểu ḥa thượng bắt đầu bước trên con đường tinh tấn thường hằng, chuyên cần tu luyện trở thành một ḥa thượng đức cao tuệ sáng.

Bao dung chính là cách giải thoát cho mọi con đường, cho mọi sai lầm trong cuộc sống. Đôi khi trừng phạt hay trả đũa lẫn nhau cũng chỉ là lấy sai lầm để đối đăi cái sai lầm mà thôi. Lăo ḥa thượng đối đăi với tiểu ḥa thượng cũng như Uông Thái Công đối đăi với người nhà họ Đổng, nếu như dùng sự phê b́nh hay đối chất để mà dưỡng dục đúng sai th́ sẽ chỉ gây ra phản tác dụng. Giáo dục tốt nhất chính là để người sai tự nhận biết chỗ không đúng của ḿnh, như vậy mới có thể thành công.

florida80 10-07-2019 20:54

Tâm an vạn sự an, ung dung tự tại, tâm rộng thiên địa rộng, không người hiềm khích

Thứ hai, 07/10/2019 | 11:56










Cuộc sống không thể lúc nào cũng thuận tâm vừa ư, không thể chỗ nào cũng hoàn mỹ tinh khôi. Có lúc gặp phải những chuyện thị phi mà chúng ta có giải thích cỡ nào cũng chỉ là uổng sức phí công. Vậy chi bằng chúng ta hăy cười mà bỏ qua, thời gian sẽ trả lời tất cả.


>>Phật pháp và cuộc sống

Làm người, tâm an, vạn sự an, ung dung tự tại, tâm rộng, thiên địa rộng, không người hiềm khích.

Cuộc sống không thể lúc nào cũng thuận tâm vừa ư, không thể chỗ nào cũng hoàn mỹ tinh khôi. Có lúc gặp phải những chuyện thị phi mà chúng ta có giải thích cỡ nào cũng chỉ là uổng sức phí công. Vậy chi bằng chúng ta hăy cười mà bỏ qua, thời gian sẽ trả lời tất cả.

Cuộc sống không thể lúc nào cũng thuận tâm vừa ư, không thể chỗ nào cũng hoàn mỹ tinh khôi. Có lúc gặp phải những chuyện thị phi mà chúng ta có giải thích cỡ nào cũng chỉ là uổng sức phí công. Vậy chi bằng chúng ta hăy cười mà bỏ qua, thời gian sẽ trả lời tất cả.

Kể về người tâm rộng có thể bao dung thiên hạ, trong lịch sử từng có một câu chuyện nhỏ như sau:


Bài liên quan

Thân tâm an lạc có nghĩa là ǵ, thân tâm cái ǵ quan trọng hơn

Tại Đường Vân, Phụng Hóa, Trung Quốc có một gia thôn nhỏ tên là Uông Gia Thôn, trong thôn có hơn chục gia tộc: Lưu, Bối, Hồ, Thành, Đổng, Lạc, Chu, Mao, Trúc, Uông, Chung… cùng chung sống ḥa thuận với nhau, t́nh thân như anh em một nhà. Tất cả những nét đẹp văn hóa truyền thống này đều được bắt nguồn từ Uông Thái Công của Uông gia mà h́nh thành.

Trước đây rất lâu, có một ngày lợn nuôi của nhà họ Uông xổng chuồng chạy sang giẫm hỏng hết rau trong vườn nhà họ Đổng. Người nhà họ Đổng phát hiện nên đă dùng gậy đánh chết lợn nhà họ Uông rồi đem làm thịt ăn. Người nhà họ Đổng ỷ nhà ḿnh người đông thế mạnh, tự nhủ rằng nếu như người nhà họ Uông đến đ̣i th́ sẽ đánh cho một trận nhớ đời.

Sau khi sự việc bị phát hiện, anh em nhà họ Uông tay cầm khí giới chuẩn bị động thủ với gia đ́nh nhà họ Đổng. Uông Thái Công nói: “Lợn nhà ḿnh giẫm hỏng rau người ta, theo lư th́ phải bồi thường, mọi người đừng có gây chuyện nữa”. Các anh em con cháu nghe Uông Thái Công nói vậy th́ đều không phục, Uông Thái Công phải cố gắng lắm mới ngăn chặn được sự phẫn nộ của mọi người.

Tuy nhiên sự việc bất ngờ xảy ra, ba ngày sau đó Đổng lăo gia đột nhiên bị kịch bệnh qua đời. Uông Thái Công lấy đức báo oán, đích thân sang nhà họ Đổng giúp con cháu bên nhà họ Đổng lo liệu ma chay, đồng thời yêu cầu con cháu trong nhà sang đưa tang. Sự việc này khiến gia đ́nh nhà họ Đổng vô cùng hối hận cảm kích tấm chân t́nh của Uông gia.

Một sự việc tưởng chừng như sắp xảy ra xung đột kịch liệt, bỗng nhiên lại được hóa giải một cách nhanh chóng. Anh em con cháu nhà họ Uông cũng vô cùng bội phục sự bao dung cũng như tầm nh́n xa trông rộng của Uông Thái Công. Từ đó về sau có bất kỳ việc ǵ xảy ra họ đều dùng tâm thái khoan dung độ lượng để đối đăi. Ngay cả người bên ngoài nghe thấy vậy cũng lần lượt kéo nhau đến ở khu vực lân cận nhà họ Uông.

Khoan dung không chỉ là thiện lương với người khác mà c̣n là thể hiện của trí tuệ, là đại trí tuệ có thể dung nạp tất cả mọi thứ trên đời.

Kỳ thực, được là phúc, nhưng mất ấy cũng lại là phúc. Được và mất, ai là người có thể phân biệt được rơ ràng là phúc hay họa? Vậy nên đừng để những giả tướng trước mắt làm mê mờ…

Bao dung chính là cách giải thoát cho mọi con đường, cho mọi sai lầm trong cuộc sống. Đôi khi trừng phạt hay trả đũa lẫn nhau cũng chỉ là lấy sai lầm để đối đăi cái sai lầm mà thôi.

Bao dung chính là cách giải thoát cho mọi con đường, cho mọi sai lầm trong cuộc sống. Đôi khi trừng phạt hay trả đũa lẫn nhau cũng chỉ là lấy sai lầm để đối đăi cái sai lầm mà thôi.

Có một câu chuyện khác cũng rất thú vị:

Trước đây có một tiểu ḥa thượng rất ham chơi, tâm tư không hề đặt vào việc tu luyện. Tiểu ḥa thượng thường xuyên trốn ra ngoài chơi đùa, lăo ḥa thượng tuy biết nhưng cũng không hề quở trách.


Bài liên quan

Lắng nghe Đức Phật giảng về 7 kiểu vợ: Chọn kiểu vợ nào cho gia đ́nh hạnh phúc ấm êm, thân tâm an lạc?

Một hôm khi trời đă ngả chiều hôm, trăng tṛn lên cao trên đỉnh núi, những chú dế cũng bắt đầu cất vang khúc nhạc đêm du dương của ḿnh. Tiểu ḥa thượng không thể nhẫn chịu được nữa, chú muốn được tung tăng bay nhảy như những con nai vàng vui tươi bên ḍng suối. Chú nghĩ ngoài kia trăng tṛn vằng vặc, đêm thu trong vắt, gió thổi nhẹ nhàng, hương hoa nhè nhẹ khiến cho ḷng người không khỏi xuyến xao. Gió thu phong cảnh tuyệt vời, nếu được đi dạo th́ c̣n ǵ tuyệt hơn! Tuy nhiên giờ đây cửa đă khóa rồi, làm sao có thể ra ngoài dạo chơi đây?

Tiểu ḥa thượng nảy ra một ư, chú mang chiếc ghế cao ra đặt ở chân tường phía sau bụi cây, rồi từ đó trèo tường nhảy ra ngoài dạo chơi. Đang đêm lăo ḥa thượng đi kiểm tra tự viên th́ phát hiện có chiếc ghế ở chân tường, ông đoán chắc là tiểu ḥa thượng ham chơi lại trốn ra ngoài rồi. “Được, ta sẽ ở đây đợi tiểu ḥa thượng, nhân tiện giáo hóa tṛ ta một chút mới được”, lăo ḥa thượng nghĩ.

Đợi một hồi rất lâu lăo ḥa thượng nghe thấy có tiếng trèo tường, ông nhanh tay đem chiếc ghế ra chỗ khác rồi đứng dưới chân tường chống hay tay xuống đầu gối. Tiểu ḥa thượng nh́n xuống chân tường, thấy đám đen đen cứ nghĩ đó là chiếc ghế hồi tối ḿnh để nên nhón chân bước xuống. Đột nhiên một cảm giác hoàn toàn khác lạ, dưới chân là một thứ nhũn nhũn mềm mềm khiến chú giật ḿnh suưt té ngă.

Quay đầu nh́n lại hóa ra là sư phụ, chú ba chân bốn cẳng co chân chạy nhanh như một làn khói về pḥng, rồi vội vàng nằm trên giường bấm bụng đợi sư phụ đến trách phạt. Tuy nhiên đợi măi mà chẳng thấy ǵ, tiểu ḥa thượng cũng ngủ luôn lúc nào không hay.

Sáng hôm sau, trong buổi học kinh sáng, chú len lén nh́n sư phụ như thể cá nằm trong chậu đợi người xử lư. Tuy nhiên chỉ thấy lăo ḥa thượng rất nghiêm nghị lên lớp chứ không hề nhắc tới chuyện đêm qua khiến cho chú càng cảm thấy bất an. Mấy ngày qua đi, lăo ḥa thượng phát hiện tiểu ḥa thượng đă không c̣n như trước, không c̣n ham chơi, trốn học ra ngoài nữa, lên lớp tham thiền học Pháp cũng chuyên tâm dụng chí hơn nhiều. Và cũng kể từ đó, tiểu ḥa thượng bắt đầu bước trên con đường tinh tấn thường hằng, chuyên cần tu luyện trở thành một ḥa thượng đức cao tuệ sáng.

Bao dung chính là cách giải thoát cho mọi con đường, cho mọi sai lầm trong cuộc sống. Đôi khi trừng phạt hay trả đũa lẫn nhau cũng chỉ là lấy sai lầm để đối đăi cái sai lầm mà thôi. Lăo ḥa thượng đối đăi với tiểu ḥa thượng cũng như Uông Thái Công đối đăi với người nhà họ Đổng, nếu như dùng sự phê b́nh hay đối chất để mà dưỡng dục đúng sai th́ sẽ chỉ gây ra phản tác dụng. Giáo dục tốt nhất chính là để người sai tự nhận biết chỗ không đúng của ḿnh, như vậy mới có thể thành công.

florida80 10-07-2019 20:55

Nước Đại bi khiến cho thai nhi đă chết sống lại

Thứ hai, 07/10/2019 | 08:56










“Nếu như yêu cầu tự ḿnh hoặc là người khác tiêu tai thoát nạn, hết bệnh khổ nhất định phải sớm tối tụng niệm một quyển kinh A Di Đà, bảy biến chú văng sanh, vài trăm câu Thánh hiệu A Di Đà Phật, nếu như người không biết tụng kinh A Di Đà, th́ chỉ niệm Thánh hiệu A Di Đà Phật cũng được".


>>Những câu chuyện Phật giáo hay nên đọc


Bài liên quan

Đại lễ cầu siêu - Giải oan kết vong thai nhi

Pháp Viên giảng năm ngày tại chùa Hải Sơn ở Đài Đông. Ngày viên măn, những người nghe và người giảng sắp sửa chia tay, cái lúc lưu luyến không rời, bỗng nhiên có một bà lăo khoảng hơn sáu mươi tuổi đến, đưa ra một câu hỏi: “Những điều của cô giảng đều là những đạo lư giải thoát sanh tử luân hồi, cho đến cải ác hướng thiện, thay đổi tâm tánh. Nhưng bây giờ yêu cầu tiêu trừ bệnh hoạn, giải quyết những đau khổ, th́ lại phải cầu pháp như thế nào? Cô có thể từ bi chỉ bày cho được không?”.

Nếu như yêu cầu tự ḿnh hoặc là người khác tiêu tai thoát nạn, hết bệnh khổ v.v… nhất định phải sớm tối tụng niệm một quyển kinh A Di Đà,...

Nếu như yêu cầu tự ḿnh hoặc là người khác tiêu tai thoát nạn, hết bệnh khổ v.v… nhất định phải sớm tối tụng niệm một quyển kinh A Di Đà,...


Bài liên quan

Bài văn phát nguyện sám hối, cầu siêu cho sản nạn, thai nhi

Pháp Viên lúc đó nh́n xem bà lăo này trên cổ có một cái nhọt lớn cổ áo cài lại không được, hở ra khoảng năm - sáu tấc, Pháp Viên suy nghĩ người ngày ắt là muốn cầu phương pháp tiêu trừ bệnh nhọt của bà ta, lúc đó thiệt là tiến thối lưỡng nan, nếu như bảo bà ta cầu Phật, Bồ Tát gia bị, cái nhọt lớn trên cổ sẽ hết, chưa chắc nắm chắc được không? Nếu như không bảo bà ta cầu, nhưng mà đă phô trương Phật pháp vô biên năm ngày rồi, có cảm ứng không thể nghĩ bàn, chung quanh lại có đông người đang chờ nghe, Pháp Viên nhứt thời phải dùng phương tiện khéo léo đáp rằng: “Nếu như yêu cầu tự ḿnh hoặc là người khác tiêu tai thoát nạn, hết bệnh khổ v.v… nhất định phải sớm tối tụng niệm một quyển kinh A Di Đà, bảy biến chú văng sanh, vài trăm câu Thánh hiệu A Di Đà Phật, hoặc vài ngàn câu, vài muôn câu càng tốt; nếu như người không biết tụng kinh A Di Đà, th́ chỉ niệm Thánh hiệu A Di Đà Phật cũng được, nhưng nhứt định phải tụng bài Nguyện sanh Tây phương Tịnh độ trung... sau đó có yêu cầu điều ǵ th́ lại dùng tâm chí thành, niệm Thánh hiệu Quan Thế Âm Bồ Tát và gia tŕ nước chú Đại bi cho uống, nếu thọ mạng ở đời chưa dứt, th́ có thể giảm nhẹ đau khổ của bệnh tật; c̣n nếu thọ mạng ở đời sắp hết, th́ nhờ sức công đức của khóa tụng niệm Phật được văng sanh Tây phương, như thế th́ được măi măi thoát ly bệnh khổ và tử khổ. Đây là phương pháp rốt ráo vậy”.

Niệm Thánh hiệu Quan Thế Âm Bồ Tát và gia tŕ nước chú Đại bi cho uống, nếu thọ mạng ở đời chưa dứt, th́ có thể giảm nhẹ đau khổ của bệnh tật.

Niệm Thánh hiệu Quan Thế Âm Bồ Tát và gia tŕ nước chú Đại bi cho uống, nếu thọ mạng ở đời chưa dứt, th́ có thể giảm nhẹ đau khổ của bệnh tật.


Bài liên quan

Thương con, mẹ hăy niệm Phật nhiều hơn

Ngày tháng như thoi đưa, thời gian như tên bay, thoáng một cái đă một năm trôi qua, Lâm Trản ở Đài Đông lại đến Liên xă, lần này sắc mặt tươi rói vui vẻ, so với năm ngoái như là hai người, bệnh chứng của bà ta đă dứt hẳn không c̣n thấy tăm hơi ǵ nữa, trọng lượng thân thể cũng tăng hơn mười kí, y phục toàn là đồ mới may, đồ cũ không c̣n cái nào mặc vừa nữa, bà ta nói với Pháp Viên rằng: “Thưa bậc nhân sĩ của Đài Đông, mọi người đều yêu cầu tôi đến mời bà đến Đài Đông giảng diễn Phật pháp lần nữa, không những tôi niệm Phật được cảm ứng, mà c̣n bà Phổ Ái Cô, trên cổ có mụt nhọt to, bà dạy bà ta phương pháp niệm Phật và thời khóa tụng niệm, về sau lại xin nước Đại Bi chú uống, bà ta ngày ngày đúng như pháp mà làm, cái mụt nhọt to của bà ta đă hết hẳn, cổ áo cũng đă cài lại được rồi, ai thấy cũng đều khen là “kỳ diệu”.

Niệm Phật với tâm thành kính, hướng về chư Phật sẽ nhận được sự cứu giúp linh ứng của chư Phật.

Niệm Phật với tâm thành kính, hướng về chư Phật sẽ nhận được sự cứu giúp linh ứng của chư Phật.


Bài liên quan

Thuốc A Già Đà trị được vạn bệnh

Bà Trản lại nói tiếp: “Không những mụt nhọt to của Phổ Ái Cô tiêu trừ, được cảm ứng, cái việc càng khiến cho người khó tin hơn nữa chính là việc con dâu của Phổ Ái Cô, cô ta ở trên núi vùng phụ cận của Đài Đông, đă có mang mười tháng, người phụ nữ này rất là siêng năng làm lụng, tự nghĩ sắp tới ngày sanh nở rồi, trong ngoài cần phải dọn dẹp cho sạch sẽ, cả phân trong chuồng heo cũng gánh hết mấy gánh, không ngờ từ hôm đó thai nhi ở trong bụng không c̣n động đậy nữa, hỏi thăm những người lớn ở trên núi, người ta nói là lúc quét dọn làm sạch chuồng heo động thổ, động đến thai khí, đến ngày thứ ba vẫn không động đậy ǵ, người phụ nữ mang thai này, sáng sớm đă xuống núi đến t́m mẹ chồng cô ta, Phổ Ái Cô lại không có ở nhà, cô ta tự đi đến khoa phụ sản để khám, bác sĩ phụ sản nói: “Thai nhi ở trong bụng của cô chết đă ba ngày rồi, tự ḿnh sanh không phải là việc dễ, ắt phải dùng đến khí cụ cắt thai nhi ra từng miếng, từng miếng lấy ra, hoặc là phải phẫu thuật mới đem thai nhi chết ra được. Ngoài ra không c̣n cách nào khác”.

Niệm Phật có thể giải trừ tất cả bạo bệnh.

Niệm Phật có thể giải trừ tất cả bạo bệnh.


Bài liên quan

Có phải pháp môn niệm Phật, nguyện văng sanh là đi ngược lại với giáo lư nhà Phật?

Người phụ nữ mang thai đắn đo suy nghĩ, việc phẫu thuật lấy thai nhi ra không phải là việc nhỏ, không có mẹ chồng hay chồng cho phép, cô không dám chủ động, liền trở về trên núi, lại trải qua bốn ngày nữa, thai nhi trong bụng vẫn không có động đậy ǵ, cô ta lại xuống núi lần nữa t́m mẹ chồng: Phổ Ái Cô, nói rơ việc thai nhi bất động đă bảy ngày rồi, Phổ Ái Cô liền dẫn con dâu đến một bác sĩ phụ khoa khác khám. Vị bác sĩ này cũng chẩn đoán y như vị bác sĩ trước, nói thai đă chết trong bụng bảy ngày rồi, không cắt thai nhi ra từng miếng từng miếng lấy ra, hoặc phẫu thuật th́ không được! Phổ Ái Cô dẫn con dâu đi về, quỳ trước bàn Phật, thắp hương đốt đèn dạy con dâu xưng niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, bà ta bắt đầu tụng kinh. Sau đó niệm một ly nước chú đại bi, bảo con dâu uống và phải chí tâm cầu xin Phật, Bồ Tát pḥ hộ, hy vọng tử thai trong bụng con dâu sanh ra được cách tự nhiên, không phải đau đớn, phiền phức v́ mổ xẻ, lúc đó mặt trời cũng đă lặn rồi, Phổ Ái Cô liền giữ con dâu ở lại ngủ với bà không phải về núi. Đang ngủ nửa đêm con dâu bà kêu mẹ chồng nói: “Thai nhi trong bụng động đậy lại rồi”. Mẹ chồng cô ta đáp lại cô ta rằng: “Chắc là Phật, Bồ Tát pḥ hộ, tử thai sắp sanh ra đấy”. Đến sáng, thai nhi của người phụ nữ mang thai này đă động đậy b́nh thường như trước, sức khỏe cũng khỏe khoắn nhiều, không c̣n chút ǵ khó chịu nữa, liền lại trở về trên núi, lại trải qua một tuần lễ, người phụ nữ mang thai này sanh ra một bé trai rất là thuận lợi, mẹ con đều b́nh an vô sự. Hồng Lâm Trản đến Liên xă nói ra việc này, thật là một sự linh cảm kỳ dị, rất nhiều người nghe, chắt lưỡi khen là kỳ lạ măi không thôi.

(Trích cuốn sách "Những Chuyện Niệm Phật Mắt Thấy Tai Nghe" - Tác giả: Nữ cư sĩ Lâm Khán Trị - Việt dịch: Thích Hoằng Chí).

florida80 10-07-2019 20:56

Phật là cơm

Thứ hai, 07/10/2019 | 05:22










Phật dạy rằng có “Hằng Hà sa số chư Phật” và “Ta là Phật đă thành. Chúng sinh là Phật sẽ thành.” Do đó tôi tin chắc rằng từ sơ tổ như Ca Diếp, Mă Minh…xuống tới Lục Tổ Huệ Năng và rất nhiều Thiền sư lừng danh của Trung Hoa, cả đức Vua Trần Nhân Tông của Việt Nam…đều đă thành Phật.


>>Phật tử có thể đọc thêm loạt bài về Đức Phật

Câu chuyện:

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Một ông tăng tu Thiền tới hỏi Ḥa thượng:

- Xin Ḥa thượng cho một câu ngắn gọn “Phật Là Ǵ?” để con tỏ ngộ và giảng dạy cho đại chúng.

Ḥa thượng đáp:

- Phật là cơm.

Ba ngày sau ông tăng đến gặp Ḥa thượng, thưa:

- Con không hiểu ǵ cả.

Ḥa thượng nói:

- Về suy nghĩ thêm ba ngày.

Ba ngày sau vị tăng đến bạch Ḥa thượng:

- Con vẫn chưa hiểu.

Ḥa thượng nói:

- Suy nghĩ thêm ba ngày nữa.

Ba ngày sau vị tăng đến gặp Ḥa thượng. Ḥa thượng hỏi:

- Đă ăn cơm chưa?

Vị tăng đáp:

- Ăn rồi.

Giờ cơm ở đâu?

- Cơm ở trong bụng.

Cơm giờ biến thành ǵ?

- Thành dưỡng trấp nuôi cơ thể.

C̣n thấy cơm nữa không?

- Dạ không.

Nghe trả lời thế, Ḥa thượng nói:

- C̣n hỏi nữa ta đánh ba mươi hèo.

Nói xong đạp vị tăng té lăn cù. Ngay lúc đó vị tăng đại ngộ.

Kiến giải của người viết:

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Vị tăng đại ngộ cái ǵ đây?

- Nếu chúng ta nói, “Phật là vị đại giác ngộ” th́ Phật chỉ là ngôn từ và chúng ta không biết Phật giác ngộ như thế nào.

- Nếu chúng ta nói, “Phật là người có 32 tướng tốt” th́ cũng giống như đi xem thi sắc đẹp, chỉ thấy h́nh tướng bên ngoài mà chẳng thấy sâu thẳm bên trong của con người đó.

- Nếu ta chiêm ngưỡng tượng Phật để h́nh dung ra Phật th́ đó chỉ là ông Phật bằng ngọc, vàng, đồng hay gỗ, đá. Đó là “ông Phật chết”.

- Nếu chúng ta nghe kinh Phật để hiểu Phật th́ Phật cũng chỉ là âm thanh. Nhiều khi đọc tụng như một cái máy rốt cuộc “đâu vẫn hoàn đó”. Rồi chúng ta muôn đời vẫn chỉ là chúng sinh ngụp lặn trong sinh-tử luân hồi.

Trụ vào những thứ đó th́ Phật vẫn là Phật, ta vẫn là ta. C̣n nếu “Phật là cơm” th́ khi “chưa ăn cơm” tức chưa giác ngộ th́ Phật là Phật, ta là ta. C̣n khi đă “ăn cơm” tức Phật đă vào trong ta th́ ông Phật này biến thành sức sống của cơ thể, nuôi sống thân ta, tâm trí ta. Rồi bao nhiêu cặn bă, uế trược, phiền năo được tống ra ngoài.

Thiền tông hay các thiền sư thuở xưa không dừng ở chỗ thờ Phật hay tán dương Phật mà t́m cách biến ḿnh thành Phật. Thiền tông hay các thiền sư không chỉ tán thán (ca ngợi) Phật mà giác ngộ rồi hành Thiền để hưởng ngay chỗ chứng đắc của chư Phật là an nhiên, tự tại, không vướng mắc.

Thiền tông hay các thiền sư không cầu xin Phật cứu độ mà tự độ. Tự độ, tự giải thoát là yếu chỉ và sức mạnh của Thiền Tông.

Do đó có thể nói Thiền Tông thật ghê gớm, thật đáng nể và đáng sợ. Chúng ta chớ coi thường Thiền và đùa rỡn với Thiền. Qua nghiền ngẫm các công án, Thiền là một tông phái khiến Phật Giáo trở nên sống động, khiến Đạo Phật không phải chỉ là tôn giáo đầy lễ nghi, tụng đọc, cầu nguyện, van xin như các tôn giáo khác. Chỉ trụ ở những thứ này th́ tín đồ và ngay cả tu sĩ sẽ trở nên ù ĺ, luẩn quẩn trong tham dục và sinh tử luân hồi, rồi chờ giáo chủ cứu rỗi khi chết. Tôn chỉ của Thiền Tông là “tự thắp đuốc lên mà đi” để được như Phật.


Bài liên quan

Đặc tính hoằng pháp của Đức Phật

Ở Thiền Tông, phải ngộ trước rồi mới tu. Chưa giác ngộ mà nói tu Thiền là hỏng, giống như người mượn áo của vua mặc vào nhưng không phải là vua, tức không phải Thiền sư. Nhưng nói ngộ là ngộ cái ǵ? Là chợt thấy trong một phút giây tuyệt vời hay tuyệt vọng nào đó “Phật tánh” hay “chân lư Phật” hiển lộ ngay trong tâm trí ḿnh. Người nào chỉ nghe nói, hay nghe giảng thuyết về Phật tánh mà không trực giác thấy Phật tánh ở ngay trong con người ḿnh th́ tu pháp môn ǵ cũng hỏng chứ đừng nói tu Thiền. Người tu mà chưa thấy Phật tánh hiển lộ một cách sống động, như máu tuần hoàn trong cơ thể, như hơi thở, như mạch sống trong tâm ḿnh… mà tu… th́ cũng giống như người đi đào vàng mà không nh́n thấy quặng vàng ở dưới đất, sẽ uổng công vô ích. Chính v́ thế mà các Thiền sư cầu đạo dù bị Tổ đập cho mấy hèo, đạp cho mấy đạp, bẹo mũi, la hét vào mặt hoặc nói thẳng “đồ vô dụng”…mà bỗng cười lên ha hả v́ nhờ đó hốt nhiên đại ngộ.

Nghiền ngẫm công án là cửa ngơ để bước vào Thiền. Trong Thiền Luận của Đại Sư Suzuki (bản dịch của Tuệ Sĩ), “Không có công án, ư thức Thiền mất điềm chỉ viên (người hướng dẫn) và sẽ không bao giờ có trạng thái chứng ngộ.”

Muốn biết sự sống động của Đạo Phật, sự dơng mănh tuyệt vời, sự quyết liệt, gian khổ của các Thiền sư, xin xem thêm công án ‘Phật là ba cân gai” của Động Sơn. Rồi giai thoại, có một ông tăng hỏi Nam Viện, “Thế nào là Phật?” Sư bèn hỏi lại, “Cái ǵ không là Phật?”. Rồi một lần khác sư lại đáp, “Tôi không quen ông ta.” Rồi một lần khác lại nói, “Chờ lúc nào có Phật tôi sẽ nói cho nghe.”


Bài liên quan

3 lời nguyện quan trọng nhất của Đức Phật A Di Đà đối với chúng sinh cơi Sa Bà

Rồi thủ đoạn quyền nghi của Mă Tổ chưa thuyết pháp (thượng ṭa) mà đă nói thuyết pháp xong (hạ ṭa) để dạy đệ tử h́nh ảnh sống động, hiện ra trước mắt của “Sắc tức thị Không”. Mà nh́n thấy “Sắc tức thị Không”. (chứ không phải đọc tụng, hay nói suông) tức đă chứng đắc trí tuệ Bát Nhă.

Trong Thiên Chúa Giáo không có chuyện tu để trở thành Chúa.

Trong Hồi Giáo không có chuyện tu để trở thành đấng Allah

Trong Ấn Giáo không có chuyện tu để trở thành Thượng Đế (Brahma)

Chỉ trong Phật Giáo mới có chuyện bất cứ ai cũng có thể trở thành Phật. Cho nên Phật dạy rằng có “Hằng Hà sa số chư Phật” và “Ta là Phật đă thành. Chúng sinh là Phật sẽ thành.” Do đó tôi tin chắc rằng từ sơ tổ như Ca Diếp, Mă Minh…xuống tới Lục Tổ Huệ Năng và rất nhiều Thiền sư lừng danh của Trung Hoa và cả đức Vua Trần Nhân Tông của Việt Nam…đều đă thành Phật. Xin đảnh lễ các Thiền sư.

florida80 10-07-2019 20:57

Đi tu: Một tập tục của người Khmer, miền Tây Nam bộ

Chủ nhật, 23/06/2019 | 21:34










Ngày nay, tục đi tu vẫn c̣n phổ biến trong người Khmer ở miền Tây Nam bộ. Bởi v́ tu không phải để thành Phật mà để thành người, chuẩn bị cho cuộc sống tốt đẹp ở ngày mai, là một cơ hội tốt để cho họ được học chữ nghĩa, đạo lư và rèn luyện đức hạnh.


>>Những giáo lư Phật giáo nên đọc

Người Khmer ở hầu hết các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long thường sống thành từng vùng, có nơi chiếm tới 70% dân số, tập trung nhiều ở các tỉnh giáp biên giới Campuchia như vùng Bảy Núi (Tịnh Biên, Tri Tôn), Hà Tiên (Kiên Giang), Vĩnh Châu (Sóc Trăng). Dân tộc Khmer thuần theo đạo Phật tiểu thừa.


Bài liên quan

Nữ diễn viên, người mẫu, ca sĩ Soe pyae thazin (Myanmar) xuất gia

Ở đồng bằng sông Cửu Long có hơn 440 ngôi chùa lớn nhỏ của người Khmer, mỗi chùa có ít nhất 5 -10 ông lục, nhiều khi đến 60 - 70 ông ăn ở, học tập tu hành. Các ông lục, c̣n gọi là sư săi, là con em người bổn sóc. Gia đ́nh nào có con trai từ 12 tuổi trở lên đều cho vào chùa tu, có thể 3 tháng hoặc 3-4 năm hay trọn đời tuỳ ư, để học kinh, học chữ, rèn luyện thành người có trí thức và đức hạnh.

Ngày xưa, nếu người con trai nào không qua giai đoạn tu trong chùa th́ bị xă hội và gia đ́nh cho là bất hiếu và lớn lên rất khó lấy vợ. Bởi v́ người con gái Khmer đến tuổi lấy chồng, thường chọn những chàng trai đă qua tu luyện trong chùa, đă hoàn tục. Theo họ, đó là người đă hoàn thành nghĩa vụ và học được cách làm người, nhất là biết chữ nghĩa, được mọi người trọng vọng.

Ngày nay, tục đi tu vẫn c̣n phổ biến trong người Khmer ở miền Tây Nam bộ. Bởi v́ tu không phải để thành Phật mà để thành người. Ảnh: Dân Việt

Ngày nay, tục đi tu vẫn c̣n phổ biến trong người Khmer ở miền Tây Nam bộ. Bởi v́ tu không phải để thành Phật mà để thành người. Ảnh: Dân Việt


Bài liên quan

Điều ǵ đă xảy ra với 1 số người giàu nhất thế giới: Người xuống tóc đi tu, người chuyên tâm Thiền định...?

Lễ đi tu thường được tổ chức vào ngày đầu tết Chôl Chnâm Thmây. Vào ngày này, gia đ́nh nào muốn đưa con vào chùa tu (vài tháng trước đó, người con trai này phải vào chùa học thuộc vài bài kinh cơ bản) sẽ tổ chức một lễ gọi là Bank-Bom-Buôn để người đi tu từ giă họ hàng, bạn bè và được mọi người cầu chúc sức khoẻ. Khi vào lễ, anh ta cạo đầu, thay quần bằng chiếc xà rông, thay áo bằng một khăn vải trắng đắp lên vai từ trái sang phải gọi là Pênexo, chứng tỏ rằng anh ta từ bỏ thế tục. Lúc đó người ta gọi anh là Nec (rồng).

Theo truyền thuyết từ kinh điển Phật giáo, ngày xưa có một con rồng tu luyện thành người và xin được vào tu theo đức Phật. Một hôm, khi ngủ trưa rồng hiện nguyên h́nh. Môn đệ khác của đức Phật phát hiện ra liền báo ngay. Đức Phật trục xuất rồng khỏi hàng môn đệ, v́ không phải người th́ không được tu. Rồng khóc van xin, nhưng không lay chuyển được ḷng đức Phật. Cuối cùng rồng xin đức Phật ban cho một ư nguyện là sau này, những ai bước chân vào tu cũng phải gọi bằng tên tộc là Nec. Từ đó đến nay, từ "nec" dùng để gọi nhà sư tương lai và cũng để nhớ đến truyền thuyết trên.

Để vào lễ, buổi tối họ mời các nhà sư đến tụng kinh, cúng tam bảo và thọ giới theo Phật. Sáng hôm sau, khi cơm nước xong, họ đưa anh con trai lên chùa, có bạn bè thân quyến mang lễ vật cùng đi theo.

Người dân đưa con em đến nhập tu báo hiếu tại các chùa ở huyện Tịnh Biên (An Giang). (Ảnh: Trọng B́nh)

Người dân đưa con em đến nhập tu báo hiếu tại các chùa ở huyện Tịnh Biên (An Giang). (Ảnh: Trọng B́nh)


Bài liên quan

Tài tử Thái Lan - Tor Thanapob đi tu báo hiếu cha mẹ

Đến chùa, họ đi ṿng quanh chánh điện ba ṿng rồi mới vào trong làm lễ. Ở đây có một nhà sư ngồi gọi là Uppachhe giảng dạy, hỏi và đọc các điều của luật tu hành cho các nec nghe. Sau đó nec mới cầm áo cà sa đi vào hàng giữa sư thầy và đọc lời xin tu. Khi vị Thượng toạ chấp thuận th́ nec mới đi thay xà rông và khăn trắng bằng áo cà sa.

Tiếp theo là lễ thọ giới 10 điều của Phật giáo: 1. Không sát sinh; 2. Không trộm cắp; 3. Không tà dâm; 4. Không nói láo; 5. Không uống rượu; 6. Không ăn ngoài bữa; 7. Không xem múa hát; 8. Không dùng đồ trang sức; 9. Không chiếm ghế cao và giường êm; 10. Không đụng đến vàng bạc. Cuối cùng các nhà sư cùng Phật tử tụng kinh cầu phước cho người mới tu hành và chúng sinh để chấm dứt buổi lễ.

Đi tu đồng thời theo nếp nghĩ truyền thống cũng là một cách tích phước cho cha mẹ, gia đ́nh và chính bản thân. Tuy nhiên, ngày nay người con trai Khmer v́ theo học ở một trường nào đó hoặc có những gia đ́nh quá khó khăn, thiếu lao động th́ không phải đi tu và luật tu hành cũng không quá khắt khe như xưa nữa.

florida80 10-07-2019 20:59

Tâm vô thường

Thứ hai, 07/10/2019 | 07:43










Người tu Phật phải thấy được lẽ thật, thấy được tâm vô thường của ḿnh, mới có thể giảm thiểu những cay đắng trong ḷng. Có những niềm vui thông thường trong cuộc sống khi chúng ta ḥa hài, buông xả hết mọi muộn phiền, đó chính là những niềm vui chân thật đơn sơ b́nh dị mà không phải t́m kiếm ở đâu xa.


>>Phật tử cùng đọc thêm loạt bài về Lời Phật dạy

Có những niềm vui thông thường trong cuộc sống khi chúng ta ḥa hài, tươi tắn, buông xả hết mọi muộn phiền, đó chính là những niềm vui chân thật đơn sơ b́nh dị nhất mà không phải t́m kiếm ở đâu xa. Ảnh minh họa

Có những niềm vui thông thường trong cuộc sống khi chúng ta ḥa hài, tươi tắn, buông xả hết mọi muộn phiền, đó chính là những niềm vui chân thật đơn sơ b́nh dị nhất mà không phải t́m kiếm ở đâu xa. Ảnh minh họa

Chúng ta thử nghiệm xem cuộc đời có bao giờ vui trọn vẹn không? Không khi nào. Hồi sáng cười thôi là cười, nhưng chút nữa giận thôi là giận. Một miếng ăn không vừa ư, một lời nói không hài ḷng, một cử chỉ không thích hợp với ta là bực bội, tức tối, sân hận ngập trời. Từ đó mà tạo nghiệp. Cho nên chỉ một ngày ngắn ngủi, chúng ta c̣n chưa có được niềm vui trọn vẹn, huống chi những năm tháng lâu dài!


Bài liên quan

'Vô thường' trong cuộc sống

Chúng ta có đủ thứ lư do để phiền năo, cay cú. Khi giận th́ giận luôn cả trời đất. Ví dụ nóng quá ta nổi giận với ông Trời: “Không biết ổng để nước trên đó làm ǵ mà không chịu mưa xuống cho người ta nhờ!”. Rồi nhằm hôm Phật tử đi chùa đông đảo, trời đổ mưa tầm tă, đường lầy lội bà con trợt té. Thế là ta tức giận thán oán Trời đất không biết điều: “Người ta đi chùa mà nổi sấm nổi chớp, không chút kiêng kỵ”. Chúng ta luôn luôn bất ổn với những tâm niệm không hoàn chỉnh của ḿnh.

Người tu Phật phải thấy được lẽ thật, thấy được tâm vô thường của ḿnh, mới có thể giảm thiểu những cay đắng trong ḷng. Có những niềm vui thông thường trong cuộc sống khi chúng ta ḥa hài, tươi tắn, buông xả hết mọi muộn phiền, đó chính là những niềm vui chân thật đơn sơ b́nh dị nhất mà không phải t́m kiếm ở đâu xa.

Nói như thế không có nghĩa là ta chấp nhận những thứ vui nhộn trên con thuyền đang bấp bênh. Bởi có những thú vui mà đằng sau của nó là tâm trạng bất an bất ổn, là sự đổi thay vô định không được chuẩn bị, đây không gọi là niềm vui chân thật. Trong cuộc đời có những nụ cười ra nước mắt. Hoặc có khi người ta chết đứng, v́ quá khổ đau, không c̣n nước mắt ngôn từ để diễn tả nỗi cay đắng cùng tột trong ḷng. Cả hai trường hợp này đều diễn tả sự đau khổ.

Quả thực hằng ngày ta sống với bao nhiêu là niệm tạp loạn, bây giờ muốn yên phải loại trừ nó ra. V́ vậy đ̣i hỏi ta phải dừng lại, để thấy sâu lắng hơn, thấy tận căn đế của từng vấn đề. Ảnh minh họa

Quả thực hằng ngày ta sống với bao nhiêu là niệm tạp loạn, bây giờ muốn yên phải loại trừ nó ra. V́ vậy đ̣i hỏi ta phải dừng lại, để thấy sâu lắng hơn, thấy tận căn đế của từng vấn đề. Ảnh minh họa

Chúng ta nên xem xét trong cái vui của ḿnh, nếu vui theo cảnh duyên bên ngoài th́ không phải là niềm vui chân thật. Ngược lại, cái vui nhẹ nhàng xuất phát từ tận đáy ḷng, không lệ thuộc bất cứ sự đổi thay nào, đây chính là niềm vui chân thật. Từ đó chúng ta nghiệm thấy lời Phật nói là không sai ngoa. Nếu chạy theo thú vui tạm bợ của cuộc đời th́ phải chịu đau khổ, c̣n biết dừng lại, buông xả các thứ cố chấp th́ an vui, hạnh phúc măi măi.


Bài liên quan

Giữa đời vô thường, ta đang là ai?

Chúng ta đă học bài học này từ lâu rồi, chứ không phải mới đây nhưng v́ quên, nên mỗi lần đương đầu với sự đổi thay th́ ta khổ. Như ta cũng biết rất rơ thân này có sinh th́ có tử, sống chết là lẽ thường, nhưng khi người thân sắp chết ta liền hốt hoảng, than khóc, không ai ngăn được. Tệ hơn nữa, có khi không phải chuyện của ḿnh ta vẫn chảy nước mắt ngon lành. Cho nên thi hào Nguyễn Du đă nói: “Khéo dư nước mắt khóc người đời xưa” là vậy. Chúng ta dễ khóc quá. Điều này chứng tỏ ḷng ḿnh mềm yếu, không có nội tại vững vàng để đối diện với những ḍng xoáy của cuộc đời. Nước xoáy của cuộc đời chính sự chao đảo, gập ghềnh, không ổn của ḿnh. Nó lại liên tục và vô tận. Cho nên rồi chúng ta nói tu mà chẳng tiến được bao nhiêu, bởi sóng đời vây phủ hết rồi. V́ vậy mà ta khổ.

Người tu thiền phải có định, muốn định phải ngồi thiền. Ngồi thiền muốn yên phải buông hết các thứ vọng tưởng. Quả thực hằng ngày ta sống với bao nhiêu là niệm tạp loạn, bây giờ muốn yên phải loại trừ nó ra. V́ vậy đ̣i hỏi ta phải dừng lại, để thấy sâu lắng hơn, thấy tận căn đế của từng vấn đề. Một khi đă thấy được rơ ràng rồi ta mới làm chủ được ḿnh. Đó là lẽ thực trong khi tu.

florida80 10-07-2019 21:00

Xuất gia sau khi báo hiếu cha mẹ có quá trễ không?

Chủ nhật, 06/10/2019 | 12:10










Xuất gia là người có chí hướng cao cả, trong đời không v́ sánh bằng vị Sa môn đạo hạnh của Phật Thích Ca Mâu Ni. Người xuất gia th́ không c̣n ǵ ràng buộc, đây chính là cơ hội Phật tử cống hiến cho Phật Pháp và viên thành đạo nghiệp.


>>Phật tử có thể đọc loạt bài về xuất gia

Hỏi: Bạch Ḥa Thượng Giác Quang!

Con rất muốn xuất gia tu học theo Liên Tông Tịnh Độ Non Bồng. Tuy nhiên, con có nguyện như vầy, mong Ḥa thượng giúp đỡ cho con. Nhà con chỉ có ḿnh con là trai c̣n mẹ con th́ không b́nh thường. Ba mẹ con đă ly dị và hiện tại cả hai đều đă có gia đ́nh khác. Ngoại con già yếu muốn học được thành tài, để báo hiếu, có người kế lo cho gia đ́nh, rồi sau dó mới xuất gia như vậy có là quá trễ không thưa thầy? Làm thế nào để gia đ́nh con bớt khổ được ạ. Con xin thành kính tri ân thầy.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Đáp: Xuất gia là người có chí hướng cao cả, trong đời không v́ sánh bằng vị Sa môn đạo hạnh của Phật Thích Ca Mâu Ni.

Người xuất gia th́ không c̣n ǵ ràng buộc, đây chính là cơ hội Phật tử cống hiến cho Phật Pháp và viên thành đạo nghiệp.


Bài liên quan

Ư nghĩa và lợi ích của việc xuất gia gieo duyên

Tuy nhiên theo lời của Phật tử tŕnh bày th́ gia đ́nh quá đơn chiếc: Bố mẹ chỉ có một trai, mẹ không b́nh thường có gia đ́nh khác, ngọai già…chắc chắn c̣n nữa, nhưng Phật tử không kê khai thêm, chẳng hạn như kinh tế gia đ́nh hạn chế...

Ôi thôi th́ biết bao nhiêu là khổ, khổ khổ mà. Đấy cũng chính là chân lư chắc thật mà Đức Phật từng tuyên thuyết tại công viên Thành phố Lộc Uyển, ngài đă vạch mặt mày cho thấy mặt trái của vạn khổ đang áp đặt sự trầm thống lên chúng sanh trong đó có con người.

Tuy nhiên nhà Phật có thể giải quyết những khổ đau cho Phật tử, với những trường hợp như sau:

1. Mẹ không b́nh thường th́ Phật tử nuôi, Mẹ có gia đ́nh khác theo thầy th́ Phật tử vẫn phải nuôi, kể cả nuôi Ngoại. Nếu c̣n Bố th́ phải phụng dưỡng luôn cả Bố. Làm người con Phật dù có khổ đến mức độ nào đi nữa cũng phải phụng dưỡng các đấng sanh thành, đấy mới gọi là hiếu đạo của Nhà Phật.

2. Mẹ đă không b́nh thường, ai mà thương yêu Mẹ nữa, chỉ có làm con mới thương và nuôi Mẹ mà thôi. Ngọai già, vậy th́ Phật tử cứ gởi Mẹ, Ngọai vào chùa, vào Tu viện, vào Liên Viện Tịnh Độ Quan Âm Tu Viện của Sư Bà Huệ Giác đấy. Đồng thời Phật tử cũng phát tín tâm xuất gia th́ cũng chẳng có ǵ là trở ngại. Trường hợp nầy là cơ duyên Phật Pháp đă đến, chứ không phải như mọi người suy nghĩ “Do nghèo mà vào chùa”. Đấy cũng chính là cách báo hiếu của người con Phật trong giai đoạn mới.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

3. Trường hợp Phật tử có tài sản th́ vừa đi học cho thành tài, vừa nuôi Mẹ, nuôi Ngoại, báo hiếu cho đến khi Mẹ, Ngọai qua đời rồi đi tu cũng không muộn. v́ lẽ báo ân báo hiếu cũng chính là tu rồi đó. Báo ân báo hiếu là hạnh Phật.

Đức Phật dạy: “…trong nhà, nhà trên thờ Phật, nhà dưới thờ Cha Mẹ, Cha Mẹ chính là Phật nhà dưới đấy…”.

4. Ba trường hợp trên, tâm ư bạn ở vào trường hợp nào cũng là Phật tử, cũng chính là người tu Phật đấy.

Người đời bảo: “Đời nay hiếm có” như trên lắm! Nhưng với nhà Phật th́ không hiếm, rất nhiều người thực hiện hạnh lành như thế, bạn ạ!

Phật tử cố gắng niệm Phật, giữ vững tâm hồn làm con Phật là hạnh phúc nhất bạn ạ!

florida80 10-07-2019 21:01

Tưởng vô thường, tưởng vô ngă, thoát mọi khổ đau

Thứ hai, 02/09/2019 | 06:10










Nên tu tưởng vô thường, nên quảng bá tưởng vô thường. Đă tu tưởng vô thường, quảng bá tưởng vô thường th́ đoạn ái dục giới, ái sắc giới, ái vô sắc giới, đoạn hết vô minh, đoạn hết kiêu mạn.


>> Phật tử có thể đọc loạt bài về Lời Phật dạy

Đă tu tưởng vô thường, quảng bá tưởng vô thường th́ đoạn ái dục giới, ái sắc giới, ái vô sắc giới, đoạn hết vô minh, đoạn hết kiêu mạn.

Đă tu tưởng vô thường, quảng bá tưởng vô thường th́ đoạn ái dục giới, ái sắc giới, ái vô sắc giới, đoạn hết vô minh, đoạn hết kiêu mạn.

Thế giới ngày nay đang trở nên điên đảo do loạn tưởng. Tưởng rằng kinh tế phát triển, đời sống người dân được ấm no, hạnh phúc khi chính phủ chủ trương cho phép người dân đốt rừng Amazon, lấy đất trồng cỏ nuôi gia súc. Nào ngờ, hàng chục ngàn hecta rừng bị tàn phá v́ ‘lửa tham’ của con người, giết hại vô số hữu t́nh, tàn phá hệ sinh thái, gây ô nhiễm môi trường trên diện rộng, khiến cả thế giới quan ngại về hiện trạng nghiêm trọng của ‘lá phổi’ Trái Đất. Tưởng rằng những cuộc chạy đua vũ trang, những cuộc thử nghiệm tên lửa mang lại b́nh an cho đất nước, nào ngờ khiến dân t́nh sống trong cảnh đói nghèo, thế giới bất an, sống trong căn thẳng và nỗi sợ hăi thường trực của sự hủy diệt….

chay rung amazon


Bài liên quan

Vô Ngă trong tư tưởng Phật giáo

Về mặt cá nhân, tưởng đây là sắc thân của ḿnh, tưởng rằng quan kiến của ḿnh là đúng, là hợp lư, là ưu việc, bác bỏ luận điểm, hoặc không tôn trọng quan kiến của người khác, cho nên xảy ra xung đột, đấu tranh khắp đó đây. Rơ ràng thế giới đang hỗn loạn v́ ‘cái tưởng’ sai lầm của các cá nhân. Chính v́ tưởng điên đảo này mà khiến hữu t́nh ngay trong kiếp này chịu nhiều khổ nạn mà vô lượng kiếp thay h́nh đổi dạng trong sáu nẻo luân hồi, nhất là tam ác đạo. Nhưng, không biết rằng tưởng vô thường, tưởng vô ngă, không có tự tánh. Ai thường quán tưởng vô thường, tưởng vô ngă, th́ sẽ được giải thoát mọi ách nạn, niết bàn ngay trong hiện tại, như lời Phật dạy trong nhiều bài kinh của Nikàya và Hán tạng.

Trong Kinh Phật Tự Thuyết trong Tiểu Bộ Kinh Nikàya, Đức Phật dạy:

Vô thường tưởng cần phải tu tập để nhổ lên kiêu mạn: tôi là. Này Meghiya, với ai có tưởng vô thường, tưởng vô ngă được an trú. Với ai có tưởng vô ngă, vị ấy đạt được sự nhổ lên kiêu mạn: tôi là, Niết-bàn ngay trong hiện tại.

(Nikàya, Tiểu Bộ Kinh, Kinh Phật tự thuyết, Chương 4, Phẩm Meghiya, (I) Udàna 34 https://www.budsas.org/uni/u- kinh-tieubo1/tb13-ptt2.htm)

Lại nữa trong Tăng Nhất A-hàm, Thế Tôn cũng khuyến tấn chư tỷ kheo nên tu tưởng vô thường, th́ sẽ an ổn mọi khổ ách, giải thoát, niết bàn.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

- Nên tu tưởng vô thường, nên quảng bá tưởng vô thường. Đă tu tưởng vô thường, quảng bá tưởng vô thường th́ đoạn ái dục giới, ái sắc giới, ái vô sắc giới, đoạn hết vô minh, đoạn hết kiêu mạn. Ví như đốt cháy cây cỏ, dẹp trừ sạch hết. Đây cũng vậy, nếu tu tưởng vô thường th́ đoạn trừ hết tất cả kiết sử. …Như thế, các Tỳ-kheo! Hăy học điều này.

Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.

(Kinh Tăng nhất A-hàm, tập II, phẩm 31.Tăng thượng, VNCPHVN ấn hành, 1998, tr.189)


Bài liên quan

Thấu lẽ vô thường, bạn sẽ hạnh phúc hơn

Tưởng rằng sắc thân này của ḿnh, mắt, tai, miệng, lưỡi vv là của ḿnh, nên chấp thủ sắc ‘pháp’, v́ thế nên khổ đau muôn đời vạn kiếp. Bài kinh số 35 của Trung Bộ Kinh, Thế Tôn dạy chư tỷ kheo tất cả sắc pháp cho đến thọ, tưởng, hành thức đều vô thường. Tất cả được quán như chơn như sau cái này không phải là tôi, cái này không phải của tôi, cái này không phải tự ngă của tôi, th́ chứng được vô chấp thủ giải thoát như đoạn kinh văn sau:

Cho đến mức độ nào, này Tôn giả Gotama, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đă tận, tu hành thành măn, các việc nên làm đă làm, đă đặt gánh nặng xuống, các mục tiêu đă đạt, hữu kiết sử đă đoạn trừ, được chánh trí giải thoát?

- Ở đây, này Aggivessana, Tỷ-kheo đối với bất cứ sắc pháp nào, quá khứ, tương lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả các sắc pháp, sau khi như thật quán sát với chánh trí tuệ: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngă của tôi", chứng được vô chấp thủ giải thoát. Đối với bất cứ thọ nào... bất cứ tưởng nào... bất cứ hành nào... đối với bất cứ thức nào, quá khứ, tương lai, hiện tại, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, tất cả các thức, sau khi như thật quán sát với chánh trí tuệ: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngă của tôi", chứng được vô chấp thủ giải thoát. Cho đến mức độ này, này Aggivessana, Tỷ-kheo là bậc A-la-hán, các lậu hoặc đă tận, tu hành thành măn, các việc nên làm đă làm, đă đặt gánh nặng xuống, các mục tiêu đă đạt, hữu kiết sử đă đoạn trừ, được chánh trí giải thoát.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa

(Kinh Trung Bộ, 35 Tiểu Kinh Saccaka- Ḥa Thượng Thích Minh Châu)


Bài liên quan

Vô thường diễn ra trước mắt

Lại nữa, khổ đau cũng tưởng là của ḿnh, nhưng đau ngờ khổ đau không phải của ḿnh v́ an lạc và khổ đau, cả hai đều vô thường. Cảm thọ khổ đau ngay trước lúc bỏ thân mạng là một sự cảm thọ tột cùng của thân mạng, do tưởng cái khổ này là của ḿnh, nên chúng sanh phải sinh tử, tử sinh trong lục đạo. Đức Phật khai thị và hướng tâm cho các tỷ kheo hay cư sĩ trước lúc lâm chung cách đoạn thân kiến bằng cách chú tâm và rơ biết đang cảm thọ tận cùng sức chịu đựng của sinh mạng, và để cho tất cả cảm thọ trở nên thanh lương, th́ sẽ đoạn tất cả các lậu hoặc, và giải thoát, vô dư niết bàn như một trong nhiều bài kinh Nikàya trong Tương Ưng Nhân Duyên như sau:

Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân”. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng”. Vị ấy biết: “Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây tất cả những cảm thọ không làm cho có hỷ lạc, sẽ trở thành vắng lặng, cái thân được bỏ qua một bên”.

Này các Tỷ-kheo, ví như một người từ trong ḷ nung của người thợ gốm lấy ra một cái ghè nóng và đặt trên một khoảng đất bằng phẳng để sức nóng ở đấy được nguội dần, và các miếng sành vụn được gạt bỏ một bên. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của thân”. Khi vị ấy cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng, vị ấy biết: “Ta cảm giác một cảm thọ tận cùng của sinh mạng”. Vị ấy biết: “Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây tất cả những cảm thọ không làm cho có hỷ lạc, sẽ trở thành vắng lặng, cái thân được bỏ qua một bên.

(Tương Ưng Bộ, chương 12: tương ưng nhân duyên, vi: phẩm cây 63. Tư Lường)

Nên thường tu tập quán tưởng vô thường, quán tưởng vô ngă, để đoạn tham ái, diệt trừ mọi gốc rễ phiền năo, cứu cánh giải thoát

Nên thường tu tập quán tưởng vô thường, quán tưởng vô ngă, để đoạn tham ái, diệt trừ mọi gốc rễ phiền năo, cứu cánh giải thoát


Bài liên quan

Giữa đời vô thường, ta đang là ai?

Rơ ràng nhất thiết pháp không như thật tướng, chỉ do nhân duyên mà có, tưởng điên đảo mà sinh, như Phẩm 14 An Lạc Hạnh trong Kinh Pháp Hoa như sau:

Vị đại Bồ-tát quán sát "Nhất-thiết, pháp không như thật tướng" chẳng điên-đảo, chẳng động, chẳng thối, chẳng chuyển, như hư-không, không có thật-tính, tất cả lời nói phô dứt, chẳng sinh, chẳng xuất, chẳng khởi, không danh, không tướng, thực không chỗ có, không lường, không ngằn, không ngại, không chướng, chỉ do nhân-duyên mà có, từ điên-đảo mà sinh cho nên nói, thường ưa quán-sát pháp-tướng như thế đó gọi là "chỗ thân-cận" thứ hai của vị Đại Bồ-tát. (tr. 293: Kinh Pháp Ḥa Ḥa Thượng Thích Trí Tịnh).

V́ thế, nên thường tu tập quán tưởng vô thường, quán tưởng vô ngă, để đoạn tham ái, diệt trừ mọi gốc rễ phiền năo, cứu cánh giải thoát.

Nguyện đem công đức này

Hướng về tất cả chúng sanh khắp pháp giới

Đồng sanh cơi Cực Lạc

florida80 10-07-2019 21:02

Chữ 'tâm' trong Phật giáo

Thứ tư, 02/10/2019 | 10:10










Với tư cách là một hệ thống tôn giáo – triết học – văn hoá – đạo đức – lối sống, kinh điển Phật giáo mênh mông, pháp môn tu tập muôn ngàn, có khả năng thích ứng với đủ mọi căn cơ nghiệp lực. Nhằm khai mở cho mọi người thấy được, và tăng trưởng cái bản Tâm thanh tịnh của chính ḿnh.


>>Phật giáo thường thức


Bài liên quan

Đi tu – Hành tŕnh khám phá tâm linh

Kinh Bát-nhă Ba-la-mật-đa tâm (般若波羅密多心經) dùng luận điểm “Sắc tức thị không, Không tức thị sắc” (色即是空,空即是色) để nói về trí tuệ của chân tâm, trí tuệ Bát-nhă. Trí Bát-nhă có hai loại: căn bản trí (根本智) là trí tuệ gốc, mọi chúng sinh đều có nhưng v́ mê muội mà không tự biết; hậu đắc trí (後得智) là kết quả của quá tŕnh tu chứng, duy bậc Phật và Bồ-tát mới có được. Thực tướng của chân tâm là không, không vướng mắc, không giả dối. Tâm là thể của pháp giới, thế giới hiện tượng và sự vật đều từ tâm mà hiện thành, Phật và chúng sinh đều lấy tâm làm bản thể, cảnh giới vô thượng Niết-bàn cũng từ tâm mà hiện ra, không có cái ǵ ngoài tâm mà tự có tự thành. Tu theo trí tuệ, quán chiếu chân tâm thanh tịnh để thoát khỏi ḍng mê mờ mắc phải phiền năo sinh tử, đến bến bờ giác ngộ hoàn toàn, chứng đắc Niết-bàn (Ba-la-mật, 到彼岸).

Với tư cách là một hệ thống tôn giáo – triết học – văn hoá – đạo đức – lối sống, kinh điển Phật giáo mênh mông, pháp môn tu tập muôn ngàn, có khả năng thích ứng với đủ mọi căn cơ nghiệp lực. Nhằm khai mở cho mọi người thấy được, và tăng trưởng cái bản Tâm thanh tịnh của chính ḿnh.

Với tư cách là một hệ thống tôn giáo – triết học – văn hoá – đạo đức – lối sống, kinh điển Phật giáo mênh mông, pháp môn tu tập muôn ngàn, có khả năng thích ứng với đủ mọi căn cơ nghiệp lực. Nhằm khai mở cho mọi người thấy được, và tăng trưởng cái bản Tâm thanh tịnh của chính ḿnh.

Trong kinh Đại bát Niết-bàn, Đức Phật có dạy “Tất cả chúng sinh đều có bản tâm thanh tịnh. Chúng sinh chẳng nhận thấy được v́ bị vô minh che lấp”. Nghĩa là, mọi người đều có bản tâm thanh tịnh (căn bản trí), trong sáng tṛn đầy, vắng lặng; nhưng v́ bị ngoại cảnh bên ngoài chi phối, tâm đó luôn bị xao động, “tâm viên ư mă” , thành vọng tâm, vọng động vọng tưởng theo cảnh giới do giác quan đưa lại, thành ra tâm trí bất an điên đảo, tạo tội tạo nghiệp trong ṿng luân hồi bất diệt.


Bài liên quan

Tâm sự cùng bạn trẻ

Kinh Thủ Lăng Nghiêm, Đức Phật giảng cho Ngài A-nan và thính chúng về cái thể thường định của chân tâm. Mở đầu của Kinh, Đức Phật đă nói rơ: cội nguồn của sinh tử luân hồi là vọng tâm, cội nguồn của Bồ-đề Niết-bàn là chân tâm; biết nơi ḿnh có chân tâm thường trú mà tu hành (Thủ Lăng Nghiêm) là ngộ, là thành Phật; không biết điều đó là mê, là chúng sinh.

Kinh Hoa Nghiêm chủ trương “Pháp giới duy tâm”, tất cả các pháp trong pháp giới đều do tâm biến tạo ra. Đức Phật dạy: “Nếu người muốn biết rơ, Hết thảy Phật ba đời, Nên xét tính pháp giới, Tất cả do tâm tạo” (Nhược nhân dục liễu tri, Tam thế nhất thiết Phật, Ưng quán pháp giới tính, Nhất thiết duy tâm tạo. 若人欲了知, 三世一切佛, 應觀法界性, 一切唯心造).

heo Phật Quang đại từ điển, kinh Hoa Nghiêm, nghĩa bao quát của tâm là là “tích tập” (tích tập danh tâm 積集名心), là thức thứ tám, A-lại-da thức. Duy thức tông cho rằng cái “tích tập/tâm” ấy khởi lên (tức là có xao động tâm tư – vô minh duyên) sinh ra “ư” (thức thứ bảy, Mạt-na thức, có khuynh hướng hoạt động của cái tôi – Hành duyên), và “thức” là sự phản ánh, nhận biết về thế giới khách quan – cảnh do cảm giác của các căn đưa lại. Như vậy, Tâm – Ư – Thức do cùng một thể Tâm mà ra.

heo Phật Quang đại từ điển, kinh Hoa Nghiêm, nghĩa bao quát của tâm là là “tích tập” (tích tập danh tâm 積集名心), là thức thứ tám, A-lại-da thức. Duy thức tông cho rằng cái “tích tập/tâm” ấy khởi lên (tức là có xao động tâm tư – vô minh duyên) sinh ra “ư” (thức thứ bảy, Mạt-na thức, có khuynh hướng hoạt động của cái tôi – Hành duyên), và “thức” là sự phản ánh, nhận biết về thế giới khách quan – cảnh do cảm giác của các căn đưa lại. Như vậy, Tâm – Ư – Thức do cùng một thể Tâm mà ra.

Nói về cái dụng của tâm: trong kinh Hoa Nghiêm đức Phật nói “Một khi chỉ một thoáng tâm sân hận khởi lên mà chúng ta không kiềm chế khắc phục được th́ lập tức muôn ngàn đau khổ chướng ngại tiếp nối theo sau” (Nhất niệm sân tâm khởi, bách vạn chướng môn khai); kinh A-di-đà nói, “Người nào chấp tŕ danh hiệu của Ngài trong một, hai, cho đến bảy ngày mà một ḷng không rối loạn (nhất tâm bất loạn) th́ lúc lâm chung Phật A-di-đà và các Thánh chúng sẽ hiện ra trước mắt, được văng sinh Tây phương”; kinh Di giáo Đức Phật dạy: “Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biện”, nghĩa là, cái tâm của chúng ta luôn biến hiện theo cảnh vật bên ngoài, qua sự hiểu biết chính pháp, bằng cách tụng kinh niệm Phật, thiền quán, khắc chế được tâm ư, trụ tâm ở một chỗ, không c̣n vọng tâm loạn tưởng, khi đó không có việc ǵ mà người tu tập không hiểu biết sáng tỏ, không biện luận, thực hành được một cách thông suốt.

Vậy tâm là ǵ, tâm ở đâu, và quá tŕnh tâm biến hiện tạo tác ra sao?


Bài liên quan

Bố thí với tâm thành

Theo Phật Quang đại từ điển, kinh Hoa Nghiêm, nghĩa bao quát của tâm là là “tích tập” (tích tập danh tâm 積集名心), là thức thứ tám, A-lại-da thức. Duy thức tông cho rằng cái “tích tập/tâm” ấy khởi lên (tức là có xao động tâm tư – vô minh duyên) sinh ra “ư” (thức thứ bảy, Mạt-na thức, có khuynh hướng hoạt động của cái tôi – Hành duyên), và “thức” là sự phản ánh, nhận biết về thế giới khách quan – cảnh do cảm giác của các căn đưa lại. Như vậy, Tâm – Ư – Thức do cùng một thể Tâm mà ra.

Với Phật giáo, tu là chuyển nghiệp, là sửa ḿnh để thay đổi số phận theo chiều hướng tích cực, nhằm đạt tới cứu cánh là giải thoát. Như vậy, tâm là một thế giới cần khám phá hơn bất cứ điều ǵ khác. Nhưng bằng trực quan chúng ta không thấy, không biết, và không hiểu được cái tâm, mà phải suy luận thông qua những hiệu ứng mà nó đem lại.

Với Phật giáo, tu là chuyển nghiệp, là sửa ḿnh để thay đổi số phận theo chiều hướng tích cực, nhằm đạt tới cứu cánh là giải thoát. Như vậy, tâm là một thế giới cần khám phá hơn bất cứ điều ǵ khác. Nhưng bằng trực quan chúng ta không thấy, không biết, và không hiểu được cái tâm, mà phải suy luận thông qua những hiệu ứng mà nó đem lại.


Bài liên quan

Bốn thiền quán chuyển tâm hướng về Giáo pháp

Vậy cái ǵ là nguyên liệu để tâm tích tập? Đó là những hành vi (thân), lời nói (khẩu), suy nghĩ (ư) có khuynh hướng (tác ư) của hiện tại và quá khứ. Nói cách khác, tâm chính là nghiệp. Nghiệp, nguyên ngữ tiếng Phạn là “karma”, Trung Quốc phiên âm là “yết-ma” (羯磨), có nghĩa là sự tạo tác có tác dụng của ư chí làm động cơ (tác ư). Trong kinh Tăng nhất A-hàm Đức Phật dạy: “Này hỡi các Tỳ-khưu, Như Lai xác nhận rằng chính Tác Ư là Nghiệp. Có ư muốn làm mới có hành động, bằng thân, khẩu hay ư”. Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải (720-814) nói “Tâm cảnh không dính mắc nhau là giải thoát”, nghĩa là, ngũ căn vẫn tiếp xúc với ngoại giới, vẫn nghe, vẫn thấy, vẫn biết tất cả nhưng tâm vẫn giữ được thanh tịnh, không ấn tượng vướng mắc, như vậy th́ không bị phiền năo, là giải thoát. Sơ tổ Trúc Lâm Trần Nhân Tông (1258-1308) cũng có dạy: “Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền”, nghĩa là, khi nào đối trước cảnh trần mà tâm vẫn viên minh tṛn đầy vắng lặng, không xao động ấn tượng (vô tâm), tức là không tác ư, không tạo nghiệp, th́ đó là cảnh giới của thiền định Niết-bàn, của giải thoát.

Với Phật giáo, tu là chuyển nghiệp, là sửa ḿnh để thay đổi số phận theo chiều hướng tích cực, nhằm đạt tới cứu cánh là giải thoát. Như vậy, tâm là một thế giới cần khám phá hơn bất cứ điều ǵ khác. Nhưng bằng trực quan chúng ta không thấy, không biết, và không hiểu được cái tâm, mà phải suy luận thông qua những hiệu ứng mà nó đem lại. Khi Đức Phật nói “Nhất thiết duy tâm tạo” không có nghĩa là Ngài cho rằng “cái tâm tạo ra thế giới hiện tượng và sự vật”, mà là cái “tâm tích tập” bản hữu (vốn có, Nho giáo gọi là Lương tri – Lương năng) và tân huân (mới được tích tập) bị năng lượng của nghiệp lực thôi thúc sinh ra xao động (vô minh) tác ư, căn (chủ thể nhận thức) nhận biết về cảnh (đối tượng nhận thức) tạo nên tổng thể nhận thức về thế giới khách quan một cách sai lầm. Những việc làm (thân) lời nói (khẩu) không có chủ tâm, không có tác dụng tạo nghiệp. Khi có nguồn lực từ tâm ư tác động, nó hướng theo khuynh hướng thiện hay bất thiện, tạo thành nghiệp thiện hoặc bất thiện. Hành vi có khuynh hướng ấy trở lại huân tập tâm và làm biến đổi nó, tức là chuyển nghiệp. Do vậy, trong kinh Trung A-hàm, Đức Phật khẳng định “Trong ba nghiệp thân, khẩu và ư, th́ ư nghiệp là tối quan trọng”.

florida80 10-07-2019 21:02

Hằng thuận chúng sinh

Thứ hai, 07/10/2019 | 19:42










Dân chúng c̣n chưa biết tu tập, cầu đạo giải thoát, Ngài phải ra cáo thị để kêu mời pháp sư nói pháp để dân chúng và nhà vua nhờ đó mà có thể tu tập. Đó chính là hạnh nguyện hằng thuận chúng sinh của đức vua, một trong mười đại nguyện của Bồ tát Phổ Hiền.


>>Những câu chuyện Phật giáo hay nên đọc

Khi hằng thuận, chúng ta cần phải dùng đến tuệ giác để quán sát cơ duyên, dẫn dắt chúng sinh đoạn trừ việc ác, tu tập điều thiện.

Khi hằng thuận, chúng ta cần phải dùng đến tuệ giác để quán sát cơ duyên, dẫn dắt chúng sinh đoạn trừ việc ác, tu tập điều thiện.

Kiếp quá khứ cách đây khá lâu, có một ông vua tên là Tu Lâu Bà ở Châu Diêm Phù Đề, cai trị tám muôn bốn ngàn nước nhỏ, sáu muôn núi sông, tám mươi ức tụ lạc, hai vạn bà phu nhân và một vạn quan đại thần.

Thời ấy, phước đức và thế lực của vua Tu Lâu Bà không ai b́ kịp, nhân dân thuở đó nhờ đức vua, được an lạc thái b́nh, mưa ḥa gió thuận, sung sướng vô tận.


Bài liên quan

3 lời nguyện quan trọng nhất của Đức Phật A Di Đà đối với chúng sinh cơi Sa Bà

Một hôm, vua tự nghĩ: “Đối với vật chất ta đă giúp dân đầy đủ nhưng về nhu cầu giải thoát cho tinh thần th́ chưa có. Nếu con người chỉ sống theo vật chất, tâm như gỗ đá, cát sỏi, tha hồ cho bốn tướng sinh, già, bệnh, chết lôi quanh th́ không khác chi thú vật, ăn no nằm mát phơi ḿnh trên đám phân tro cho qua ngày đoạn tháng. Đó là lỗi ở ta, ta phải có trách nhiệm t́m đường giải thoát cho họ”.

Nghĩ thế, Ngài liền ra yết thị và bố cáo cho thiên hạ biết rằng: “Nếu ai biết đạo giải thoát của Phật, hăy dạy nói cho ta hay, muốn dùng ǵ ta sẽ cung cấp đầy đủ” .

Hằng thuận là một việc làm rất khó, phải là người có đại nguyện rộng lớn và ḷng từ bi bao la th́ mới có thể đảm đang nổi.

Hằng thuận là một việc làm rất khó, phải là người có đại nguyện rộng lớn và ḷng từ bi bao la th́ mới có thể đảm đang nổi.

Lời bàn:


Bài liên quan

Đức Phật đă nhập Niết bàn th́ làm sao để cứu vớt chúng sinh?

Hằng thuận là một việc làm rất khó, phải là người có đại nguyện rộng lớn và ḷng từ bi bao la th́ mới có thể đảm đang nổi. V́ sao vậy? V́ hằng thuận chúng sinh nghĩa là ḥa hợp với tất cả mọi chúng sinh trong pháp giới này. Khi hằng thuận, chúng ta cần phải dùng đến tuệ giác để quán sát cơ duyên, dẫn dắt chúng sinh đoạn trừ việc ác, tu tập điều thiện. Ngoài ra, chúng ta c̣n phải giúp cho họ phá mê, khai ngộ nên cần phải có một sự tu tập cần mẫn và một trí tuệ sâu rộng. Phải dùng đến các phương tiện thiện xảo th́ mới có khả năng đáp ứng cho tất cả mọi người một cách viên măn được.

Như câu chuyện trong đoạn kinh trên, vị vua Chuyển Luân Vương nọ đă làm cho tất cả dân chúng ấm no. Nhưng dân chúng c̣n chưa biết tu tập, cầu đạo giải thoát, Ngài phải ra cáo thị để kêu mời pháp sư nói pháp để dân chúng và nhà vua nhờ đó mà có thể tu tập. Đó chính là hạnh nguyện hằng thuận chúng sinh của đức vua, một trong mười đại nguyện của Bồ tát Phổ Hiền.

florida80 10-07-2019 21:03

Tại sao phải niệm Phật

Thứ bảy, 05/10/2019 | 16:05










Chúng ta nên biết rằng, muốn được văng sinh th́ phải gây nghiệp nhân Tịnh độ, nghĩa là ta phải tiêu diệt ác nghiệp, nuôi dưỡng thiện căn và phước đức rồi nối liền thiện căn và phước đức ấy với cơi Cực lạc bằng phép niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà.


>>Những câu chuyện Phật giáo hay nên đọc


Bài liên quan

Nghi thức niệm Phật hằng ngày

Thành Thất La Phiệt có một ông Hoàng tánh rất hung bạo, thêm vào đó, quyền thế và địa vị có thể giúp ông thủ tiêu tội ác trước pháp luật mà chưa một lời phải, một đạo giáo nào cảm hóa được ông. Một hôm, ông gặp Phật khi đang du hóa xứ này. Mới nh́n, ông thấy ḷng bỗng cảm phục như vua dữ trước quản tượng. Ngài có dạy ông vài lời sơ lược: “Hăy tưởng niệm Phật đà, hăy từ bi thương người, hùng lực cứu người”. Ông cung kính vâng lời. Nhưng khi về đến nhà, vừa thấy người hành khất, ông liền đùng đùng nổi giận. Lời vàng của Phật không c̣n trong ḷng ông nữa. Khi toan đánh đuổi người, bỗng sực nhớ lại h́nh dáng từ nghiêm của Phật, ông liền dịu lại nhưng không bố thí chút ǵ. Tối hôm đó, vợ ông lấy làm lạ, gạn hỏi đầu đuôi.

Nam mô A Di Đà Phật: quy mạng đức Phật vô lượng thọ, vô lượng quang và vô lượng công đức. Đó là câu niệm của hàng giờ, hàng phút của người tu theo pháp môn Tịnh độ để cầu được văng sinh về thế giới tốt đẹp này. Ở cảnh giới Tịnh độ – theo như kinh mà đức Phật dạy – th́ có những cảnh sống rất thuận lợi cho sự tu tập giải thoát.

Nam mô A Di Đà Phật: quy mạng đức Phật vô lượng thọ, vô lượng quang và vô lượng công đức. Đó là câu niệm của hàng giờ, hàng phút của người tu theo pháp môn Tịnh độ để cầu được văng sinh về thế giới tốt đẹp này. Ở cảnh giới Tịnh độ – theo như kinh mà đức Phật dạy – th́ có những cảnh sống rất thuận lợi cho sự tu tập giải thoát.


Bài liên quan

Nhất tâm niệm Phật chắc chắn sẽ được văng sinh

Ông bèn tuần tự thuật lại. Nhờ thuật lại mà ông nhớ rơ ràng h́nh dung đức Phật và lời Ngài dạy. Đêm ấy, ông suy nghĩ mông lung. Ông nghĩ: “Nhớ Phật, phải tưởng đến người nghèo khổ”. Rồi mới sáng ông liền đi t́m Phật. Giữa đường gặp một người hành khất ốm liệt bên vệ đường, ông suy nghĩ, liền đến ân cần hỏi han và dốc hết tiền trong túi ra cho. Người ấy e sợ cảm ơn rối rít. Nhưng ông chỉ bảo: “V́ tưởng nhớ đến Phật nên tôi giúp anh. Anh nhận tiền này khiến tôi được phước, thế là tôi ơn anh chớ nào anh ơn ǵ tôi!”. Người hành khất nghe, lấy làm lạ v́ không lạ ǵ tính nết ông và uy danh đức Phật nữa. Bỗng nhiên, người ấy cất tiếng niệm: “Nam Mô Phật Đà” (kính lễ đấng Giác ngộ). Ông Hoàng cũng bất giác niệm theo và đi mau t́m Phật. Khi gặp được Ngài, ông thuật rơ đầu đuôi mọi việc. Nghe xong, đức Phật mỉm cười hiền từ bảo: “Khi niệm Phật, ông hăy tưởng niệm người nghèo khổ. Tưởng niệm người nghèo khổ là tưởng niệm Phật đó” .

Những chúng sinh nào nhờ phước duyên tu tập được sinh trưởng ở đó th́ nhất định không c̣n bị thối chuyển trên bước đường giải thoát nữa.

Những chúng sinh nào nhờ phước duyên tu tập được sinh trưởng ở đó th́ nhất định không c̣n bị thối chuyển trên bước đường giải thoát nữa.

Lời bàn:


Bài liên quan

Niệm Phật văng sinh

Tại sao chúng ta phải niệm Phật? Đây là câu hỏi và cũng là câu trả lời riêng cho mỗi chúng ta. Có nhiều cách để niệm Phật nhưng không ngoài mục đích là để diệt trừ những vọng tưởng điên đảo dấy khởi lên trong tâm thức. Lúc niệm Phật th́ ta phải tưởng nhớ đến Phật, nhớ nghĩ đến những đức tính tốt đẹp vô biên của Phật, như Phật A Di Đà có vô lượng vô biên tánh đức: vô lượng quang, vô lượng thọ, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả…

Ta niệm Phật là nhớ đến Phật và ghi nhớ những đức tính đó thật rơ để chúng nảy sinh trong tâm, giúp loại trừ các vọng niệm ở ta. Niệm Phật có thể niệm lớn hay mật niệm, điều cần yếu là đừng đọc suông nơi miệng mà phải chuyên nghĩ đến Phật và phải tin sâu, nguyện thiết tha và thực hành chuyên cần. Nên tin rằng: “Niệm một câu Phật hiệu tiêu được cả ngàn kiếp tội lỗi và làm sinh trưởng vô lượng phước đức”. Tâm ư luôn luôn hướng về đức Phật A Di Đà và thế giới Cực lạc.

Kinh Di Đà có câu: “Xá Lợi Phất, không thể do nhân duyên phước đức của thiện căn nhỏ mọn mà được sinh về Cực lạc”.

Kinh Di Đà có câu: “Xá Lợi Phất, không thể do nhân duyên phước đức của thiện căn nhỏ mọn mà được sinh về Cực lạc”.


Bài liên quan

Niệm Phật có thể độ được hung thần ác sát

Nam mô A Di Đà Phật: quy mạng đức Phật vô lượng thọ, vô lượng quang và vô lượng công đức. Đó là câu niệm của hàng giờ, hàng phút của người tu theo pháp môn Tịnh độ để cầu được văng sinh về thế giới tốt đẹp này. Ở cảnh giới Tịnh độ – theo như kinh mà đức Phật dạy – th́ có những cảnh sống rất thuận lợi cho sự tu tập giải thoát. Những chúng sinh nào nhờ phước duyên tu tập được sinh trưởng ở đó th́ nhất định không c̣n bị thối chuyển trên bước đường giải thoát nữa. Ở đây có bạn hiền, thầy tốt, đủ mọi điều kiện nội cũng như ngoại, thuận lợi cho việc tiến bộ tu tập để cầu làm Phật

Kinh Di Đà có câu: “Xá Lợi Phất, không thể do nhân duyên phước đức của thiện căn nhỏ mọn mà được sinh về Cực lạc”. Chúng ta nên biết rằng, muốn được văng sinh th́ phải gây nghiệp nhân Tịnh độ, nghĩa là ta phải tiêu diệt ác nghiệp, nuôi dưỡng thiện căn và phước đức rồi nối liền thiện căn và phước đức ấy với cơi Cực lạc bằng phép niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà. Phải niệm đến chỗ nhất tâm bất loạn, đến lúc tâm trí ḿnh không c̣n tạp niệm nữa mà chỉ c̣n Phật niệm. Thực hành như thế, phát nguyện như thế mới có thể văng sinh.

florida80 10-07-2019 21:04

niệm Phật để làm ǵ?








Tại sao phải niệm Phật

Chúng ta nên biết rằng, muốn được văng sinh th́ phải gây nghiệp nhân Tịnh độ, nghĩa là ta phải tiêu diệt ác nghiệp, nuôi dưỡng thiện căn và phước đức rồi nối liền thiện căn và phước đức ấy với cơi Cực lạc bằng phép niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà.

florida80 10-07-2019 21:05

Nghe pháp và gieo duyên pháp để tạo phước báu

Thứ năm, 03/10/2019 | 17:19










Pháp của Thế Tôn nói ra từ sự chứng ngộ của Ngài, nên pháp học cần kết hợp với pháp hành, hành xong mới hiểu được sự thậm thâm vi diệu của giáo pháp. Nghe pháp thôi cũng tạo nên công đức. Người nghe, người đọc được nghiễm nhiên đă có công đức.


>>Đức Phật

Thời Thế Tôn, nhiệm vụ trọng yếu của một Tỳ-kheo là tu học, khất thực và thuyết pháp. Cốt tủy của nội dung tu học là thiền định (tu) và nghe pháp (học). Bấy giờ, các Tỳ-kheo nghe pháp từ kim khẩu của Thế Tôn, nghe pháp từ chư vị Trưởng lăo trong các hội chúng. Sau đó các Tỳ-kheo thường tụng đọc lại nội dung pháp thoại đă được nghe cho đến khi thuộc ḷng.

Pháp của Thế Tôn nói ra từ sự chứng ngộ của Ngài, nên pháp học cần kết hợp với pháp hành, hành xong mới hiểu được sự thậm thâm vi diệu của giáo pháp. Nghe pháp thôi cũng tạo nên công đức. Người nghe, người đọc được nghiễm nhiên đă có công đức.

Pháp của Thế Tôn nói ra từ sự chứng ngộ của Ngài, nên pháp học cần kết hợp với pháp hành, hành xong mới hiểu được sự thậm thâm vi diệu của giáo pháp. Nghe pháp thôi cũng tạo nên công đức. Người nghe, người đọc được nghiễm nhiên đă có công đức.


Bài liên quan

Bốn thiền quán chuyển tâm hướng về Giáo pháp

Không chỉ các Tỳ-kheo, hàng Phật tử tại gia cũng luôn được Thế Tôn khuyến khích siêng năng nghe pháp. Các Phật tử có thể đến tinh xá vào buổi chiều để nghe Thế Tôn hoặc các vị Trưởng lăo thuyết pháp. Mỗi sáng, sau khi dâng cúng thực phẩm, các Phật tử được nghe lời chúc phúc hay một pháp thoại ngắn từ các Tỳ-kheo đang tŕ b́nh khất thực.

Nh́n chung, hoạt động nghe pháp và thuyết pháp liên tục được diễn ra trong bốn chúng đệ tử Phật. Mỗi Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ đều tham gia nghe pháp và thuyết pháp. Quan trọng nhất là nghe pháp: Nghe để hiểu giáo pháp (văn), hiểu rồi th́ suy ngẫm cho thấu triệt giáo pháp (tư), cuối cùng là ứng dụng giáo pháp vào trong đời sống hàng ngày (tu). V́ thế, tùy thời nghe pháp luôn được tán thán và khích lệ.

Nếu ai được nghe giảng Pháp th́ thật là người có phước và hưởng duyên giáo pháp!

Nếu ai được nghe giảng Pháp th́ thật là người có phước và hưởng duyên giáo pháp!


Bài liên quan

4 phương pháp định hướng cuộc đời

“Một thời, Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

- Tùy thời nghe pháp có năm công đức. Tùy thời lănh thọ chẳng mất thứ lớp. Thế nào là năm? Điều chưa từng nghe sẽ được nghe; điều đă được nghe, đọc tụng lần nữa; cái thấy không bị tà, lệch; không có hồ nghi; liền hiểu nghĩa thậm thâm.

Tùy thời nghe pháp có năm công đức. Thế nên các Tỳ-kheo nên t́m phương tiện tùy thời nghe pháp. Như thế, các Tỳ-kheo, nên học điều này.Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, hoan hỷ vâng làm”

Nếu bạn được nghe giảng Pháp, bạn thật là người có phước

florida80 10-07-2019 21:06

Cánh chế ngự tâm

Thứ hai, 07/10/2019 | 16:09










Học hạnh buông xả để dễ gần gũi với mọi người, để tiếp nhận những cái hay tốt khác. Nếu ḷng ta chấp chặt một điều ǵ th́ thật là khổ sở. Khi một người nói với ta điều ǵ không vừa ư th́ ta cảm thấy buồn lo. Cứ như thế, chúng ta sẽ bị đau khổ v́ những chuyện không đâu vào đâu.


>>Góc nh́n Phật tử

Nước Ba Tư Nại có một Cư sĩ tên Cúc Đề, sinh hạ một con trai tên là Ưu Bà Cúc Đề. Khi trưởng thành, v́ nhà nghèo nên làm nghề nấu nướng. Người cha cho của cải khiến mở tiệm buôn bán. Bấy giờ, có ngài A La Hán tên Đa Thế Bệ đến nhà thuyết pháp giáo hóa, dạy tu phép kể niệm: lấy một mớ đá đen làm cái bàn toán, hễ nghĩ một niệm lành th́ hạ xuống một ḥn đá trắng, một niệm ác th́ hạ xuống một ḥn đá đen.

Điều đáng sợ nhất của con người chính là những tư tưởng bất chính, những thói hư tật xấu tiềm ẩn trong chính tâm hồn. Những thứ này thường làm cho người ta không làm chủ được chính ḿnh.

Điều đáng sợ nhất của con người chính là những tư tưởng bất chính, những thói hư tật xấu tiềm ẩn trong chính tâm hồn. Những thứ này thường làm cho người ta không làm chủ được chính ḿnh.

Ưu Bà Cúc Đề vâng theo lời dạy. Tùy niệm thiện, ác chính lúc khởi lên, liền hạ xuống một ḥn đá trắng hoặc ḥn đá đen. Ban đầu đen nhiều hơn, trắng rất ít, dần dần tu tập đen trắng ngang nhau. Rồi chăm tu chẳng gián đoạn th́ không c̣n ḥn đen nào cả, mà chỉ toàn là ḥn trắng, khi ấy niệm thiện đă thắng hẳn liền chứng được sơ quả .

Lời bàn:

Phật dạy: “Sự định tĩnh xuất phát từ nội tâm, không phải t́m cầu từ bên ngoài”.


Bài liên quan

Cách chế ngự cơn nóng giận theo Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Sự yên tĩnh của nội tâm mà chúng ta có được nhờ vào phương pháp hành tŕ đúng đắn cộng với sự buông xả của bản thân. Mỗi người muốn có một cuộc sống an nhiên tự tại, nhất định phải hạ thủ công phu tu tập để thanh lọc nội tâm. Sự định tĩnh trong tâm hồn bắt nguồn từ chánh kiến, nhờ có chánh kiến nên ta luôn có thiện niệm với mọi người. Tham lam, độc ác chất chứa trong tâm ta sẽ được chánh kiến loại trừ.

Học hạnh buông xả để dễ gần gũi với mọi người, để tiếp nhận những cái hay tốt khác. Nếu ḷng ta chấp chặt một điều ǵ th́ thật là khổ sở. Khi một người nói với ta điều ǵ không vừa ư th́ ta cảm thấy buồn lo. Cứ như thế, chúng ta sẽ bị đau khổ v́ những chuyện không đâu vào đâu. Điều đáng sợ nhất của con người chính là những tư tưởng bất chính, những thói hư tật xấu tiềm ẩn trong chính tâm hồn. Những thứ này thường làm cho người ta không làm chủ được chính ḿnh.

Phật dạy: “Sự định tĩnh xuất phát từ nội tâm, không phải t́m cầu từ bên ngoài”.

Phật dạy: “Sự định tĩnh xuất phát từ nội tâm, không phải t́m cầu từ bên ngoài”.


Bài liên quan

Ảo giác buông xả "cái tôi"

Thế nên, là người học Phật, chúng ta cần phải dùng tuệ giác để nhận định mọi thứ, những việc ǵ xảy ra nghịch lư, không nên nhắm mắt thuận theo mà phải biết cách để chế ngự. Ta phải tích cực chủ động cải biến để những vọng khởi của ác nghiệp phải dừng lại hoặc tiêu mất. Ta phải nắm bắt và cải tạo những cơ hội, tạo ra những nhân duyên tốt giữa người với người, cùng nhau tu tập để thúc liễm thân tâm, tin tưởng và thương yêu, tôn trọng lẫn nhau, không dối gạt chính ḿnh và người khác, không ai có ư nghĩ xấu với ai. Điều đó c̣n có nghĩa là chính ta đă tích cực chế ngự cải tạo tâm ḿnh từ chưa thiện trở thành thuần thiện. Có như vậy, chúng ta mới có cuộc sống chan ḥa trong t́nh thương yêu, an lạc và hạnh phúc ngay hiện tại cơi Ta bà đau khổ này

florida80 10-07-2019 21:06

Ảnh hưởng của Phật giáo tới tâm đức con người Việt Nam truyền thống

Thứ năm, 03/10/2019 | 07:03










Mặc dù không phải là một học thuyết về đạo đức nhưng những triết lư nguyên thủy của Phật giáo đă dạy con người biết nguyên nhân của nỗi khổ và con đường giải thoát đau khổ bằng quá tŕnh hướng thiện.


>>Phật pháp và cuộc sống

Trên phương diện đạo đức học, triết lư đao đức Phật giáo được coi là một đường lối sống, mội phương thức sống, một triết lư sống, một cách tu dưỡng thân tâm để thực hiện lẽ sống, hướng tới Niết Bàn, t́m con đường thoát khỏi bể khổ trần gian. Tuy nhiên, sự giải thoát ấy không phải dựa vào một thế lực bên ngoài mà bản thân ḿnh phái tự thực hiện lấy, như lời Phật dạy: Hăy tự ḿnh là ngọn đèn soi sáng cho ḿnh, hăy tự ḿnh tạo cho ḿnh chỗ nương tựa, và đừng nương tựa vào ai ngoài bản thân ḿnh.


Bài liên quan

Phật giáo khơi dậy tinh thần dân tộc vượt qua thách thức của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0

Trước khi có sự du nhập của Phật giáo, tại Việt Nam đă có một nền văn hóa với các tín ngưỡng bản địa khá phong phú. Một trong những nguyên nhân khiến Phật giáo dễ dàng được tiếp nhận, có sức sống lâu bền tại Việt Nam v́ trong nó chứa đựng những nội dung nhân sinh quan phù hợp với tâm thức, bản sắc văn hóa người Việt. Từ khi du nhập vào Việt Nam cách đây trên dưới hai ngh́n năm, Phật giáo đă ḥa nhập vào đời sống dân tộc không phải chỉ trong một giai đoạn, một thời đại mà trong suốt cả trường kỳ lịch sử lâu dài. Trải qua nhiều triều đại phong kiến, mối quan hệ giữa Phật giáo và nhà nước luôn được củng cố v́ chúng song hành cùng tồn tại và phát triển, không bao giờ diễn ra sự tranh chấp giữa giáo quyền và thế quyền. V́ vậy, Phật giáo không chỉ ăn sâu vào đời sống tâm linh mà c̣n đi vào văn hóa dân tộc, trong đó có đạo đức con người Việt Nam.

Trên phương diện đạo đức học, triết lư đao đức Phật giáo được coi là một đường lối sống, mội phương thức sống, một triết lư sống, một cách tu dưỡng thân tâm để thực hiện lẽ sống, hướng tới Niết Bàn, t́m con đường thoát khỏi bể khổ trần gian.

Trên phương diện đạo đức học, triết lư đao đức Phật giáo được coi là một đường lối sống, mội phương thức sống, một triết lư sống, một cách tu dưỡng thân tâm để thực hiện lẽ sống, hướng tới Niết Bàn, t́m con đường thoát khỏi bể khổ trần gian.

Ngay từ khi truyền bá vào nước ta ở đầu thời Bắc thuộc, Phật giáo đă chứng tỏ tính ưu việt của ḿnh, giúp nhân dân bản địa t́m được hệ tư tưởng mới làm đối trọng với hệ tư tưởng Nho giáo của chế độ phong kiến Trung Quốc lúc bấy giờ. Những tư tưởng của đạo Phật đă dần ăn sâu vào tâm thức người Việt, khích lệ nhân dân chống lại ách đô hộ của phong kiến phương Bắc và thực hiện thành công hàng loại cuộc kháng chiến bảo vệ chủ quyền đất nước. Chính v́ thế, đạo đức Phật giáo đă trở thành luân lư sống của các Phật tử và đông đảo các tầng lớp trong xă hội, từ vua chúa, thiền sư, quan lại đến quần chúng nhân dân. Theo Giáo sư Trần Văn Giàu, trong bảng giá trị truyền thống Việt Nam, tư tưởng yêu nước là giá trị đạo đức tinh thần hàng đầu, được h́nh thành trong quá tŕnh dựng nước và giữ nước của nhân dân ta. Biểu hiện đầu tiên, rơ rệt nhất của ḷng yêu nước là tinh thần độc lập dân tộc, ư thức đ̣i quyền tự chủ, tự do và b́nh đẳng cho nước nhà. Ḷng yêu nước c̣n thể hiện ở sự anh dũng, bất khuất trước kẻ thù, sẵn sàng hy sinh tính mạng cá nhân để bảo vệ nền độc lập dân tộc.


Bài liên quan

Lễ Vu Lan – truyền thống tốt đẹp của Phật giáo và Dân tộc

Như chúng ta đă biết, trong Ngũ giới, Phật giáo cấm sát sinh, thực chất là cấm giết người, cấm giết các sinh vật khác một cách cố ư, đồng thời luôn đề cao và tôn trọng sự sống Phật giáo có tư tưởng ḥa b́nh, với cái tâm từ bi, lương thiện. Tuy nhiên, Từ bi của Phật giáo gắn liền với Trí, Dũng, tức là phân biệt thiện - ác, đúng - sai và dám dấu tranh bảo vệ chính nghĩa. Chính v́ vậy, “trừ bạo” để cứu người, cứu dân tộc không phải là việc làm sai. Phật giáo căn cứ vào động cơ, mục đích của hành dộng để phân biệt thiện - ác. Hơn nữa, theo quan niệm của Bồ Tát giới, thấy người bị hại mà không cứu cũng là phạm giới nên việc sẵn sàng chống giặc ngoại xâm đế cứu đồng bào, giải phóng dân tộc lại được xem là việc thiện, việc nhân nghĩa. Đúng như một tác giả đă viết: “Thiện lớn, đức lớn. hợp thời đúng lúc, tùy nghi lúc này là ở cứu dân tộc, quê hương đất nước khỏi cái thảm họa là nạn ngoại xâm. V́ cái thiện lớn, đức lớn đó mà các Phật tử sẵn sàng cầm gươm lên ngựa, sẵn sàng vi phạm giới luật (cấm sát sinh), giết một người để cứu muôn người. Trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng, những người Phật tử không thể giáo điều máy móc ôm khư khư giới luật mà không được giết hại chúng sinh trong đó có cả kẻ thù, quân xâm lược giết hại đồng bào. Không thể v́ một điều thiện nhỏ cho cá nhân mà quên điều thiện lớn cho dân tộc, ở đây phá giới là theo tinh thần phá chấp". Nếu so sánh đạo đức Phật giáo với đạo đức người Việt với nét nổi bật là tinh thần yêu nước th́ thấy có nhiều điểm tương đồng: Nhân sinh quan Phật giáo đă ḥa quyện với tư tưởng yêu nưóc Việt Nam, từ đó, tinh thần từ bi, bác ái được thể hiện thành tinh thần nhân nghĩa. Theo Giáo sư Trần Văn Giàu: “Mặc dù Phật giáo không có chủ nghĩa yêu nước, nhưng đạo Phật Việt Nam tách khỏi chủ nghĩa yêu nước th́ không c̣n giá trị ǵ hết”.

florida80 10-07-2019 21:07

Thực chứng hơn nịnh hót

Thứ hai, 07/10/2019 | 07:43










V́ vậy, các ông đừng bao giờ có ḷng khinh mạn bất cứ vị Thầy nào. Họ dạy hay hay dở chẳng liên quan ǵ đến các ông, việc của các ông chỉ là làm sao cho ḿnh hết khổ được vui, đồng thời cũng giúp người khác hết khổ được vui.


>>Phật tử có thể đọc loạt bài về Lời Phật dạy

Có một vị Tỳ-kheo thường theo Phật khi Phật đi hoằng hoá khắp nơi. Một hôm, vị ấy thưa với Phật rằng:


Bài liên quan

Lời Phật dạy sâu sắc về tác hại của lời nói dối

- Bạch Thế Tôn! Ngài là vị Thầy vĩ đại nhất trong lịch sử loài người.

Phật nghe xong, nét mặt b́nh lặng không hiện một nét vui nào, hỏi lại Tỳ-kheo ấy:

- Ông đă gặp qua tất cả các vị Thầy vĩ đại trên thế gian này chưa?

Tỳ-kheo thưa:

- Dạ con chưa gặp.

Phật lại hỏi:

- Vậy ông có quen biết tất cả các vị Thầy c̣n sống hay sắp ra đời trên thế gian này không?

Tỳ-kheo đáp:

- Dạ con không quen.

Trên thế gian này có rất nhiều vị Thầy vĩ đại, họ tự có phương pháp giáo hoá người. V́ vậy, các ông đừng bao giờ có ḷng khinh mạn bất cứ vị Thầy nào. Ảnh minh họa

Trên thế gian này có rất nhiều vị Thầy vĩ đại, họ tự có phương pháp giáo hoá người. V́ vậy, các ông đừng bao giờ có ḷng khinh mạn bất cứ vị Thầy nào. Ảnh minh họa

Phật dạy:

- Ông nói ta là vị Thầy vĩ đại nhất trong tất cả các vị Thầy trên thế gian này, câu nói này không có một chút ư nghĩa nào cả, bởi v́ chính ông cũng không có cách ǵ biết được câu nói của ông rốt cuộc là đúng hay sai, thật hay giả. Nếu ông thấy rằng những lời ta dạy ông có ích lợi cho ông th́ ông hăy thực hành theo, làm đúng những ǵ ta chỉ dạy, như vậy ta sẽ vui hơn là ông theo nịnh hót ta.

Tỳ-kheo liền phản đối:

- Con không phục, bởi v́ nếu lỡ như lời Ngài dạy không đúng mà con thực hành theo, vậy không phải uổng phí công phu của con sao?

Phật bảo:


Bài liên quan

A dua nịnh bợ trục lợi

- Điều ông nói với lời ta dạy đâu có khác. Các ông đừng cho rằng tất cả những ǵ ta nói đều chân thật, đều chính xác. Các ông phải tự ḿnh thực hành lời dạy của ta, kiểm nghiệm xem lời ta dạy có đúng không, có dối gạt người không. Nếu các ông thấy những lời ta dạy là thật, là có ích th́ các ông tiếp tục thực hành theo. Các ông đừng bao giờ chỉ v́ tôn kính ta mới làm theo lời ta dạy. Ngoài ra, đừng bao giờ phê b́nh lời dạy của người khác, nói người ta dạy không tốt. Trên thế gian này có rất nhiều vị Thầy vĩ đại, họ tự có phương pháp giáo hoá người. V́ vậy, các ông đừng bao giờ có ḷng khinh mạn bất cứ vị Thầy nào. Họ dạy hay hay dở chẳng liên quan ǵ đến các ông, việc của các ông chỉ là làm sao cho ḿnh hết khổ được vui, đồng thời cũng giúp người khác hết khổ được vui.

Vị Tỳ-kheo nghe xong lời khai thị của Thế Tôn, hiểu ngộ sâu xa, từ đó ông luôn dùng thái độ tôn trọng, đứng trên góc độ khách quan, dùng trí tuệ mà đánh giá người hoặc việc, chứ không c̣n nh́n sự việc theo t́nh cảm hay theo quan niệm chủ quan của ḿnh.

florida80 10-07-2019 21:08

Lời Phật dạy về 'Thiểu dục tri túc' và câu chuyện về cụ bà 83 tuổi 'xin thoát nghèo'

Thứ ba, 01/10/2019 | 11:07










Câu chuyện về cụ bà hơn 80 tuổi Đỗ Thị Mơ (83 tuổi, trú tại thôn Lương Thiện, xă Lương Sơn, Thường Xuân, Thanh Hóa) - người viết đơn xin thoát nghèo khiến cho nhiều người chúng ta phải suy ngẫm và lời dạy của Đức Phật về "Thiểu dục tri túc".


>>Phật pháp và cuộc sống

Tấm gương “Thiểu dục tri túc” của cụ bà 83 tuổi

Câu chuyện về cụ bà hơn 80 tuổi Đỗ Thị Mơ (83 tuổi, trú tại thôn Lương Thiện, xă Lương Sơn, Thường Xuân, Thanh Hóa) - người viết đơn xin thoát nghèo khiến cho nhiều người chúng ta phải suy ngẫm.

Câu chuyện về cụ bà hơn 80 tuổi Đỗ Thị Mơ (83 tuổi, trú tại thôn Lương Thiện, xă Lương Sơn, Thường Xuân, Thanh Hóa) - người viết đơn xin thoát nghèo khiến cho nhiều người chúng ta phải suy ngẫm.

Câu chuyện về cụ bà hơn 80 tuổi Đỗ Thị Mơ (83 tuổi, trú tại thôn Lương Thiện, xă Lương Sơn, Thường Xuân, Thanh Hóa) - người viết đơn xin thoát nghèo khiến cho nhiều người chúng ta phải suy ngẫm.


Bài liên quan

Thiểu dục tri túc: Một cách sống hạnh phúc

Được biết, hàng ngày cụ Mơ tự nuôi gà, chăm sóc vườn tược và bán rau ở ngoài chợ để kiếm tiền chi tiêu, sinh hoạt. Cụ mơ cho biết,ḿnh xin ra khỏi hộ nghèo là tự nguyện chứ không có thắc mắc ǵ về chế độ, chính sách.

Cụ Mơ kể, năm 1987, chồng cụ qua đời, một ḿnh cụ ở vậy nuôi 11 người con (10 người con đẻ và 1 người con nuôi) mà không đi bước nữa.

Lí do cụ Mơ xin ra khỏi hộ nghèo rất đơn giản: "Bản thân ḿnh đang giúp được cho nhiều hoàn cảnh khó khăn khác, không hà cớ ǵ lại ghi danh hộ nghèo, là gánh nặng cho chính quyền, cho Đảng và Nhà nước".

Theo cụ Mơ, có làm th́ mới có ăn nên cụ không trông chờ ỷ lại vào ai và quyết định xin ra khỏi hộ nghèo của cụ là không thay đổi. Tấm gương nghị lực của cụ Mơ và đặc biệt là sự tự trọng, quan niệm “thiểu dục tri túc” của cụ khiến hàng triệu người xem phải xúc động.

Theo cụ Mơ, có làm th́ mới có ăn nên cụ không trông chờ ỷ lại vào ai và quyết định xin ra khỏi hộ nghèo của cụ là không thay đổi. Tấm gương nghị lực của cụ Mơ và đặc biệt là sự tự trọng, quan niệm “thiểu dục tri túc” của cụ khiến hàng triệu người xem phải xúc động.

Cụ xin thoát nghèo là bởi cụ thấy ḿnh không c̣n nghèo. Hiện tại, cụ Mơ đang sống trong một căn nhà cấp 4 rộng chừng 20m2, ở thôn Lương Thiện (xă Lương Sơn, Thường Xuân, Thanh Hóa).

Về cuộc sống vật chất, cụ tư lo được cái ăn cái mặc cho ḿnh, không cần phải nhờ con cháu th́ hà cớ ǵ phải cần đến sự trợ giúp của Nhà nước. Ngoài ra, dù sống một ḿnh, nhưng cụ có con cháu đàng hoàng chứ đâu phải là người già neo đơn, nên cũng không muốn hưởng tiền chính sách mà muốn dành suất đó cho những người khó khăn hơn.

Theo cụ Mơ, có làm th́ mới có ăn nên cụ không trông chờ ỷ lại vào ai và quyết định xin ra khỏi hộ nghèo của cụ là không thay đổi. Tấm gương nghị lực của cụ Mơ và đặc biệt là sự tự trọng, quan niệm “thiểu dục tri túc” của cụ khiến hàng triệu người xem phải xúc động.

Lời Phật dạy về “Thiểu dục tri túc”


Bài liên quan

Biến đổi khí hậu môi trường là do ḷng người chẳng thiểu dục tri túc

Trong tất cả các Kinh, Đức Phật đều cho rằng một trong những nguyên nhân chính dẫn đến nỗi khổ là do tham lam. V́ thế, Người đă dạy phương pháp đối trị ḷng tham chính là sống theo hạnh “Thiểu dục tri túc”.

Thiểu dục tri túc nghĩa là giảm bớt ham muốn và biết đủ. Ở xă hội hiện đại, con người không ngừng nỗ lực và vươn lên để đạt được những thành công cũng như là thỏa măn được đời sống vật chất đầy đủ, th́ hạnh sống biết đủ có vẻ làm kiềm chế đi sự cầu tiến của một người. Đây là cách hiểu c̣n quá nông cạn, đi lệch hướng với lời dạy của Đức Phật.

Đức Phật có dạy: “Này các Tỳ kheo, hai cực đoan này người xuất gia không nên thực hành”. Đó là: Chuyên tâm tham đắm dục lạc thấp hèn, không xứng đáng và không ích lợi; Chuyên tâm khổ hạnh, gây khổ đau, không xứng đáng và không ích lợi.

Đức Phật có dạy: “Này các Tỳ kheo, hai cực đoan này người xuất gia không nên thực hành”. Đó là: Chuyên tâm tham đắm dục lạc thấp hèn, không xứng đáng và không ích lợi; Chuyên tâm khổ hạnh, gây khổ đau, không xứng đáng và không ích lợi.

Ngạn ngữ Việt Nam có câu: “Bể kia dễ lấp, túi tham khó đầy”, để chỉ rằng ḷng tham con người là vô hạn. Chính v́ ḷng tham đó mà chúng ta không t́m được hạnh phúc ngay trong cuộc sống này cũng như sản sinh ra nhiều hệ lụy của xă hội bằng những tệ nạn đầy nguy hiểm. Nhu cầu ở con người không có điểm dừng, đói th́ muốn no, no th́ muốn ngon, ngon th́ món ăn lạ, độc đáo,…Chính v́ cứ măi theo những nhu cầu này mà gây nên sự phiền năo.

Đức Phật có dạy: “Này các Tỳ kheo, hai cực đoan này người xuất gia không nên thực hành”. Đó là: Chuyên tâm tham đắm dục lạc thấp hèn, không xứng đáng và không ích lợi; Chuyên tâm khổ hạnh, gây khổ đau, không xứng đáng và không ích lợi.

Lối sống ép thân, khổ hạnh Đức Phật không muốn chúng ta phải đi theo. Và ngược lại lối sống quá tham đắm vào dục lạc là nguyên nhân của sự khổ. Chúng ta thường khổ v́ tiền bạc, sắc đẹp, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ.

Khi không có đủ tiền để đáp ứng những nhu cầu của bản thân đặt ra th́ phiền năo xuất hiện. Nó khiến chúng ta phải t́m mọi cách để có tiền.

Không có tiền th́ chúng ta cảm thấy bế tắc, khó chịu và tuyệt vọng. Khi không có nhan sắc, chúng ta thường đau khổ, tủi thân, đố kỵ. Luôn muốn ḿnh nổi trội, đẹp hơn người. Khi không có địa vị, danh vọng, chúng ta lại đi t́m mọi cách để đạt được, bày mưu tính kế để hăm hại, đạp đổ người khác để ḿnh có được vị trí cao trong xă hội. Ngày đêm mưu tính, lo sợ khiến chúng ta không có được một giây phút thanh thản thật sự.


Bài liên quan

Tri túc: Biết đủ, cách sống mang lại hạnh phúc

Khi những món ăn không ngon, chúng ta lại khó chịu, bỏ ăn và buồn phiền. Lúc nào cũng muốn được ăn ngon, ăn nhiều. Và khi ngủ không đủ giấc, chúng ta sinh ra sự cáu gắt, khó chịu. Luôn muốn được ngủ kỹ, ngủ nhiều.

V́ sao chúng ta lại rơi vào điều này? V́ chúng ta đang là nô lệ của ḷng tham, bị ḷng tham điều khiển và khống chế nên gây ra bao khổ năo v́ không đáp ứng được những mong muốn của nó.

Khi không có đủ tiền để đáp ứng những nhu cầu của bản thân đặt ra th́ phiền năo xuất hiện. Nó khiến chúng ta phải t́m mọi cách để có tiền.

Khi không có đủ tiền để đáp ứng những nhu cầu của bản thân đặt ra th́ phiền năo xuất hiện. Nó khiến chúng ta phải t́m mọi cách để có tiền.

Trong kinh Thuỷ Sám có câu: “Người biết đủ tuy nằm dưới đất vẫn lấy làm an vui, người không biết đủ dù ở thiên đường cũng không vừa ư”. Đó là lư do v́ sao nhiều người giàu nhưng vẫn không t́m được hạnh phúc, người nghèo lại có được hạnh phúc tràn đầy. Ta thấy rằng, thiếu thốn hay đầy đủ không phải phụ thuộc vào vật chất, mà nó phụ thuộc vào tư tưởng hay cách suy nghĩ của chúng ta.


Bài liên quan

Mở rộng thiện duyên

Đây là lư do v́ sao Đức Phật dạy hạnh thiểu dục tri túc cho người Phật Tử. Thiểu dục tri túc không kiềm hăm sự phát triển của bất kỳ ai, cách sống này là để đối trị với ḷng tham không đáy, ḷng tham gây ra phiền năo không có điểm dừng mà chúng ta, những con người hiện đại đang bị vướng phải. Thiểu dục tri túc là môt sắc thái tâm lư sống.

Câu chuyện đơn sơ của cụ bà xin được thoát nghèo hàm chứa cả những triết lư sống, những bài học đạo đức và toát lên những giá trị nhân văn khiến mỗi người chúng ta ai cũng phải suy nghĩ thêm về sự biết đủ, sự hy sinh, cống hiến, nghĩa vụ của cá nhân đối với cộng đồng và cho chính gia đ́nh ḿnh.

florida80 10-07-2019 21:09

Cách chế ngự cơn nóng giận theo Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Thứ ba, 20/08/2019 | 10:26










Những cơn nóng giận của bản thân trước khi làm người khác tổn thương th́ cũng ảnh hưởng rất xấu tới tâm trạng của chính ḿnh.



Bài liên quan

Tu tập tâm từ bi để xóa tan nóng giận

Nóng giận là một trạng thái xúc cảm rất phổ biến của con người. Nó là một loại xúc cảm tiêu cực, không lành mạnh và là nguyên nhân gây ra nhiều vấn đề rắc rối khác. Sự tức giận có thể biểu hiện dưới những cường độ khác nhau, từ sự bực ḿnh đến tức giận điên cuồng và nổi cơn thịnh nộ. Cũng như những loại xúc cảm khác, sự tức giận thường kéo theo những thay đổi về sinh – vật lư ở trong cơ thể con người. Khi bạn tức giận th́ tim của bạn sẽ đập nhanh hơn, huyết áp tăng lên, thở nhanh, căng cơ và các hoóc-môn như là adrenaline và noradrenaline cũng tiết ra nhiều hơn. Đối tượng của sự tức giận có thể là con người, cũng có thể là con vật hay thậm chí là cả những đồ vật vô tri vô giác. Mỗi khi chúng ta tức giận ai th́ chúng ta cảm thấy người đó thật khó ưa, thổi phồng những đặc tính không tốt của người đó, không đếm xỉa đến tất cả những điểm tốt của họ và muốn hại họ.

Nguồn ảnh: Internet

Nguồn ảnh: Internet

Thế nhưng, người xưa có câu thế này, cơn nóng giận giống như việc bạn cầm than nóng ném vào người khác, trước khi làm họ bị thương th́ tay bạn cũng bỏng rồi.

Vậy mới nói, học được cách chế ngự cơn tức giận chính là cách khôn ngoan nhất giúp bạn được hưởng trọn vẹn từng khoảnh khắc vui vẻ của bản thân.


Bài liên quan

Giận: Bí quyết sống an lạc và hạnh phúc

Thiền sư Thích Nhất Hạnh đă chiêm nghiệm về những cơn nóng giận như sau:

Khi ai đó làm cho ta giận th́ ta khổ. Ta muốn nói một câu hay làm một việc ǵ đó để cho người kia khổ, nghĩ rằng làm như thế ta sẽ bớt khổ.

Ta tự bảo: “Tôi muốn trừng phạt anh. Tôi muốn làm cho anh đau khổ v́ anh đă làm cho tôi đau khổ. Thấy anh đau khổ, tôi sẽ cảm thấy dễ chịu hơn.”

Rất nhiều người có xu hướng hành động một cách trẻ con như vậy. Sự thật là khi ta làm cho người kia đau khổ th́ người ấy sẽ trả đũa bằng cách làm cho ta đau khổ thêm. Kết quả là leo thang đau khổ cho cả hai bên. Đáng lẽ ra th́ cả hai bên đều cần t́nh thương, cần giúp đỡ. Không ai đáng bị trừng phạt cả.

Khi ta giận, khi một ai đó làm cho ta giận, ta phải trở về với thân tâm và chăm sóc cơn giận của ḿnh. Không nên nói ǵ hết. Khi đang giận mà nói năng hay hành động th́ chỉ gây thêm đổ vỡ mà thôi.

Nguồn ảnh: Internet

Nguồn ảnh: Internet

Phần lớn chúng ta không làm được điều đó. Chúng ta không muốn trở về với tự thân. Chúng ta chỉ muốn đuổi theo người kia để trừng phạt.

Nếu một cái nhà đang cháy th́ việc trước nhất phải làm là chữa cháy căn nhà chứ không phải chạy theo đuổi bắt người đốt nhà. Nếu chỉ lo chạy theo người mà ta nghĩ là đă đốt nhà th́ căn nhà sẽ cháy rụi trong khi ta chạy theo đuổi bắt người kia. Như thế là không khôn ngoan. Phải trở về dập tắt lửa trước đă. Vậy th́ khi giận, nếu tiếp tục đối đầu, tranh căi với người làm cho ta giận, nếu chỉ muốn trừng phạt người ấy th́ ta đă hành động y như người chạy theo kẻ đốt nhà trong khi căn nhà của ta đang bốc lửa.

florida80 10-07-2019 21:10

Giận: Bí quyết sống an lạc và hạnh phúc

Thứ năm, 08/08/2019 | 17:20










"Giận" là một trong những cuốn sách nổi tiếng và ư nghĩa của Thầy Thích Nhất Hạnh. Nếu muốn có cuộc sống an lạc và hạnh phúc, muốn chế ngự được những cơn giận của bản thân th́ bạn nên t́m đến Giận của Thầy Thích Nhất Hạnh.


>>Sách Phật giáo nên đọc

Thiền sư Thích Nhất Hạnh đă từng chia sẻ trong cuốn Sống tự do bất cứ nơi nào ở đâu rằng: “Cơn giận là một thứ năng lượng làm cho ta và những người quanh ta đau khổ. Là một tu sĩ, khi tôi nổi giận, tôi biết cách chăm sóc cơn giận. Tôi không để nó gây ra đau khổ hay tàn phá tôi. Nếu bạn chăm sóc được cơn giận và t́m được sự nhẹ nhàng trong tâm hồn, th́ bạn có thể sống an lạc với nhiều niềm vui.” Và giờ Ông có một cuốn sách với tựa đề Giận.

Cuốn sách Giận của Thích Nhất Hạnh

Cuốn sách Giận của Thích Nhất Hạnh


Bài liên quan

Đường xưa mây trắng: Cuốn sách hay kể về cuộc đời Đức Phật

Cuốn sách 250 trang được chia làm 10 chương đă sắp xếp một cách logic và đầy mạch lạc theo một sự vận động tâm thức của con người, từ Tiêu thụ của sân hận, Dập tắt ngọn lửa giận và Tiếng nói của yêu thương rất chân thật cho đến sự Chuyển hóa, Ôm ấp những cơn giận bằng chánh niệm, hơi thở chánh niệm và phục hồi Tịnh Độ.

Trong cuốn sách, Thiền sư phân tích rơ chúng ta không thể tiêu diệt cơn giận. Tất cả chúng ta đều có mầm mống cơn giận cũng như niềm vui trong người, giống như là trời đất phải có cả nắng lẫn mưa. Đối với một số người, mầm móng cơn giận có khi c̣n bám rễ sâu hơn do sự trao truyền từ ông bà, cha mẹ. Do đó, việc tiêu diệt cơn giận gần như là không thể, giống như việc ta phải cắt bỏ một phần cơ quan nội tạng của ḿnh vậy.

Cách thức mà một số người sử dụng để thoát cơn giận là đập phá, hoặc t́m chỗ trút. Nhưng đến với Giận của Thầy Thích Nhất Hạnh chúng ta được đưa ch́a khóa để chuyển hóa. Hăy quan sát cảm xúc bên trong con người ḿnh, ta phải sử dụng một bài tập có tên gọi là chánh niệm, cho thân tâm lắng dịu và tập trung vào đúng hơi thở mà thôi. Khi nh́n sâu, ta sẽ thấy v́ sao ḿnh giận, lúc ấy ta mới giật ḿnh rằng: không phải người làm ta giận, người chỉ là tác nhân thổi bùng lên lửa giận lúc nào cũng âm ỉ trong ta qua quá tŕnh sống và trải nghiệm. Làm chủ được những đốm lửa giận trong ḿnh, giải quyết chúng mới là cách căn bản hoán chuyển những cơn giận phát sinh. Khi chánh niệm được, ta mới quan sát trọn vẹn cơn giận của ḿnh.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh đă ví việc tiêu tan đi mọi sân hận cũng giống như việc nấu chín đồ ăn. Ban đầu cơn giận sẽ “c̣n sống” th́ không có ǵ vui vẻ cả nhưng nếu như biết ôm ấp, chăm sóc những cơ giận nghĩa là đang nấu cho chín th́ năng lượng tiêu cực của cơn giận đó sẽ được thay thế bằng những năng lượng tích cực của sự yêu thương và hiểu biết. Đó cũng chính là cơ sở của quá tŕnh sự Chuyển hóa.

“Cơn giận là một thứ năng lượng làm cho ta và những người quanh ta đau khổ. Là một tu sĩ, khi tôi nổi giận, tôi biết cách chăm sóc cơn giận. Tôi không để nó gây ra đau khổ hay tàn phá tôi. Nếu bạn chăm sóc được cơn giận và t́m được sự nhẹ nhàng trong tâm hồn, th́ bạn có thể sống an lạc với nhiều niềm vui.”

“Cơn giận là một thứ năng lượng làm cho ta và những người quanh ta đau khổ. Là một tu sĩ, khi tôi nổi giận, tôi biết cách chăm sóc cơn giận. Tôi không để nó gây ra đau khổ hay tàn phá tôi. Nếu bạn chăm sóc được cơn giận và t́m được sự nhẹ nhàng trong tâm hồn, th́ bạn có thể sống an lạc với nhiều niềm vui.”


Bài liên quan

Đọc sách học Phật để trở thành Phật

Điều mà tôi tin chắc độc giả sẽ thích thú khi đọc Giận là cách Thiền sư Thích Nhất Hạnh đề xuất biện pháp cụ thể để làm với những xung đột giữa người với người do sân hận gây ra. Ông dường như chứng minh rằng đạo phật có sẵn một cái (có thể gọi là) "kỹ thuật tinh thần" để đối phó với cảm xúc tiêu cực - đủ loại phương tiện để lấy Bụt làm gương, chứ không phải lấy làm nhân vật siêu tự nhiên để sùng bái.

Trong chương áp cuối, Thiền sư Thích Nhất Hạnh đưa ra mô h́nh để cho sân hận "lưu hành" trong tâm thức ḿnh - thường xuyên mời nó theo nghĩa bóng vào “pḥng khách" và cư xử như khách, với ḷng thân thiện và từ bi.

Lối viết nhẹ nhàng, từ dùng dễ thương và ví dụ thiết thực cụ thể, Thiền sư Thích Nhất Hạnh sẽ đưa bạn khám phá một số điều nằm sâu trong bản thân, những cơn giận bản thân để qua đó rèn luyện theo các bài thực tập gợi ư từ đó bạn có thể làm bạn với cơn giận của chính ḿnh. Lúc đó, bạn mới có thể mang đến niềm vui và hạnh phúc cho người khác.

Nếu muốn có cuộc sống an lạc và hạnh phúc, muốn chế ngự được những cơn giận của bản thân th́ bạn nên t́m đến Giận của Thích Nhất Hạnh.

florida80 10-07-2019 21:10

Cho nhẹ ḷng nhau - cái nh́n nhân hậu từ bi của Đại đức Giác Minh Luật

Thứ hai, 07/10/2019 | 09:53










Không ngôn từ hàn lâm, không nhiều t́nh tiết cao trào, mọi câu chuyện trong tập truyện Cho nhẹ ḷng nhau của Đại đức Giác Minh Luật rất nhẹ nhàng, rất trung dung, và cũng rất “đời” qua góc nh́n thật từ bi.


>>Sách Phật giáo

Đôi nét về tác giả

Đại đức Giác Minh Luật sinh năm 1992, Đại đức xuất gia từ nhỏ tại tịnh xá Ngọc Minh (B́nh Thuận) thuộc Hệ phái Khất sĩ.

Đại đức Giác Minh Luật.

Đại đức Giác Minh Luật.


Bài liên quan

Những cuốn sách thiền tập cho người bận rộn

Năm 18 tuổi, Đại đức đă bắt đầu thành lập tổ chức Câu lạc bộ Nhân Sinh - nơi quy tụ đông đảo những bạn trẻ là sinh viên, học sinh… cùng tham gia t́nh nguyện dấn thân trong các hoạt động từ thiện và giao lưu kết bạn t́m hiểu về đạo Phật, qua những chương tŕnh thực tập thiền và nghe pháp thoại trong mỗi chương tŕnh do Câu lạc bộ tổ chức, đến nay đă trở thành một tổ chức t́nh nguyện lớn mạnh dành cho giới trẻ yêu quư đạo Phật tại Sài G̣n với hơn 7 năm kể từ ngày đi vào hoạt động.

Năm 2013, Đại đức Giác Minh Luật chính thức được công nhận là tài năng trẻ Việt Nam về lĩnh vực văn hoá và hoạt động xă hội. Đại đức cũng đă liên tục nhận được nhiều giải thưởng báo chí, bằng khen và học bổng có giá trị.

Sau khi tốt nghiệp chương tŕnh Cử nhân (B.A) chuyên nghành Triết học Phật giáo tại Đại học MCU Thái Lan, hiện nay Đại đức Giác Minh Luật đang tiếp tục việc học và hoằng pháp tại Hoa Kỳ.

"Cho nhẹ ḷng nhau"

Dùng những h́nh tượng rất tâm linh - tiếng chuông, “linh hồn” của người cha đă khuất nay được làm chú tiểu, những đoạn trích Kinh - tác giả đă gửi gắm trọn vẹn được ư tứ của ḿnh suốt cả tập, về sự thiêng liêng của t́nh mẫu tử, về giá trị thật của gia đ́nh, về sự thức tỉnh của những người trẻ để t́m về b́nh an dưới chân Phật, về cả những khó khăn trên đoạn đường tu học chốn thiền môn.

Dùng những h́nh tượng rất tâm linh - tiếng chuông, “linh hồn” của người cha đă khuất nay được làm chú tiểu, những đoạn trích Kinh - tác giả đă gửi gắm trọn vẹn được ư tứ của ḿnh suốt cả tập, về sự thiêng liêng của t́nh mẫu tử, về giá trị thật của gia đ́nh, về sự thức tỉnh của những người trẻ để t́m về b́nh an dưới chân Phật, về cả những khó khăn trên đoạn đường tu học chốn thiền môn.

Câu chuyện trong tập truyện Cho nhẹ ḷng nhau có thể là câu chuyện có thật của chính tác giả, ở những ngày xưa cũ, nghĩ về đời từ những thứ rất nhỏ, rất giản đơn; rồi lấy đó làm nền tảng để trưởng thành, chín chắn.


Bài liên quan

10 đầu sách hay Phật Giáo nên đọc

Nhân vật có thể là người tu trưởng thành, lặng lẽ nh́n để thương cho thân phận những con người cùng khổ - mất mẹ, mất niềm tin với đạo hoặc mất cha, mất điểm tựa của cuộc đời; rồi lại rớt nước mắt cùng nỗi khổ của chúng sanh - khi tưởng mất đi đứa con do ḿnh dứt ruột đẻ ra, hoặc rời xa chốn nương thân b́nh yên - là cửa chùa - để đồng hành cùng mẹ.

Nhân vật là người tu c̣n rất trẻ, nhưng biết cảm thông cho nỗi khổ của sư huynh đệ của ḿnh - những nỗi khổ xuất phát từ nhớ thương dành cho gia đ́nh, những nỗi khổ bắt nguồn từ dằn vặt khi đứng giữa hai ḍng đời và đạo. Những người tu ấy, những nhân vật ấy hiểu tận cùng để hỗ trợ tận cùng khát khao được xuất gia, được trở thành nhà sư, được cống hiến hết ḿnh cho đại chúng.

B́a tập truyện Cho nhẹ ḷng nhau.

B́a tập truyện Cho nhẹ ḷng nhau.

Thậm chí, nhân vật có thể là “vô h́nh”, theo sau để quan sát và thấu hiểu cho những nỗi niềm rất riêng của người tu - có thể là ước mơ một lần được nh́n thấy ḿnh trong h́nh dung có mái tóc, cũng có thể là sự bẽ bàng khi rời chùa bước chân vào ḍng đời bạc bẽo phôi pha …


Bài liên quan

Hai tác phẩm của Thiền sư Thích Nhất Hạnh đoạt giải sách hay 2019

Dùng những h́nh tượng rất tâm linh - tiếng chuông, “linh hồn” của người cha đă khuất nay được làm chú tiểu, những đoạn trích Kinh - tác giả đă gửi gắm trọn vẹn được ư tứ của ḿnh suốt cả tập, về sự thiêng liêng của t́nh mẫu tử, về giá trị thật của gia đ́nh, về sự thức tỉnh của những người trẻ để t́m về b́nh an dưới chân Phật, về cả những khó khăn trên đoạn đường tu học chốn thiền môn.

Và, những thứ tưởng giản đơn ấy để lại những điều thật sự sâu sắc, thiêng liêng mà đôi khi con người vội vă lăng quên. Hăy trở về, khi c̣n có thể! Hăy hiểu, để thương!


“Tôi luôn cố gắng để viết” - Đại đức Giác Minh Luật tâm sự.

“Tôi luôn cố gắng dành thời gian để viết, v́ mỗi lần viết là tôi được sống lại với những cảm xúc rất thật trong trái tim ḿnh, tôi thấy ḿnh c̣n rất trẻ thơ, yêu đời và dễ dàng rơi nước mắt. Mai này có già đi, chắc cũng không khác mấy.

cho vua long nhau

Tôi nghĩ bạn cũng vậy, chúng ta đều có chung một nỗi niềm. Hăy để tôi kể cho bạn nghe, nhẹ nhàng trong từng trang sách.

Đây là quyển sách thứ tư sau các cuốn sách: Nếu trở thành tu sĩ..., Chú tiểu Pháp Đăng, Khổ răng mà khổ rứa... (NXB Hồng Đức)” (sư Giác Minh Luật).

florida80 10-07-2019 21:11

Tác phẩm đúc kết tinh hoa những lời dạy của vị Thánh tăng cận đại

Thứ năm, 03/10/2019 | 08:26










Cẩm Nang Tu Đạo là tác phẩm đúc kết tinh hoa những lời dạy của vị Thánh tăng cận đại, Ḥa thượng Quảng Khâm (1892-1986). Là người đă giác ngộ, mỗi lời dạy của Ngài trực tiếp phá vỡ vô minh, khiến ta giác ngộ như Ngài.


>>Những cuốn sách Phật giáo hay nên đọc

Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng: “Chúng sinh như người bệnh, thiện tri thức như bác sĩ, lời dạy của thiện tri thức như thuốc hay. Thuốc hay th́ đắng, song trị lành được bệnh”.

Bởi vậy, trong tập Cẩm Nang này, bạn sẽ thấy mỗi lời dạy của Ngài đều vô cùng sâu sắc, trực tiếp song đơn giản; ngắn gọn, dễ hiểu mà hàm súc. Đây là điểm then chốt dị biệt giữa lời nói của người đă ngộ đạo và kẻ chưa tỉnh giác.

B́a cuốn Cẩm Nang Tu Đạo.

B́a cuốn Cẩm Nang Tu Đạo.


Bài liên quan

Qui Sơn Cảnh Sách

Kẻ c̣n mê muội th́ cần lời giảng cao xa, sâu sắc, dùng tṛ chơi trí thức chữ nghĩa, song thiếu thực dụng nội tại. Những lời dạy của Ḥa thượng Quảng Khâm là những lời mà không ai có thể bắt chước được, bởi v́ những lời ấy được lưu xuất từ một nội tâm thâm chứng và một cuộc đời chân thật thực nghiệm. Sống trong sự thâm chứng ấy mỗi ngày, Ngài chỉ ăn một bữa ngọ và chỉ ăn trái cây; ngủ th́ ngủ ngồi; áo mặc th́ chỉ một vài bộ. Ngài rất ít lời, không nói chuyện dông dài, bàn luận thế sự tạp nhạp. Cả đời, vật sở hữu của Ngài hoàn toàn không! Chẳng có xe hơi, chẳng có trương mục ngân hàng hay thẻ tín dụng, nhà riêng, ti vi, tủ lạnh, radio... tất cả Ngài đều không có. Chính bởi v́, và chỉ có, cuộc sống rỗng không như vậy nên Ngài mới thực sự an trụ trong cảnh giới chân không của tự tâm. Đây thật là điều quư báu để chúng ta, kẻ hậu học, nhất là người xuất gia, phản tỉnh và thức tỉnh.

Ḥa thượng Quảng Khâm.

Ḥa thượng Quảng Khâm.


Bài liên quan

Cuộc đời và con đường tu tập kỳ diệu của Ḥa thượng Quảng Khâm

Đối tượng trọng tâm của tập Cẩm Nang này là người xuất gia, song hoàn toàn ứng dụng cho kẻ tại gia. Khi đọc Cẩm Nang, bạn hăy h́nh dung như có một vị Tăng già hiền từ, chín mươi tuổi ngoài, đang nói chuyện cùng ḿnh vậy.

Sách này, đọc là để áp dụng; đây không phải là tiểu thuyết, truyện, hay sách nghiên cứu để tăng kiến thức. Khi được đọc để áp dụng như thuốc lành trị bệnh hay như gậy đỡ chân, th́ tập Cẩm Nang này sẽ giúp chúng ta thay đổi cái nh́n, sửa thói hư tật xấu, trừ suy nghĩ lầm lẫn, hướng dẫn bước tu đúng đắn. Khi đó, ánh sáng bất tận của chánh pháp sẽ chắc chắn tràn ngập nơi nơi, trong tâm bạn và những ǵ quanh bạn

florida80 10-07-2019 21:12

Bài học từ Đại đức Maha Pala

Thứ tư, 02/10/2019 | 13:48










Đại đức Maha Pala đă rất kiên tŕ và quyết tâm thực hiện lời phát nguyện của ḿnh. Giáo pháp của đức Giác Ngộ mới thật sự đáng quư trọng hơn hết. Cho dù đôi mắt của Đại đức có hư hoại th́ Đại đức vẫn chấp nhận, vẫn quyết tâm không nằm để nhỏ mũi cho lành bệnh.


>>Chân dung từ bi

Thuở nhỏ, trưởng lăo Cakkhupala sinh ra tại thành Savatthi (Xá Vệ). Trưởng lăo là con của một bậc hào phú tên là Mahasuvanna (Đại Kim), người này có gia tài đồ sộ nhưng lại hiếm muộn con cái. Sau khi cầu nguyện dưới một cây đại thọ, xây tường rào ṿng quanh, dọn sạch sẽ gốc cây và cho trải cát bên trong, ông liền khấn vái rằng: “Xin cho tôi có một đứa con, dầu trai hay gái tôi cũng sẽ làm đại lễ cúng tế tôn thần”. Không bao lâu, vợ ông có thai và lần lượt sinh được hai người con. Đứa lớn tên là Maha Pala (Đại Hộ), đứa nhỏ tên là Culla Pala (Tiểu Hộ). Ông tin rằng, nhờ việc bảo hộ cây rừng mà vợ chồng ông mới được hai đứa con cầu tự.

hoangphap_bai-hoc-tu-dai-duc-maha-pala_full_02562019_0 45607


Bài liên quan

Đ́nh chỉ chức vụ trụ tŕ chùa Nga Hoàng đối với Đại đức Thích Thanh Toàn

Sau khi hai trẻ lớn khôn th́ cha mẹ lần lượt qua đời, và tất cả gia sản được chia đều cho hai anh em. Thuở ấy, thành Savatthi rất phồn thịnh và đông đúc. Sau khi nghe đức Thế Tôn thuyết pháp, phần lớn cư sĩ nhập vào ḍng Thánh đạo, chứng bậc Thanh văn. Chư Thánh Thanh văn cư sĩ có hai phận sự: buổi sáng lo cúng dường vật thực cho chư Tăng, buổi chiều th́ chuẩn bị lễ vật để đi nghe pháp. Khi đi, các vị ấy cầm hương hoa trên tay và dắt theo người để mang vải hoặc y, thuốc ngừa bệnh, nước giải khát.

Một hôm, trưởng giả Maha Pala trông thấy các Thánh Thanh văn cư sĩ đi đến Tịnh xá, trên tay có cầm hương hoa nên bèn hỏi: “Hàng đại chúng đi đâu mà đông vậy?”. Có tiếng trả lời rằng: “Đi nghe thuyết pháp”. Sau đó, trưởng giả xin nhập theo đoàn người đi Tịnh xá. Đến nơi, trưởng giả đảnh lễ đức Bổn Sư rồi ngồi xuống một nơi sau cùng.

Trước khi thuyết pháp, đức Phật luôn quán xét căn cơ và tŕnh độ thính chúng, rồi mới tùy nhân duyên mà giảng giải. Sau khi quán xét căn cơ và tŕnh độ của trưởng giả Maha Pala, đức Bổn Sư đă thuyết bài pháp Tuần Tự Pháp Thoại (Anupubbikatha), nghĩa là đức Phật lần lượt giảng giải liên tục về năm pháp kế tiếp nhau, từ bố thí, tŕ giới, các nhàn cảnh, tội ngũ trần và phước báu của bậc xuất gia.

Ngồi yên nghe thuyết pháp, trưởng giả Maha Pala thầm nghĩ: “Khi ḿnh ĺa đời đi sang thế giới bên kia th́ con trai, con gái chẳng theo ḿnh, nhà cửa ruộng vườn cũng đều bỏ lại, thậm chí xác thân cũng không c̣n làm bạn đồng hành, nào có ích chi mà ta mải miết đeo mang gánh nặng gia đ́nh. Ta phải xuất gia mới được”. Đợi dứt thời pháp thoại, trưởng giả đến gần đức Bổn Sư và ngỏ lời cầu xin xuất gia nhập đạo. Do ông c̣n một người em trai nên đức Phật bảo ông về nhà từ giă em trai. Khi về nhà, trưởng giả gọi người em trai là Culla Pala đến và bảo: “Em à, tất cả tài sản hữu thức và vô thức gồm có tôi tớ, súc vật, động sản, bất động sản trong nhà này, anh giao hết cho em trọn quyền làm chủ”. Người em thắc mắc: “C̣n anh th́ sao”. Trưởng lăo Maha Pala nói rằng: “Anh sẽ xuất gia với đức Tôn Sư”.

- Anh ơi, sao anh nói chi lời ấy. Từ khi thân mẫu từ trần th́ em cậy nhờ chỗ anh thay vào chỗ mẹ. Đến khi thân phụ quá cố th́ em cũng nhờ nơi anh thế chỗ của cha. Vả lại, anh là một bậc phú gia, tiền của thừa thải. Anh cứ ở nhà làm việc phước đức cũng được, hà tất ǵ anh phải xuất gia như vậy.

- Em ơi! Anh vừa được nghe chánh pháp của đức Tôn Sư. Ngài đă thuyết một thời pháp tuyệt diệu cả đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối, giải rằng ba tướng mong manh là vô ngă, vô thường, khổ, khiến cho anh nghe qua ngán ngẩm sự đời, muốn xuất gia để kiện toàn đạo hạnh.

- Thưa anh, hiện giờ anh vẫn là thanh niên tráng kiện. Xin hăy nán lại chờ khi già cả rồi hăy xuất gia.

- Em à, con người khi già nua th́ chắc chắn chân tay không c̣n tự chủ, không thể điều khiển theo ư muốn của ḿnh. Chính ngay bản thân ḿnh hăy c̣n như vậy huống hồ là thân bằng quyến thuộc. Bởi thế, anh sẽ đi ngay bây giờ để thực hành đầy đủ giới hạnh của bậc Sa-môn.

Người anh liền nói bài kệ:

“Tuổi già làm suy yếu

Tay chân khó dạy bảo

Người lực kiệt sức cùng

Lấy chi hành pháp diệu”.


Bài liên quan

Đại đức Thích Lệ Minh và Danh hài Thúy Nga lập đàn tràng cầu siêu cho nghệ sỹ Anh Vũ tại chùa Thiện Mỹ

Nói dứt xong bài kệ, trưởng giả Maha Pala bỏ mặc người em kêu gào than khóc, dứt t́nh ra đi đến chỗ đức Bổn Sư đang ngự, và xin xuất gia nhập đạo nơi Ngài.

Qua trên, ta thấy trưởng giả Maha Pala dù nhà cửa đầy đủ vật chất, giàu sang phú quư, nhưng nhờ có đủ nhân duyên nghe một lần thuyết pháp của đức Thế Tôn mà đă hiểu rơ được thế nào là vô ngă, vô thường và khổ. Nhờ sự giác ngộ này mà trưởng giả Maha Pala đă đoạn được t́nh cảm gia đ́nh, quyết chí xuất gia nhập đạo nơi đức Tôn Sư. Điều này cho thấy, sự xuất gia của trưởng giả Maha Pala bắt nguồn từ sự hiểu biết, bắt nguồn từ trí tuệ chứ không phải do hoàn cảnh khổ đau như thất t́nh, bị phạm tội, thiếu ăn thiếu mặc. Một bài học cũng được rút ra, đó là người xuất gia nên xuất gia lúc c̣n trẻ tuổi, khỏe mạnh th́ sẽ có nhiều thời gian để học và thực hành Phật pháp.

Sau khi xuất gia, trưởng giả Maha Pala đă thọ cụ túc giới và phải ở chung cùng các vị Đại đức Tăng để học tập, thu thúc lục căn trong thời gian năm hạ. Đến măn hạ thứ năm, làm lễ Tự tứ xong, Tỳ-kheo Maha Pala t́m đến đức Bổn Sư đảnh lễ Ngài, rồi bạch hỏi rằng:

- Bạch Thế Tôn, trong giáo pháp của Ngài có bao nhiêu pháp chánh yếu cần phải hành tŕ?

- Này Tỳ-kheo, chỉ có hai pháp tất yếu mà thôi, đó là pháp học và pháp hành.

- Bạch Ngài, pháp học là sao và pháp hành như thế nào?

- Tùy theo trí tuệ của ḿnh, học hỏi nhuần nhuyễn một hoặc hai bộ kinh hoặc toàn bộ tam tạng kinh điển, ghi chép Phật ngôn. Sau khi đă thuộc ḷng, đem ra đọc tụng, thuyết giảng để giáo hóa chúng sanh, đó gọi là pháp học (Ganthadhura).

- C̣n như cam chịu cảnh sống thanh bần đạm bạc, vui thích ở nơi vắng vẻ hẻo lánh, ngày đêm hằng nhớ tưởng đến tính chất vô thường sinh diệt của bản ngă, rồi bền chí kiên gan, hành thiền đắc tuệ minh sát để dứt trừ phiền năo, chứng bậc Vô sanh, đó gọi là pháp hành (Vipassanadhura).

- Bạch Thế Tôn! Nay đệ tử là kẻ cao niên xuất gia, không kham nổi việc theo đuổi pháp học cho đến ngày thành tựu hoàn toàn, c̣n pháp hành th́ đệ tử có thể làm cho có kết quả mỹ măn được. Xin Thế Tôn chỉ dạy đề mục cho đệ tử.

Thể theo lời thỉnh cầu của Tỳ-kheo Maha Pala, đức Bổn Sư đă truyền dạy cho Thầy ấy một đề mục để niệm cho đắc quả Vô sanh (A-la-hán).

Sau khi đảnh lễ tạ từ đức Tôn Sư, Tỳ-kheo Maha Pala t́m được 60 vị Tỳ-kheo làm bạn đồng tu, rồi cùng nhau cất bước đi hành đạo. Các Tỳ-kheo đi được quăng đường 120 do-tuần th́ đến một thị trấn nhỏ sát biên giới, Đại đức Maha Pala hướng dẫn cả đoàn chư Tăng vào đó tŕ b́nh bát khất thực.

Dân chúng trông thấy chư vị Tỳ-kheo đầy đủ oai nghi tế hạnh, nên phát sanh ḷng ngưỡng mộ. Họ bảo nhau sắp đặt chỗ ngồi, thỉnh chư Tăng an tọa rồi dâng cúng vật thực ngon lành, sau mới hỏi rằng:

- Bạch chư Đại đức, chẳng hay các Ngài định đi đâu vậy?

- Chư thiện nam! Chúng tôi đi t́m một chỗ tiện nghi thuận cảnh.

Nghe đáp như vậy, những vị trí thức trong nhóm người ấy tự nhiên hiểu biết chư Tăng đang cần có chỗ để an cư kiết hạ. Họ bèn thỉnh khéo rằng:

- Bạch Đại đức, nếu quư Ngài có thể lưu lại đây nhập hạ ba tháng này, th́ rất tiện bề chúng tôi có được chỗ nương nhờ vững chắc để thọ tŕ Tam quy Ngũ giới.

Chư Tăng cùng nghĩ: “Chúng ta nương nhờ các gia tộc này giúp đỡ may ra có thể tu hành thoát ly ba cơi được chăng?”. Thế nên, quư Ngài nhận lời cầu thỉnh.

florida80 10-07-2019 21:13

Nhóm người ấy, sau khi được sự chấp nhận của chư Tăng, liền khởi công xây dựng một Tịnh xá, kiến tạo các cơ sở cần thiết để chư Tăng tùy nghi sử dụng trong lúc ban ngày hoặc ban đêm, rồi dâng cúng tất cả đến chư Tăng. Chư Tăng chỉ c̣n việc là hằng ngày ôm bát vào thị trấn nhỏ để khất thực.

Qua trên, ta thấy rằng, vào thời đức Phật, các vị Tỳ-kheo mới thọ giới bắt buộc phải ở chung cùng các vị Đại đức Tăng để học tập, thu thúc lục căn trong thời gian năm hạ đầu. Điều này giúp cho các vị Tỳ-kheo vững chăi hơn trong việc tu học về sau. Nhân đây, ta cũng biết được rằng, giáo pháp của đức Phật chỉ có hai pháp tất yếu là pháp học và pháp hành. Những người lớn tuổi xuất gia, thường không kham nổi việc theo đuổi pháp học cho đến ngày thành tựu hoàn toàn, mà chỉ có thể thực hành pháp hành để cho có kết quả tốt đẹp. Vào thời đức Phật, việc xây dựng cúng dường Tịnh xá và các vật dụng cần thiết, đă có các vị cư sĩ giúp đỡ. Chư Tăng chỉ có việc ôm bát vào làng khất thực và tu học Phật pháp. V́ vậy, việc tu học được dễ bề thành tựu.

Trong ba tháng an cư kiết hạ tại ngôi làng sát biên giới này, th́ vào cuối tháng thứ nhất, Đại đức Maha Pala cảm thấy đôi mắt xốn xang v́ ít ngủ. Qua tháng thứ hai, Đại đức bị đau mắt thật sự. Tuy vậy, Đại đức vẫn tiếp tục hành thiền minh sát cả đêm thâu, măi cho đến lúc mặt trời sắp rạng, Đại đức mới vào ngồi trong tịnh thất để nghỉ ngơi. Do v́ Đại đức phát nguyện sẽ giữ ǵn ba oai nghi, nên Đại đức đă không hề đặt lưng nằm xuống ngủ trong ba tháng hạ.

Khi phát hiện Đại đức Maha Pala bị đau mắt, các Thầy Tỳ-kheo đă mời một vị y sĩ đến để chữa bệnh. Vị y sĩ gởi cho Đại đức một loại thuốc chỉ nhỏ một lần vào mũi là sẽ hết đau mắt, nhưng Đại đức Maha Pala do phát nguyện giữ ba oai nghi nên không chịu nằm xuống để nhỏ mũi. Mặc dù vị y sĩ đă khẩn khoản yêu cầu: “Bạch Đại đức, xin Đại đức đừng làm như vậy không nên. Một bậc Sa-môn cũng cần ǵn giữ sức khỏe để hành đạo. Đại đức nằm xuống để nhỏ thuốc cho có hiệu quả”.

Lát sau, Đại đức mới đáp: “Thôi hiền hữu hăy về đi, để ta bàn tính lại rồi sẽ quyết định”.

Lúc bấy giờ, Đại đức Maha Pala không có gia đ́nh quyến thuộc tại nơi ấy để cùng thảo luận hoặc thăm ḍ ư kiến. V́ thế, Đại đức tự ḿnh hỏi ḿnh rằng: “Hỡi này Pala hiền hữu, hăy nói cho ta biết, hiền hữu xem đôi nhục nhăn của ḿnh quư trọng hay giáo pháp của đức Giác Ngộ là đáng quư trọng?”.

Và Đại đức cũng tự trả lời câu hỏi của ḿnh như vầy: “Từ đời vô thỉ đến nay, trải qua hằng hà sa số kiếp ch́m nổi trôi dạt trong biển luân hồi sanh tử, hiền hữu vẫn sống măi trong cảnh đui mù tăm tối. Trong khoảng thời gian ấy, không thể đếm kể là bao nhiêu trăm ngàn đức Đại Giác đă thành đạo chứng quả, c̣n kiến văn tri thức của hiền hữu không đủ để bao trùm thời kỳ của một đức Phật trong số chư Phật quá khứ. Bây giờ, hiền hữu đă phát nguyện trong hạ kỳ này, hiền hữu sẽ ngăn oai nghi nằm suốt ba tháng. Vậy th́ dù cho đôi mắt của hiền hữu có đui mù hư hoại đi chăng nữa, th́ cũng mặc kệ cho nó đui mù hư hoại. Hiền hữu chỉ cần kiên tŕ thực hành giáo pháp của đức Đại Giác mà thôi”.

Rồi như để dạy bảo sắc thân ḿnh, Đại đức ngâm lên mấy câu kệ:

“Mắt ta dù có đui mù

Tai ta dù điếc, thân dầu bất an

Trong thân tất cả cơ quan

Dầu tê liệt hết, há màng chi sao!

Hộ ơi! Đừng vịn cớ nào?

Buông lơi mối đạo, lăng xao pháp hành”.



“Mắt ta dầu có quáng manh

Tai ta dầu nặng, thân đành bất an

Trong thân tất cả cơ quan

Dầu hư hoại hết, há màng chi sao!

Hộ ơi! Đừng vịn cớ nào?

Buông lơi mối đạo, lăng xao pháp hành”.



“Mắt ta dầu có tan tành

Tai ta dầu lủng, thân đành bất an

Trong thân tất cả cơ quan

Dầu tiêu tán hết, há màng chi sao!

Hộ ơi! Đừng vịn cớ nào?

Buông lơi mối đạo, lăng xao pháp hành”.

Ngâm dài ba kệ khúc để tự khích lệ ḿnh xong, Đại đức Maha Pala vẫn giữ oai nghi ngồi như trước, lấy thuốc nhỏ lên mũi rồi đi vào làng khất thực. Vị y sĩ trông thấy Ngài bèn hỏi:

- Bạch Đại đức! Hôm nay Đại đức có nhỏ thuốc lên mũi không?

- Có rồi, thiện nam.

- Vậy bây giờ Đại đức thấy thế nào?

- Vẫn c̣n đau nhức như cũ.

- Sao thế? Đại đức nằm xuống hay cũng vẫn ngồi mà nhỏ thuốc?

Đến đây, Đại đức Maha Pala làm thinh. Dầu cho vị y sĩ có hỏi đi hỏi lại nhiều lần, Ngài cũng chẳng thốt ra một lời để đối đáp. Khi ấy vị y sĩ nói:


Bài liên quan

Đại đức Metteyya Sakyaputta góp phần Phục hưng Phật giáo tại Lumbini

- Đại đức đă không cần làm cho ḿnh được tiện nghi thoải mái th́ thôi, nhưng mong Đại đức đừng nói với ai là: “Có ông thầy đó đă chế thuốc trị bệnh cho ta, và tôi cũng chẳng nh́n nhận là người đă chế thuốc trị bệnh cho Đại đức”.

Đại đức đáp:

- Ta sẽ không nói thế đâu.

Bị vị y sĩ chạy bệnh không chịu cứu chữa, Đại đức trở về Tịnh xá, ḷng tự nhủ rằng: “Này ông Sa-môn ơi! Thầy thuốc đó bỏ rơi ông th́ bỏ, chứ ông đừng bỏ rơi hạnh nguyện của ḿnh nhé”.

Ngài lại xướng lên bốn câu kệ:

“Diệu dược vô phương chữa trị rồi

Lương y bất lực cũng đành lui

Giờ đây có nước chờ Diêm Chúa

Hộ hỡi làm sao dám dễ duôi?”.

Sau bài kệ tự huấn ấy, Đại đức thu thúc lục căn, hành Sa-môn pháp một cách rốt ráo. Đến cuối canh giữa đêm ấy, không trước không sau th́ hai mắt của Thầy vĩnh biệt ánh sáng, nhưng đồng thời tâm của Ngài cũng đoạn ly tất cả phiền năo. Ngài hưởng thụ nguồn an vui tự tại trong sự giác ngộ nội tâm của quả vị A-la-hán, rồi vào ngồi trong tịnh thất.

Đại đức Maha Pala vẫn thường khuyên bảo, nhắc nhở các bạn đồng đạo và chư Tỳ-kheo cũng biết phục thiện, tinh tấn thực hành theo lời chỉ dạy của vị trưởng đoàn một cách rốt ráo. Cho đến hết kỳ Tự tứ th́ tất cả sáu mươi vị thiền sư cũng đều đắc quả A-la-hán với tuệ phân tích.

Qua trên, ta thấy được Đại đức Maha Pala đă rất kiên tŕ và quyết tâm trong việc thực hiện lời phát nguyện của ḿnh. Đối với Đại đức Maha Pala th́ giáo pháp của đức Giác Ngộ mới thật sự đáng quư trọng hơn hết. Cho dù đôi mắt của Đại đức có hư hoại th́ Đại đức vẫn chấp nhận, vẫn quyết tâm không nằm để nhỏ mũi cho lành bệnh. Do sự giác ngộ hiểu biết về giáo pháp của đức Phật cộng với thiện căn tu hành tích lũy từ nhiều đời nhiều kiếp, mà Đại đức đă có được quyết tâm vững chắc như vậy. Cuối cùng, dù đôi mắt đă mù ḷa nhưng Ngài đă đắc quả vị A-la-hán, một kết quả xứng đáng cho sự nỗ lực tu học của Ngài. Đồng thời, sau đó Ngài cũng hướng dẫn cho tất cả ̉̉̉̉̉60 vị thiền sư đồng đạo hạnh cũng đều đắc quả A-la-hán giống như Ngài. Đó là một bài học tuyệt vời về tinh thần dũng cảm trong việc tu học Phật pháp. Đại đức Maha Pala măi măi là tấm gương sáng về sự quyết tâm kiên tŕ trong việc tu học đối với đàn học hậu về sau.

florida80 10-07-2019 21:14

Có phải vô ngă, vô thường là vô cảm với nỗi đau của người khác?

Thứ bảy, 05/10/2019 | 10:36










Chúng ta không nên tu hành trong ích kỷ, thiếu tính cách lợi tha, làm cho băng hoại chánh pháp của ba đời chư Phật: “Phật độ đời, nếu không có cuộc đời th́ cũng không có đức Phật và đạo Phật”, nên trong quá tŕnh tu hành, chúng ta làm được điều ǵ lợi lạc quần sanh th́ chúng ta thực hiện...


>>Phật tử có thể đọc thêm loạt bài về Lời Phật dạy

Hỏi: Con được nghe giảng để tâm ḿnh được giữ chánh niệm, không loạn th́ không nên vui quá cũng như không buồn quá, nên giữ ḿnh ở trạng thái cân bằng. Thêm vào đó, không nên quá động tâm đến chuyện đời. Ngược lại, theo lời Phật dạy th́ nên làm lành lánh dữ, ăn chay niệm Phật, giúp người. Vậy con nên dựa vào đâu để biết điều ḿnh làm là đúng hay sai?


Bài liên quan

Tưởng vô thường, tưởng vô ngă, thoát mọi khổ đau

Nếu ḿnh không động tâm suy nghĩ, không thương xót những cảnh đời bất hạnh th́ làm thế nào con mới có thể giúp đỡ người khác? Nếu không giúp đỡ th́ có phải là vô cảm không và nếu cứ nh́n cuộc đời với con mắt vô ngă vô thường, mọi người ai có nghiệp người ấy, không vui không buồn th́ đó có phải là vô cảm không, c̣n đâu là cuộc sống. Con quả thật không biết ḿnh nên nương như thế nào để đi v́ khi giúp người th́ con được bảo là không nên động tâm, xen vào nhân quả người khác c̣n nếu không quan tâm th́ quá thờ ơ và nhẫn tâm? Xin thầy cho con biết con nên làm như thế nào cho đúng theo lời Phật dạy?

Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, tôn giả An nan đà, vị thị giả của đức Phật có lời nguyện: “như nhứt chúng sanh vị thành Phật, chung bất ư thử thủ nê hoàn…” - nếu c̣n một chúng sanh nào không thành Phật, th́ tôi không bao giờ nhập vào cơi niết bàn…

Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, tôn giả An nan đà, vị thị giả của đức Phật có lời nguyện: “như nhứt chúng sanh vị thành Phật, chung bất ư thử thủ nê hoàn…” - nếu c̣n một chúng sanh nào không thành Phật, th́ tôi không bao giờ nhập vào cơi niết bàn…

Đáp: Trong quá tŕnh tu hành, hay làm môn đệ đức Phật đă là một đại căn, có duyên sâu sắc với Phật từ trong muôn vạn kiếp.

Làm môn đệ đức Phật có hai thứ bậc: Một là tu sĩ xuất gia, xưa gọi là Thanh văn, A La hán, các bậc tôn giả đại đệ tử đức Phật. Hai là cư sĩ, là những người con đức Phật tu tại gia, lúc nào cũng được sự hướng dẫn của chư tôn đức Tăng ni trong chốn thiền lâm. Các vị đă quy y Tam bảo và thọ tŕ ngũ giới cấm.


Bài liên quan

Đức Phật phá tất cả kiến chấp đối đăi sai biệt của hiện tượng giới để chỉ cho chúng sinh thấu đạt vô ngă

Dù xuất gia hay tại gia cũng đều có hạnh lành, cứu giúp chúng sanh trầm nịch trong bể khổ, hoặc đói rách lầm than, dốt nát thế cô. Đấy mới đúng nghĩa người đệ tử đức Phật.

Năm 1967, thầy có đọc sách của giáo sư Trần Thạc Đức, nhan đề “Đạo Phật đi vào cuộc đời”, nội dung chính là chỉnh đốn lại nếp sống thiền môn của chư Tăng ni, nhất là quư vị Trụ tŕ cần có những hướng đi mới, giáo hóa Phật tử, nuôi Tăng ni, giúp đỡ vật chất chư Tăng ni đi học đời hay đạo cho đến khi thành tài, để Tăng ni có cơ sở phụng sự cho đạo pháp. Tư tưởng đó cũng được nhiều bậc cao tăng tán đồng và trong đó có Phật học viện Huệ Nghiêm, Giác Sanh, Pháp Hội, Quan Âm tu viện… thực hiện trước. Các chùa Ni như chùa Từ Nghiêm, chùa Dược Sư, chùa Huê Lâm… nuôi ni chúng đi học, sau khi thành tài ra giúp công tác Giáo hội và Phật pháp.

florida80 10-07-2019 21:14

Có phải pháp môn niệm Phật, nguyện văng sanh là đi ngược lại với giáo lư nhà Phật?

Thứ bảy, 05/10/2019 | 17:28










Văn Thù Bồ Tát bảo Pháp Chiếu Đại sư: “Muốn mau thành Phật không ǵ bằng chuyên niệm Phật A Di Đà...”. Và Quan Thế Âm Bồ Tát khuyên Từ Mẫn Tam Tạng: “Ông muốn truyền pháp để độ ḿnh, độ người thời nên chuyên niệm Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà và phát nguyện văng sanh...”


>>Phật tử có thể đọc thêm loạt bài về Lời Phật dạy

Hỏi: Con rất thích niệm Phật và cũng thường hay đến chùa niệm Phật với đại chúng. Tuy nhiên gần đây, mỗi khi con chia sẻ các bài viết về pháp môn tịnh độ trên mạng th́ thường xuyên có một số bạn tự nhận là tu theo thiền tông đến chỉ trích, đưa bài của thầy các bạn ấy bảo cho con biết rằng nếu tin vào cơi tịnh độ, tin vào Đức Phật Di Đà, tin vào việc văng sanh đó là điều không tưởng và đi ngược lại với giáo lư nhà Phật, không có cơi Tịnh Độ nào cả mà chỉ là những sản phẩm hoang tưởng mê hoặc tín đồ. Bạn ấy c̣n trích bài giảng cho biết Bồ Tát Quán Thế Âm là không có thật, đó chỉ là sản phẩm hoang tưởng và nếu chỉ là một vị Bồ Tát, chưa là Phật tại sao lại có khả năng giáo hóa người khác với đủ thứ khả năng. Bạn ấy bảo chính những điều được giảng nói về Tịnh Độ Tông như vậy là đi ngược lại với những lời dạy của Đức Phật khi xưa, Tịnh Độ Tông là không có thật, như là ở các tôn giáo khác, làm người ta không tin vào khả năng của chính ḿnh, mất sự tự chủ, chỉ lo quỳ lạy cầu xin không chịu tu hành. Xin thầy cho con biết những điều bạn ấy nói là đúng hay sai? Cơi Tịnh Độ là có thật hay không? Tại sao lại có sự tranh luận như vậy?

florida80 10-07-2019 21:15

Đáp: Từ xưa, trong những xứ mà Đại thừa giáo được lưu hành, nhất là Trung Hoa, tự lực môn và Phật lực môn thường khi thành đối lập, rất chướng ngại cho người học đạo, mặc dầu đều từ kim khẩu của Đức Thích Ca Mâu Ni tuyên thuyết và đều là của Đại đức Ma Ha Ca Diếp và A Nan Đà kiết tập. V́ chỗ lợi ích riêng cho một nhóm người đại căn đến cầu pháp, chư Tổ trong Thiền tông dùng trực chỉ chơn tâm kiến tánh thành Phật để khai thị đôi khi in như bài xích Liên Tông. Nhưng chính những lời ấy là chuyển ngữ đối với đương cơ chớ chẳng phải là lời thường dùng đối với tất cả.


Bài liên quan

Chí tâm niệm Phật, khắc phục được tai nạn gió lửa

Một ít người tăng thượng mạn tự cao tự phụ, theo kiến thức hẹp ḥi của ḿnh, vịn theo tiếng vang văng vẳng ấy, đường hoàng đứng ra công kích môn Tịnh độ cùng khinh hủy người tu tịnh nghiệp, để rồi chuốc lấy tội báng Phật, hủy Pháp, khinh Tăng. V́ môn niệm Phật văng sanh là gốc từ Phật A Di Đà lập nguyện, Đức Thích Ca Mâu Ni chỉ giáo và lục phương chư Phật tán dương, nay bác môn Tịnh độ thời là hủy báng chư Phật vậy. Đă từ nơi Phật tuyên dạy thời môn Tịnh độ là giáo pháp chơn chính, bác Tịnh độ chính là hủy báng chánh pháp vậy. Nơi hội Hoa Nghiêm đức Phổ Hiền, trong hội Bát Nhă đức Văn Thù, cùng vô lượng đại Bồ Tát đều có lời phát nguyện văng sanh Cực Lạc; Mă Minh Đại sĩ có lời khuyên tu niệm Phật trong luận Khởi Tín; Long Thọ Bồ Tát được Phật thọ kư văng sanh nơi pháp hội Lăng Già, cùng vô số bậc đại Tổ Sư của các Tông Đại thừa, chẳng những Liên Tông mà cả Thiền Tông, Hoa Nghiêm Tông, nhứt là Pháp Hoa Tông, cho đến trong Duy Thức Tông, ngài Thiên Thân, ngài Khuy Cơ... đều cực lực tán dương và hoằng truyền môn Tịnh độ. Nay bác Tịnh độ hay khinh hủy người niệm Phật thời chính là hủy báng chư Hiền Thánh Tăng vậy (trích Thiền Tịnh quyết nghi của HT. Thích Trí Tịnh)

Các Bạn tu của tôi ơi! Niệm Phật A Di Đà th́ cứ lo niệm Phật, có ai chê khen th́ vẫn “Niệm Phật!”. Chính đó là “Thiền” của Đức Lục Tổ đấy Bạn ạ!

Chúng ta hăy nghe Trong kinh Hoa Nghiêm ngài Phổ Hiền, Kinh Bát Nhă ngài Văn Thù đồng phát nguyện: “Nguyện con đến lúc sắp lâm chung, tận mặt thấy Phật A Di Đà, liền được văng sanh về Cực Lạc”. Ảnh minh họa

Chúng ta hăy nghe Trong kinh Hoa Nghiêm ngài Phổ Hiền, Kinh Bát Nhă ngài Văn Thù đồng phát nguyện: “Nguyện con đến lúc sắp lâm chung, tận mặt thấy Phật A Di Đà, liền được văng sanh về Cực Lạc”. Ảnh minh họa

Nói ǵ th́ nói, đối với Phật, Tổ sư...chúng ta đều là hậu sanh, phải kíp lo tu niệm, xem “Sanh tử là sự đại” mới thoát khỏi luân hồi; đừng nên nói thiền nói lư, không nên tranh lấn từng lời nói, đừng xúc phạm đến “Thiền”, không đụng chạm đến “Tịnh”. Tranh luận cho nhiều xem đi xem lại tử sanh vẫn trong ṿng tử sanh? Có hay ho ǵ đâu các Bạn ạ!


Bài liên quan

Một Phật tử tặng chatbot Niệm Phật giúp cộng đồng niệm Phật được hiệu quả

Chúng ta hăy nghe Trong kinh Hoa Nghiêm ngài Phổ Hiền, Kinh Bát Nhă ngài Văn Thù đồng phát nguyện: “Nguyện con đến lúc sắp lâm chung, tận mặt thấy Phật A Di Đà, liền được văng sanh về Cực Lạc”.

Trong Thiền Tịnh quyết nghi Đại lăo Ḥa Thượng Trí Tịnh có trích lời: Văn Thù Bồ Tát bảo Pháp Chiếu Đại sư: “Muốn mau thành Phật không ǵ bằng chuyên niệm Phật A Di Đà...”. Và Quan Thế Âm Bồ Tát khuyên Từ Mẫn Tam Tạng: “Ông muốn truyền pháp để độ ḿnh, độ người thời nên chuyên niệm Tây phương Cực Lạc thế giới A Di Đà và phát nguyện văng sanh...”

Xin hỏi Bạn ấy có tu được bao nhiêu mà chê kinh Phật, chê lời Phật dạy, dù là Bạn đang ở ngôi vị Phật Thánh cũng chỉ là ở vị lai kiếp mà thôi, chứ hiện tiền mà thiếu niệm Phật, th́ đường Thiền vẫn cách xa vạn dậm. Sở dĩ người tu có khen có chê là v́ ngă ái chúng sanh, ngă ái c̣n th́ ấm cảnh hiện ra, thiền vị cũng vong mất, th́ c̣n ǵ mà khen chê.

Tịnh độ là cơi thanh tịnh, thế giới an lạc, là sự giải thoát chính chân chính đẳng chính giác, chúng sanh tu hành tam nghiệp thanh tịnh th́ sống trong thế giới an lạc. Ảnh minh họa

Tịnh độ là cơi thanh tịnh, thế giới an lạc, là sự giải thoát chính chân chính đẳng chính giác, chúng sanh tu hành tam nghiệp thanh tịnh th́ sống trong thế giới an lạc. Ảnh minh họa

Thường th́ pháp môn niệm Phật dung thông cả ba căn, thượng căn tri thức, trung căn và b́nh dân. Có khi bạn ấy thấy người b́nh dân cũng niệm Phật được, rồi vội đánh giá môn Tịnh độ là thấp! Nếu ta chịu khó xem kỹ lại Kinh Hoa Nghiêm nói về phẩm Nhập Pháp Giới, ngài Thiện Tài sau khi chỗ tu chứng đă sánh kề với chư Phật, được Phổ Hiền Bồ Tát dạy cho mười điều đại nguyện để hồi hướng văng sanh Tây phương Cực Lạc hầu chóng viên măn Phật quả và cũng để khuyên khắp cả hải chúng trong Hoa Tạng. Xét về hải chúng trong Hoa Tạng không có một ai là phàm phu hay nhị thừa cả, chỉ ṛng là bậc Pháp thân đại sĩ Bồ Tát, đồng phá vô minh, đồng chứng pháp tánh, tất cả đều có thể hiện thân làm Phật độ sanh nơi thế giới không Phật. Trong Hoa Tạng thế giới có vô số cơi Tịnh Độ, mà các vị Bồ tát chỉ chuyên quyết hồi hướng cầu sanh Tây phương Cực Lạc thế giới, huống chi ta là phàm phu, phước mỏng nghiệp dày chướng sâu tội nặng (Thiền Tịnh Quyết Nghi - HT. Thích Trí Tịnh biên soạn).

Quán Thế Âm Bồ tát:

Thuộc Bồ tát Bát địa, tức là Bất động Tự tại, do phát đại nguyện trước Đức Thế Tự Tại Vương Như Lai mà chứng đắc vị trí Bất động Tự tại, có ngàn tay ngàn mắt, tức là vạn hạnh Bồ tát. Trong thế gian nầy ai Bất động Tự tại như Quán Âm th́ chính đó là Quán Âm. Đức Quán Âm, ngài không có tự xưng Ngài là Quán Âm. Ngài đă tu vô ngă từ muôn vạn kiếp, không độc quyền làm Bồ tát, với danh hiệu Ngài, chúng sanh ai phát đại nguyện như Ngài th́ cũng thành Quán Âm, nên không có vấn đề “Thật hay giả”, “Có hay không” Đức Quán Âm Bồ tát.

Cơi Tịnh độ thật hay giả:


Bài liên quan

Nhất tâm niệm Phật chắc chắn sẽ được văng sinh

Tịnh độ là cơi thanh tịnh, thế giới an lạc, là sự giải thoát chính chân chính đẳng chính giác, chúng sanh tu hành tam nghiệp thanh tịnh th́ sống trong thế giới an lạc. Khi Bạn c̣n trong quá tŕnh tu hành th́ cơi ấy là “Quyền”, tức là phương tiện, là đề mục quán tưởng để Bạn tiến thủ công phu (kinh Thập Lục Quán). Khi nào Bạn chứng đắc th́ cơi ấy là “Thật”, v́ cơi Tịnh độ đó chính là Bạn: Thân trang nghiêm thoát tục là “Y báo” và chánh niệm là “Chánh báo”, y chánh trang nghiêm là Tịnh độ. Do có Bạn nào đó tu lơ mơ nên dễ sanh nhàm chán, hoặc những người chưa học hiểu pháp môn, nghe chuột kêu “Tức tức”, chim kêu “Không không” nên bảo là: Cơi Tịnh độ “Không thật” đó thôi.

Pháp tu Tịnh độ do Phật thuyết trong kinh A Di Đà, Đại A Di Đà, Thập Lục Quán và trong các kinh Đại thừa đức Phật đều khuyên chư vị Bồ tát, Thinh văn sau khi măn đại nguyện độ sanh, đều hồi hướng cầu sanh Tây phương Cực lạc. Các kinh chỉ dẫn Pháp tu Tịnh độ thuộc Bồ tát tạng, được chư vị Bồ tát kết tập ngoài hang Thất La Phiệt, sau Phật nhập diệt bảy ngày. Trong khi đó bên trong hang Thất La Phiệt kết tập Thinh văn tạng lần thứ nhất do ngài Ca Diếp chủ tŕ, ngài A Nan đọc lại các lời dạy của Phật (Nhị khóa hiệp giải, trang 6 - bản dịch Sa môn Thích Hành Trụ)

Tịnh Độ tông:

Dựa vào pháp môn tu niệm Phật, th́ bàn việc tu chứng, bàn đến thế giới Tịnh độ của Phật A Di Đà là thật pháp. Ban không nên dùng từ Tịnh Độ tông để nhận định pháp môn tu là không đúng, v́ Tịnh Độ tông một tông phái, một tổ chức có nhiều người tu tham gia tu hành, Bạn đă lạc vào tổ chức hành chánh thế pháp rồi, thế pháp th́ hư hoại nên gọi không thật, mọi người sẵn sàng đốn phá Bạn đó thôi.

Chúc Bạn giữ vững niềm tin niệm Phật, thấm nhuần hương vị giải thoát.

florida80 10-08-2019 22:03

Người xuyên tạc Như Lai

Thứ ba, 08/10/2019 | 16:38










Do vô t́nh hay cố ư mà người ta xuyên tạc lời Phật dạy, kinh điển, lặp lại lời Phật, Tổ hay nói giáo pháp sai lệch, không đúng sự thật. Nhiều người diễn giải kinh pháp theo chiều hướng phục vụ mục đích riêng của ḿnh. Xuyên tạc lời Phật dạy, xuyên tạc giáo pháp cũng chính là xuyên tạc Đức Phật.


>> Phật pháp thường thức


Bài liên quan

Gửi con – Người sứ giả Như Lai

Kinh Tăng chi bộ (tập 1, chương Hai pháp, phẩm Người ngu), Đức Phật có nói đến hai hạng người xuyên tạc Như Lai: “Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người độc ác với tâm đầy sân hận, và người có ḷng tin với tà kiến. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai”. Đức Phật cho biết hạng người thứ nhất là người độc ác với tâm đầy sân hận. Hạng người thứ hai là người có ḷng tin với tà kiến, tức là người có niềm tin mê lầm (không có chánh kiến, xây dựng niềm tin trên cơ sở tà kiến, nhận thức hiểu biết sai lầm, lệch lạc).

Hạng người độc ác với tâm đầy sân hận là những ai? Là người đại diện cho cái xấu, cái ác, không có niềm tin và nếp sống hướng thiện, không tin nhân quả, kiêu mạn, hiếu chiến, oán ghét người đạo đức, người tu hành. Đó là ác ma và quyến thuộc, bè đảng của ác ma. Ngoài ra c̣n có một số thành phần ngoại đạo và các thế lực đen tối luôn sống trong sân hận, thù hằn, ganh ghét, đố kỵ, nghi ngờ, họ luôn có thành kiến, ác cảm với đạo Phật, với người tu học Phật và luôn t́m mọi cách chống phá.

Do vô t́nh hay cố ư mà người ta xuyên tạc lời Phật dạy, kinh điển, lặp lại lời Phật, Tổ hay nói giáo pháp sai lệch, không đúng sự thật. Nhiều người diễn giải kinh pháp theo chiều hướng phục vụ mục đích riêng của ḿnh. Xuyên tạc lời Phật dạy, xuyên tạc giáo pháp cũng chính là xuyên tạc Đức Phật.

Do vô t́nh hay cố ư mà người ta xuyên tạc lời Phật dạy, kinh điển, lặp lại lời Phật, Tổ hay nói giáo pháp sai lệch, không đúng sự thật. Nhiều người diễn giải kinh pháp theo chiều hướng phục vụ mục đích riêng của ḿnh. Xuyên tạc lời Phật dạy, xuyên tạc giáo pháp cũng chính là xuyên tạc Đức Phật.

Hạng người này xuyên tạc Đức Phật và giáo pháp của Ngài như thế nào? Để ngăn chặn cái thiện phát triển, chống phá người tu hành và những thành quả của họ, hạng người này t́m cách dẫn dụ những người có niềm tin chưa vững chắc, thiếu hiểu biết Chánh pháp, đầu độc họ bằng niềm tin lệch lạc, mê lầm (tà kiến), bằng hành vi và lối sống buông thả, phóng túng, trái với giới luật và giáo pháp của Đức Phật. Chúng có thể giả làm người xuất gia, cư sĩ hoặc người đang t́m hiểu đạo để tiếp cận môi trường Phật giáo, tŕnh bày sai lạc Chánh pháp, giới luật, khiến Phật tử tu học không đúng Chánh pháp, sống đời sống vượt ra ngoài nền nếp đạo đức. Họ xuyên tạc sự thật, phỉ báng Tăng Ni, khiến cho những người Phật tử thuần thành bỏ đạo, mất niềm tin thanh tịnh, nội bộ Phật giáo chia rẽ, mất ḥa hợp. Hoặc chúng lôi kéo, dẫn dắt người Phật tử theo con đường mê tín dị đoan, tà kiến ngoại đạo.


Bài liên quan

Tôn giả Sīvali - bậc Thánh Thanh Văn đại Đệ tử có tài lộc bậc nhất của Như Lai

Để phá hoại Phật pháp, ác ma và quyến thuộc của ác ma có thể xúi giục người tu hành phạm trai phá giới, gian dối, rượu bia, tà dâm; không ngồi thiền, niệm Phật, tụng kinh; lười biếng, giải đăi trong tu học, cho rằng như thế vẫn có thể giác ngộ, chứng thánh quả, như thế là giải thoát, tự tại, vô trụ chấp. Những ai không sống đúng Chánh pháp, thiếu hiểu biết, thiếu niềm tin chơn chánh, thiếu sự hành tŕ th́ dễ rơi vào bẫy rập của ác ma.

Tinh vi hơn là ác ma đánh lừa người tu hành, khiến người tu hành có những lư do ngụy biện cho những việc làm chạy theo danh tiếng, lợi dưỡng, uy quyền, thế lực, địa vị… Những thứ này có sức hấp dẫn, lôi cuốn rất lớn, nếu thiếu chánh niệm, thiếu định lực và tuệ giác, không có công phu tu hành th́ người tu dễ mất tự chủ, dễ bị chúng dẫn dắt.

C̣n hạng người thứ hai xuyên tạc Đức Phật và giáo pháp của Ngài là người có ḷng tin tà kiến. Họ là những ai? Đó là những người mê tín (không có chánh kiến), cuồng tín, những người có niềm tin cực đoan và những người kiêu mạn. Họ tin vào nhận thức hiểu biết sai lầm, lệch lạc, tiêu cực, không phù hợp chân lư, không có giá trị lợi ích cho bản thân và người khác, thậm chí gây ra nhiều tác hại từ nhận thức và niềm tin mê lầm đó. Đa phần hạng người này là ngoại đạo, c̣n gọi là tà kiến ngoại đạo.C̣n trường hợp khác là, do hiểu sai lời Phật dạy, hiểu không đúng giáo pháp hoặc hiểu không đến nơi đến chốn, thấy biết một bên, không đầy đủ, không chính xác mà người ta nói, tŕnh bày không đúng về Đức Phật và giáo pháp. Đây là hạng người xuyên tạc Đức Phật một cách không cố ư (vô t́nh). Hạng người này rất nhiều, không chỉ những người mới t́m hiểu đạo Phật, mà có cả người xuất gia, cư sĩ Phật tử và các học giả. Phật pháp mênh mông như biển, lại cần trải qua quá tŕnh tu học, tự thể nghiệm, thực chứng mới có thể thông suốt, quán triệt; mà học tới đâu th́ biết tới đó, lănh hội được ǵ, thể nghiệm như thế nào th́ chỉ biết như thế ấy thôi, v́ thế việc hiểu sai, hiểu mơ hồ, nhận thức không đầy đủ là lẽ thường. Có khi nói là ư kinh, ư Phật nhưng thật ra là ư của người nói, người viết do hiểu không đúng kinh điển; dùng những từ ngữ Phật học nhưng nội dung tŕnh bày, diễn giải không đúng khái niệm, không hợp ư kinh. Trường hợp này rất nhiều, như chỉ giáo lư Nhân quả-Nghiệp báo thôi, dù cơ bản và có vẻ dễ hiểu nhưng không phải ai cũng có hiểu biết đúng và đầy đủ. Hoặc dễ hiểu lầm nhất là giáo lư Không, Vô ngă. Đây là giáo lư cao siêu và ṇng cốt của đạo Phật, nhưng đ̣i hỏi sự thấy biết về Vô ngă là thấy biết bằng tuệ giác thông qua sự tu tập và thể nghiệm, thực chứng chứ không phải bằng tư duy suy luận.

Đức Phật nói rơ như thế nào là xuyên tạc Ngài: “Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người nêu rơ Như Lai có nói, có thuyết là Như Lai không nói, không thuyết, và người nêu rơ Như Lai không nói, không thuyết là Như Lai có nói, có thuyết. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai”.

Đức Phật nói rơ như thế nào là xuyên tạc Ngài: “Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người nêu rơ Như Lai có nói, có thuyết là Như Lai không nói, không thuyết, và người nêu rơ Như Lai không nói, không thuyết là Như Lai có nói, có thuyết. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai”.

Ngay ở bước đầu tiếp cận t́m hiểu thôi, đă có không ít người hiểu sai về Vô ngă dù chỉ trên ư nghĩa ngôn từ, khái niệm. Và càng khó khăn hơn để trực nhận, thực chứng lư Vô ngă thông qua sự tu hành. Nó đ̣i hỏi thời gian, công sức và phương pháp tu tập đúng đắn.Trên tinh thần cầu thị, cùng nghiên cứu, trao đổi học tập lẫn nhau, thay v́ nói: “Theo tôi th́ (vấn đề ǵ đó)… là như vậy, như vậy…”, “Theo tôi nghĩ, theo tôi hiểu th́ vấn đề đó là….”, người đó lại bảo là: “Đức Phật dạy rằng…”, “Đức Phật có nói:…..”, “Đức Phật đă nói như vậy”. Thay v́ tôn trọng niềm tin, pháp học, pháp hành của người khác th́ có người lại chủ quan, cực đoan, chỉ cho niềm tin, pháp học, pháp hành của ḿnh là đúng, là duy nhất, tối thượng. Với kiến chấp, họ cho rằng những pháp học, pháp hành khác với họ là sai, là tà kiến, là không đúng Chánh pháp. Trong khi đó, thực tế th́ giáo pháp chỉ là phương tiện (là chiếc thuyền đưa người qua sông mê, đến bờ giác ngộ, là ngón tay chỉ mặt trăng), đó không phải là chân lư cứu cánh. Nhân duyên, căn cơ tŕnh độ mỗi người mỗi khác, v́ thế con đường tiếp cận đạo, cách thức tu học, hành đạo của mỗi người cũng không giống nhau. V́ thế mà các bậc tiền nhân đi trước đă đúc kết kinh nghiệm: Chỉ có thể hóa độ người hữu duyên, và phải khế lư, khế cơ, khế thời, khế xứ. Không có một bài thuốc chung cho tất cả người bệnh. Dù cùng một bệnh, nhưng thể chất, tâm lư, cơ địa, lối sống và tiền sử bệnh khác nhau th́ nhất định phải có cách chữa trị khác nhau.


Bài liên quan

Phẩm chất của một Sứ giả Như Lai trong việc hoằng pháp

Đức Phật nói rơ như thế nào là xuyên tạc Ngài: “Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai. Thế nào là hai? Người nêu rơ Như Lai có nói, có thuyết là Như Lai không nói, không thuyết, và người nêu rơ Như Lai không nói, không thuyết là Như Lai có nói, có thuyết. Này các Tỷ-kheo, có hai hạng người này xuyên tạc Như Lai”.

Ở đây Đức Phật cho biết: Những điều Ngài không nói, không thuyết mà cho là Ngài có nói, có thuyết. Những điều Ngài có nói, có thuyết mà cho là Ngài không nói, không thuyết, như thế là xuyên tạc Ngài.

Chúng ta thấy, v́ mục đích riêng, v́ ư đồ xấu mà người ta xuyên tạc Đức Phật như những ǵ Ngài nói: Chuyện có th́ nói không, chuyện không th́ nói có, tŕnh bày sai về giáo pháp, sửa đổi, thêm bớt kinh điển.

Kinh điển Phật giáo quá nhiều, cả một kho tàng đồ sộ. Ai đă đọc qua tất cả? Ai đă hiểu hết lời Phật dạy trong các kinh? Có lẽ hiếm ai làm được việc này. Chưa kể là trải qua mấy ngàn năm lưu truyền, nhiều lần trùng tụng khẩu truyền, kết tập, ghi chép, không ai dám đảm bảo từng câu, từng lời đều xuất phát từ kim khẩu Đức Thế Tôn.

Kinh điển Phật giáo quá nhiều, cả một kho tàng đồ sộ. Ai đă đọc qua tất cả? Ai đă hiểu hết lời Phật dạy trong các kinh? Có lẽ hiếm ai làm được việc này. Chưa kể là trải qua mấy ngàn năm lưu truyền, nhiều lần trùng tụng khẩu truyền, kết tập, ghi chép, không ai dám đảm bảo từng câu, từng lời đều xuất phát từ kim khẩu Đức Thế Tôn.

Kinh điển Phật giáo quá nhiều, cả một kho tàng đồ sộ. Ai đă đọc qua tất cả? Ai đă hiểu hết lời Phật dạy trong các kinh? Có lẽ hiếm ai làm được việc này. Chưa kể là trải qua mấy ngàn năm lưu truyền, nhiều lần trùng tụng khẩu truyền, kết tập, ghi chép, không ai dám đảm bảo từng câu, từng lời đều xuất phát từ kim khẩu Đức Thế Tôn. Đến khi phiên dịch ra từng ngôn ngữ để truyền bá th́ có thể không c̣n đảm bảo độ chính xác do giới hạn của ngôn từ và tŕnh độ người làm công tác phiên dịch. Trong khi đọc, hiểu rồi dùng từ ngữ để dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, diễn đạt ư kinh, có thể có sai lầm, khiếm khuyết. Thêm hoặc bớt một đoạn, một câu, một từ có thể dẫn đến sai ư kinh nguyên bản.


Bài liên quan

Sen vàng nâng gót ngọc Như Lai

Tuy nhiên không phải v́ thế mà chúng ta không học được kinh Phật. Bất luận kinh, luật, luận đó thuộc tạng kinh nào, ngôn ngữ nào, là hệ kinh Nguyên thủy hay hệ kinh Phát triển, hễ nội dung xoay quanh các nền tảng căn bản Vô thường, Khổ, Vô ngă, Tứ Thánh đế, Duyên khởi, Nhân quả-Nghiệp báo, Luân hồi-Tái sinh, Từ bi, Trí tuệ, v.v…, th́ nó không đi ra ngoài hệ thống giáo lư của đạo Phật. Theo tôi, dù h́nh thức có sai biệt nhưng vẫn đảm bảo nội dung, chất lượng bên trong th́ an toàn sử dụng. Chúng ta chỉ sợ sự tha hóa, biến chất thôi. Hễ h́nh thức, phương pháp tu tập nào đưa đến thành tựu Giới-Định-Tuệ th́ đó là pháp hành chơn chánh, là đạo lộ đúng đưa đến an lạc, giác ngộ, giải thoát. Trái lại, nêu ra những quan điểm ngược với giáo lư Vô thường, Khổ, Vô ngă, Duyên sinh, Nhân quả-Nghiệp báo,… và nội dung tu tập không đưa đến thành tựu Giới-Định-Tuệ th́ đó không phải là Phật pháp. Nếu cho rằng đó là Phật pháp, như thế là xuyên tạc Đức Phật.

florida80 10-08-2019 22:04

Bị tai nạn giao thông, nhờ tiếng niệm Phật được cấp cứu

Thứ sáu, 13/09/2019 | 06:56










Mấy năm gần đây tai nạn giao thông liên tiếp xảy ra, có lẽ là cô hồn uổng tử quấy phá, mắt phàm không thể thấy biết được. Tuy vậy, nếu như biết tŕ một câu Thánh hiệu A Di Đà Phật th́ có thể khiến cho những ma quỷ đó bỏ đi ngay tức thời, lập tức được an nhiên vô sự.


>>Tư liệu

Câu chuyện thật sau đây sẽ minh chứng cho điều này:


Bài liên quan

Trợ giúp cho cha văng sinh tây phương thật là đại hiếu!

Vị liên hữu Khưu Liên Châu hiện ở làng Nội Tân phía ngoài cửa thành Nam Đài Trung, mọi người đều gọi bà là sư tỷ Ngọc. 10 năm trước bà mở một tiệm chụp ảnh ở gần chợ Đệ Tam đường Đài Trung. Một hôm sư tỷ Ngọc ở ngă tư trước bưu điện, bị một chiếc xe hơi không rơ của hăng nào đụng ngă trên đường, chiếc xe gây ra tai nạn bỏ chạy mất! Tội nghiệp sư tỷ máu ra đầy mặt, hơi thở thoi thóp không c̣n biết ǵ nữa, những người vây quanh nh́n nhau, không nhận biết người bị thương là ai? Ngay lúc đó có một anh lính trẻ đi đến, bỗng nhiên kêu lên: “Sư tỷ! Đây là sư tỷ ở tiệm chụp h́nh đây mà!”. Lập tức cơng bà ta đưa về tiệm chụp h́nh, con cái bà vừa thấy liền hoảng kinh, thất sắc, cả nhà đều lớn tiếng niệm A Di Đà Phật và Quán Thế Âm Bồ Tát, anh lính trẻ kia cũng niệm Phật cùng với mọi người. Không bao lâu sau sư tỷ Ngọc đang hôn mê bỗng lên tiếng, chỉ nghe bà ta nói rằng: “Các người đông như thế muốn ta đi theo các người, ta không đi! Các người lái xe hơi lại, muốn ép ta lên xe hả? Ta cũng không đi. Không đi là không đi! Ta là đệ tử của Tam Bảo, suốt ngày niệm A Di Đà Phật, chỉ muốn đi Tây phương thôi, làm sao có thể tùy tiện đi theo các người được chứ? Nếu như Phật A Di Đà đến tiếp dẫn th́ ta mới đi”.

Chí tâm niệm phật và nhờ vào thần lực của tiếng niệm Phật mà được tai qua nạn khỏi.

Chí tâm niệm phật và nhờ vào thần lực của tiếng niệm Phật mà được tai qua nạn khỏi.


Bài liên quan

Chị lạy Phật, em trai được nhờ phước

Nói đến đây ngừng một hồi, lại tiếp: “Rất đông người như thế, muốn đến kéo ta đi, nghe tiếng niệm Phật của các con ta, đă chạy ra ngoài hết rồi, xe hơi cũng chạy luôn”. Không bao lâu sư tỷ tỉnh táo lại hẳn, lúc tôi đến thăm th́ trên đầu bà ta đă được bao lớp vải gạc và may mười mấy mũi, bà kể việc bà thấy rất nhiều tà ma quỷ quái muốn ép bà lên xe. Tôi khen ngợi công sức niệm Phật của bà là rất tốt. Nếu như là người không có tin Phật hoặc không dụng công sức nhiều, th́ thần thức không sáng suốt, thấy xe hơi có thể đi được, liền vui mừng đi theo họ ngay, há chẳng đáng sợ ư? Th́ ra anh lính trẻ cơng bà về nhà là một liên hữu trong ban thanh niên của Liên Xă, đă nhiều năm nghe kinh với Bính Công ân sư, do đó mọi người đều biết nhau, sư tỷ Ngọc nếu không gặp được anh ta, nhẫn đến tự ḿnh không được chánh niệm rơ ràng, chắc chắn khó hồi phục mạnh khỏe.

(Trích cuốn sách "Những Chuyện Niệm Phật Mắt Thấy Tai Nghe" - Tác giả: Nữ cư sĩ Lâm Khán Trị - Việt dịch: Thích Hoằng Chí).

florida80 10-08-2019 22:07

Tác phẩm đúc kết tinh hoa những lời dạy của vị Thánh tăng cận đại

Thứ năm, 03/10/2019 | 08:26










Cẩm Nang Tu Đạo là tác phẩm đúc kết tinh hoa những lời dạy của vị Thánh tăng cận đại, Ḥa thượng Quảng Khâm (1892-1986). Là người đă giác ngộ, mỗi lời dạy của Ngài trực tiếp phá vỡ vô minh, khiến ta giác ngộ như Ngài.


>>Những cuốn sách Phật giáo hay nên đọc

Kinh Hoa Nghiêm dạy rằng: “Chúng sinh như người bệnh, thiện tri thức như bác sĩ, lời dạy của thiện tri thức như thuốc hay. Thuốc hay th́ đắng, song trị lành được bệnh”.

Bởi vậy, trong tập Cẩm Nang này, bạn sẽ thấy mỗi lời dạy của Ngài đều vô cùng sâu sắc, trực tiếp song đơn giản; ngắn gọn, dễ hiểu mà hàm súc. Đây là điểm then chốt dị biệt giữa lời nói của người đă ngộ đạo và kẻ chưa tỉnh giác.

B́a cuốn Cẩm Nang Tu Đạo.

B́a cuốn Cẩm Nang Tu Đạo.


Bài liên quan

Qui Sơn Cảnh Sách

Kẻ c̣n mê muội th́ cần lời giảng cao xa, sâu sắc, dùng tṛ chơi trí thức chữ nghĩa, song thiếu thực dụng nội tại. Những lời dạy của Ḥa thượng Quảng Khâm là những lời mà không ai có thể bắt chước được, bởi v́ những lời ấy được lưu xuất từ một nội tâm thâm chứng và một cuộc đời chân thật thực nghiệm. Sống trong sự thâm chứng ấy mỗi ngày, Ngài chỉ ăn một bữa ngọ và chỉ ăn trái cây; ngủ th́ ngủ ngồi; áo mặc th́ chỉ một vài bộ. Ngài rất ít lời, không nói chuyện dông dài, bàn luận thế sự tạp nhạp. Cả đời, vật sở hữu của Ngài hoàn toàn không! Chẳng có xe hơi, chẳng có trương mục ngân hàng hay thẻ tín dụng, nhà riêng, ti vi, tủ lạnh, radio... tất cả Ngài đều không có. Chính bởi v́, và chỉ có, cuộc sống rỗng không như vậy nên Ngài mới thực sự an trụ trong cảnh giới chân không của tự tâm. Đây thật là điều quư báu để chúng ta, kẻ hậu học, nhất là người xuất gia, phản tỉnh và thức tỉnh.

Ḥa thượng Quảng Khâm.

Ḥa thượng Quảng Khâm.


Bài liên quan

Cuộc đời và con đường tu tập kỳ diệu của Ḥa thượng Quảng Khâm

Đối tượng trọng tâm của tập Cẩm Nang này là người xuất gia, song hoàn toàn ứng dụng cho kẻ tại gia. Khi đọc Cẩm Nang, bạn hăy h́nh dung như có một vị Tăng già hiền từ, chín mươi tuổi ngoài, đang nói chuyện cùng ḿnh vậy.

Sách này, đọc là để áp dụng; đây không phải là tiểu thuyết, truyện, hay sách nghiên cứu để tăng kiến thức. Khi được đọc để áp dụng như thuốc lành trị bệnh hay như gậy đỡ chân, th́ tập Cẩm Nang này sẽ giúp chúng ta thay đổi cái nh́n, sửa thói hư tật xấu, trừ suy nghĩ lầm lẫn, hướng dẫn bước tu đúng đắn. Khi đó, ánh sáng bất tận của chánh pháp sẽ chắc chắn tràn ngập nơi nơi, trong tâm bạn và những ǵ quanh bạn.

florida80 10-08-2019 22:08

Thuốc A Già Đà trị được vạn bệnh

Thứ sáu, 04/10/2019 | 15:31










"Vừa thoa vào, thật là loại thuốc có công hiệu đặc biệt: hết đau, nuôi thịt, sanh da, ba phần đều tốt, sáng hôm sau khỏi được phân nửa, ba ngày sau khỏi hẳn. Đây đều là sự linh cảm của Phật, Bồ Tát từ bi đặc biệt gia hộ, thật là thuốc đến bệnh tiêu, nếu không th́ đi không được rồi".


>>Những câu chuyện Phật giáo hay nên đọc


Bài liên quan

Nghi thức niệm Phật hằng ngày

Nhân duyên hoằng pháp của Liên xă Đài Trung đến miền Đông, khởi đầu từ đại hội diễn giảng của liên xă Đài Trung nhân dịp tân xuân năm Dân Quốc thứ 43. Trong thính chúng có vị nữ sĩ Hồng Lâm Trản liên tục năm ngày nghe giảng. Từ Đài Đông xa xôi đến đây, thời gian ở Đài Trung, bà ta ở cửa hàng bách hóa Vĩnh Phong, được sự chiêu đăi chân thành của Hoàng Hỏa Triều cư sĩ Kư phu nhân Nguyễn Miến. Lúc bấy giờ nữ sĩ Lâm Trản rất xanh xao, vàng vọt, trên cổ đeo một sợi dải băng, chốc chốc lại ho, bà ta hỏi Hoàng phu nhân: Ở Đài Trung có bác sĩ giỏi không, dẫn bà ta đi xem bệnh. Ở Đài Đông bà đă từng đi rọi X quang nghe nói là phổi bên trái có ba lỗ. Mấy tháng nay uống cả kư Cao ly sâm chính hiệu và chích hơn một trăm mũi thuốc, đều không thấy hiệu quả!

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa


Bài liên quan

Tích truyện Pháp cú: Kàla em và Kàla anh

Lúc đó là khoảng 5 giờ chiều, nhà họ Hoàng là một gia đ́nh Phật tử thuần thành, hai thời khóa sớm tối từ nào tới giờ chưa từng gián đoạn, bà Hoàng phu nhân Nguyễn Miến mời bà Trản đến bàn thờ lạy Phật, c̣n lấy một xâu chuỗi, chỉ cho bà ta phương pháp niệm Phật và nói rơ về đạo lư trị hết được muôn bệnh của môn thuốc A Già Đà này cho bà ta nghe. Khóa tụng xong c̣n cầu nguyện xin một ly nước chú đại bi cho bà ta uống. Sau buổi cơm tối bà Miến liền nói: “Chị Trản à, chị thật là có phước, bắt đầu từ tối nay, Liên xă của chúng tôi liên tiếp giảng pháp năm ngày”. Tối đó liền dẫn bà ta đi nghe giảng. Thật là không thể nghĩ bàn, đêm đó bà Trản suốt một giờ không ho một tiếng nào, khi ngủ, ngủ thẳng đến sáng. Bà Trản cảm thấy Phật pháp thật là lư thú, ở nhà họ Hoàng ban ngày chí tâm niệm Phật, đến tối đi nghe giảng, liên tục năm ngày, một phần khái luợc về Phật pháp sơ cơ đă hiểu được đôi chút, tinh thần đă có chỗ nương tựa, sức khỏe cũng tốt rất nhiều. Bà than thở: “Người ở Đài Trung rất là có phước, người Đài Đông chúng tôi chưa từng được nghe qua chánh pháp sâu sắc như thế này!”. Bà Miến đáp lại: “Chị hiện nay đă hiểu rơ được cái hay của việc tin Phật, niệm Phật, chị nên phát Bồ đề tâm, thỉnh nhân viên hoằng pháp của Liên xă đến nơi của chị hoằng dương Phật pháp, khiến những chúng sanh có duyên cũng được lợi ích, th́ công đức của chị thật là vô lượng!”. Bà Trản nghe xong, vui mừng nhận lời, nói: “Được! Vậy th́ nhờ chị thỉnh dùm. Tiền xe hay tiền máy bay đi lại, tôi chịu hết, nhưng chị cũng phải cùng đi tới chỗ tôi chơi mới được”.

Niệm Phật với tâm thành kính sẽ dứt trừ được bạo bệnh. Đem lại cuộc sống an lạc, thanh bần.

Niệm Phật với tâm thành kính sẽ dứt trừ được bạo bệnh. Đem lại cuộc sống an lạc, thanh bần.


Bài liên quan

Truyện ngụ ngôn: Mỗi sự vật, vạn cách nh́n!

Giao thông từ 14 năm về trước không tiện lợi như ngày nay, đi Đài. Đông chỉ một ngày là đến rồi. Lúc bấy giờ phải mất hai ngày, phải ngủ một đêm ở Cao Hùng. Cuối cùng một đoàn ba nguời: bà Trản, bà Miến cùng với Pháp Viên. Khi ngủ lại pḥng trọ ở Cao Hùng, th́ xảy ra việc linh cảm Phật, Bồ Tát pḥ hộ. Nguyên là trên chân của Pháp Viên có cái mụt nhọt, đă từng trị liệu hơn một tháng, bị lầy rữa ra hai tấc, chung quanh không c̣n cảm giác đau nữa. Lúc bấy giờ v́ nhiệt t́nh, quên đi cái mụt nhọt trên chân, nhưng đến pḥng trọ ở Cao Hùng, phát đau đến mức không chịu nổi, bà chủ pḥng trọ nh́n thấy chân của khách đau ghê gớm như thế, liền giới thiệu nói, ở vùng này có một loại thuốc mỡ cỏ xanh tinh luyện rất hay, có thể trị được bệnh này, liền nhờ người mua hai hoàn. Vừa thoa vào, thật là loại thuốc có công hiệu đặc biệt: hết đau, nuôi thịt, sanh da, ba phần đều tốt, sáng hôm sau khỏi được phân nửa, ba ngày sau khỏi hẳn. Đây đều là sự linh cảm của Phật, Bồ Tát từ bi đặc biệt gia hộ, thật là thuốc đến bệnh tiêu, nếu không th́ đi không được rồi.

(Trích cuốn sách "Những Chuyện Niệm Phật Mắt Thấy Tai Nghe" - Tác giả: Nữ cư sĩ Lâm Khán Trị - Việt dịch: Thích Hoằng Chí).

florida80 10-08-2019 22:22

Phàm làm việc ǵ phải xét hậu quả

Thứ bảy, 05/10/2019 | 08:04










Một ngàn lượng vàng c̣n rẻ, nhờ bài học này mà quan Ngự y được hối ngộ, khỏi bị tội tử h́nh và tru di tam tộc, nhờ bài học này nước nhà khỏi mất, dân ta khỏi lầm than và cũng nhờ bài học này mà tánh mạng ta khỏi chết.


>>Tư liệu nghiên cứu

Ngày xưa, xưa lắm ở vùng Tân Cương có một nước tên gọi là Nhục Chi, có một đời sống kinh tế phồn thịnh, văn hoá tiến bộ. Kinh đô Nhục Chi nằm trên sườn núi lớn, cảnh trí rất đẹp, kiến trúc tân kỳ. Hoàng cung và đền đài nằm trên một vị trí cao nhất, rồi đến nhà cửa các bậc công hầu khanh tướng, phía dưới chân núi là nhà dân chúng và phố phường buôn bán tấp nập quanh năm.




Bài liên quan

Sát sinh và hậu quả dưới góc nh́n của Phật giáo

Đời sống an cư lập nghiệp, nhưng đức vua Đột Quyết hằng nhớ chuyện ngày xưa, v́ một phút nóng giận, đă giết chết quan Đề đốc Thanh Phong, làm cho nước nhà phải một phen điên đảo, suưt nữa cơ đồ bị sụp đổ. Mặc dù nhà vua đă ăn năn sám hối tội lỗi của ḿnh, nhưng từ hơn hai tháng nay vua Đột Quyết đau nặng. Vua Quư Lâm nước láng giềng, vô cùng mừng rỡ, hội triều thần để bàn mưu sang xâm lược nước Nhục Chi, nhưng các tướng vẫn c̣n kỷ niệm đau thương của sự thất bại lúc trước nên tỏ vẻ e dè. Do đó, quan Tể tướng mới kiếm kế mua chuộc quan ngự y Thái Ḥa bỏ thuốc độc cho vua Đột Quyết chết, rồi sẽ đem quân xâm chiếm sau.

Quan Tể tướng cho người thân tín, giả làm nhà buôn đem quế sang bán cho quan Ngự y và đưa thư thuyết phục vị Ngự y được vua Đột Quyết tin cẩn. Thái Hoà ban đầu c̣n do dự, nhưng khi được sứ giả của quan Tể tướng, đưa bức tranh vẽ chân dung của Công chúa nước Quư Lâm cho xem, th́ không c̣n đủ nghị lực từ chối. Cuối cùng, quan Ngự y đă nhận viên độc dược của sứ giả và hứa sẽ thi hành kế hoạch của quan Tể tướng nước Quư Lâm. Một tờ cam kết đă thảo ra giữa hai người, và mỗi người cất giữ một bản để làm tin.

Sứ giả đă trở về và quan Ngự y vào cung chế thuốc như mọi ngày, chỉ khác là hôm nay có mang theo viên thuốc độc trong chéo áo. Có một lúc quan Ngự y định ném viên thuốc qua cửa sổ, nhưng sực nhớ tờ cam kết c̣n trong tay sứ giả, nếu ḿnh không thi hành, th́ thế nào quan Tể tướng cũng trả thù bằng cách tiết lộ tờ cam kết ấy cho triều đ́nh nước Nhục Chi hay, th́ đă mất vợ đẹp, mất nửa giang sơn gấm vóc, mà lại c̣n bị tru di cả ba họ v́ tội mưu giết vua.

Nghĩ như vậy, quan Ngự y quyết cầm lấy viên độc dược trong chéo áo ra, lanh lẹ mở nắp nồi thuốc bỏ vào, quan thấy nhẹ nhơm trong người. Đợi đến giờ đem thuốc vào cho vua uống. Quan nh́n ra vườn thượng uyển, cảnh trí thật là đẹp, như ánh sáng mờ ảo của buổi hoàng hôn. Quan nghĩ thầm ta bây giờ là một quan Ngự y không quyền thế nhưng vài hôm nữa cung địên sẽ thuộc về ta, tất cả cung phi mỹ nữ sẽ ở dưới quyền sử dụng của ta, bọn đ́nh thần bấy lâu nay khinh nạt ta sẽ quỳ dưới chân ta. Thật không ngờ, vận mệnh con người thay đổi mau lẹ như vậy.


Bài liên quan

Người trẻ: Niềm tin vào bói toán và hậu quả nhận được

Lúc bảy giờ tối, một viên Thị vệ đến mời quan Ngự y đem thuốc vào cho vua uống. Quan Ngự y bảo viên Thị vệ lấy nồi thuốc đổ vào bát sạch, đặt vào khay vàng và bưng vào pḥng vua, c̣n ḿnh theo sau. Viên Thị vệ quỳ xuống hai tay đặt khay thuốc trên chiếc án trước long sàng, rồi lui ra. Quan Ngự y vái chào vua và đứng dưới chân giường đợi lệnh. Vua chỉ một chiếc ghế và bảo quan Ngự y ngồi xuống, vua đưa tay bảo:

- “Khanh xem mạch cho trẫm hôm nay có khác hơn mọi hôm không? Có thể cho trẫm biết độ bao giờ th́ hết bệnh, và nếu có mệnh hệ nào cũng đừng giấu trẫm làm chi, hăy để cho trẫm có thời giờ chuẩn bị”. Quan Ngự y đặt tay nhà vua lên một tấm lụa, rồi quỳ xuống bắt mạch. Vua cảm thấy mấy ngón tay của quan Ngự y run nhè nhẹ trên cổ tay ḿnh.

Ngài nh́n vào mặt quan Ngự y, và quan Ngự y có vẻ như muốn tránh nh́n ḿnh. Vua gợi chuyện hỏi han về thân thế gia đ́nh của Ngự y:

- Khanh năm nay bao nhiêu tuổi?

Vị Ngự y cung kính trả lời:

- Dạ, tâu hạ thần năm nay được năm mươi hai…

- Vậy là khanh thua trẫm hai tuổi. Chẳng mấy chốc mà đă qua nửa đời người rồi! nhiều khi trẫm ân hận là chưa làm ǵ được cho dân cho nước, mà đă sắp ĺa trần rồi! lúc ấy tay quan Ngự y run mạnh trên cổ tay của nhà vua.

Vua lại tiếp:

- Khanh ạ! Trẫm chưa muốn chết vội. Khanh hăy chữa cho trẫm mau lành bệnh nhé!

Quan Ngự y: “Dạ” một tiếng nhỏ. Khẽ cúi mặt nh́n xuống chén thuốc, để trên chiếc khay vàng, bỗng mắt vị Ngự y như bị thôi miên, v́ mấy chữ chạm trên chiếc khay và trên thành bát thuốc có ghi bài học ngàn vàng:

“PHÀM LÀM VIỆC G̀, TRƯỚC PHẢI XÉT KỸ ĐẾN HẬU QUẢ CỦA NÓ”.


Bài liên quan

Bài học đầu tiên của chú tiểu về chánh niệm

Vị Ngự y cảm thấy choáng váng, như đầu ḿnh bị đập vào tường. Mấy chữ vẫn nằm yên lặng ở đấy, mà quan Ngự y nghe như tiếng quở trách, đang vang dội vào tai, khắp nơi và cả trong ḷng ḿnh. Quan Ngự y tự hỏi: “Ta đang làm ǵ đây? Ta đang bỏ thuốc độc cho vua. Vua sẽ uống chén thuốc và sẽ chết trong vài giờ sau. Âm mưu giết vua thế nào cũng bị bại lộ. Ta sẽ bị quan đại thần bắt và chém đầu. Ḍng họ Thái và cả gia đ́nh ta chắc cũng không tránh khỏi án tử h́nh, và tiếng xấu sẽ lưu lại muôn đời. Ta làm một việc ác lớn lao chắc sẽ bị hậu quả vô cùng tai hại”.

Trong khi suy nghĩ như vậy, mấy ngón tay của quan Ngự y vẫn nằm yên trên cổ tay nhà vua. Vua vẫn để yên tay ḿnh ở dưới tay Ngự y, nhưng đôi mắt vẫn theo dơi, quan sát từng cử chỉ, từng hành động biến chuyển trên nét mặt suy tư của quan Ngự y. Hồi lâu vua cất giọng yếu ớt hỏi:

- Khanh xem mạch trẫm thấy có thế nào? Sắp nguy chưa?

Quan Ngự y như sực tỉnh và có vẻ bối rối, vội tâu:

- Tâu… Tâu Hoàng thượng… mạch rất tốt, rất tốt…

Vua mỉm cười héo hắt :

- Thế à! Trẫm cảm ơn khanh, bây giờ trẫm uống thuốc nhé! Vua vừa nói vừa ngồi dậy định bưng bát thuốc. Quan Ngự y hốt hoảng cản tay vua và vội nói:

- Xin Hoàng thượng hăy khoan!…

Vua ngạc nhiên hỏi:

- Sao vậy? Sao khanh lại không cho ta uống?

Quan Ngự y sụp xuống đất van lạy:

- Tâu Hoàng thượng, thần xin Hoàng thượng rộng lượng tha tội cho kẻ hạ thần, v́ bát thuốc có độc dược!

Nhà vua vô cùng kinh ngạc hỏi lại:

- Sao vậy? Khanh định giết trẫm thật sao?

- Muôn tâu Hoàng thượng, hạ thần đă bị vô minh và dục vọng làm mờ ám lương tâm, nhưng nay chợt tỉnh khi nh́n thấy “bài học ngàn vàng” khắc trên khay và trên miệng bát thuốc, nên hạ thần đă hồi tỉnh. Quan Ngự y vội quỳ xuống tâu:

- Tội hạ thần đáng chết, xin Hoàng thượng hăy truyền lệnh hạ ngục đi!

Vua trầm ngâm suy nghĩ một hồi lâu rồi từ tốn phán:

- Thật quả khanh tội đáng chết, nhưng khanh đă hối hận và ăn năn kịp thời, trước khi hành động xảy ra, nên trẫm niệm t́nh mà tha tội chết cho khanh. Từ nay về sau, phải hết ḷng tận trung với trẫm!

Quan Ngự y mừng rỡ dập đầu vái lạy và quỳ bên chân nhà vua, vô cùng cảm động không cầm được nước mắt.


Bài liên quan

Hàng trăm trường học tại Anh quốc triển khai thử nghiệm Thiền Chánh niệm

Lúc ấy, bệnh t́nh của vua tự nhiên thuyên giảm, mồ hôi Ngài thoát ra, ướt cả long bào, và cảm thấy trong người nhẹ nhơm, nhà vua mừng quá, tự bảo: “Bài học này quư lắm. Một ngàn lượng vàng c̣n rẻ, nhờ bài học này mà quan Ngự y được hối ngộ, khỏi bị tội tử h́nh và tru di tam tộc, nhờ bài học này nước nhà khỏi mất, dân ta khỏi lầm than và cũng nhờ bài học này mà tánh mạng ta khỏi chết. Thật là:

- “BÀI HỌC NGÀN VÀNG”.

Nhờ sự vui mừng đó, nên tâm hồn vua phấn khởi, khoan khoái mà bệnh Ngài dần dần thuyên giảm.

florida80 10-08-2019 22:23

'Đệ nhất thần đồng' t́m lối thoát nơi cửa Phật

Thứ ba, 08/10/2019 | 06:38










Vào đại học năm 13 tuổi, sau hơn 20 năm, Ninh Bạc đă t́m đến cửa Phật để thoát khỏi ám ảnh bởi hai chữ “thần đồng”.


>>Phật tử có thể đọc thêm loạt bài về xuất gia

Năm 1977, giáo viên Nghê Lâm, đến từ Đại học khoa học và công nghệ Giang Tây viết một lá thư 10 trang gửi đến Phó Thủ tướng Trung Quốc bấy giờ là Phương Nghị giới thiệu và tiến cử một học sinh có tên Ninh Bạc, năm đó 9 tuổi, đến từ thành phố Cám Châu, tỉnh Giang Tây.

Ninh Bạc ngày c̣n nhỏ. Ảnh: Sina.

Ninh Bạc ngày c̣n nhỏ. Ảnh: Sina.


Bài liên quan

Thần đồng Phật pháp Việt Nam kể chuyện từ…ba kiếp trước

Trong thư, thầy giáo Nghê Lâm lược kể thành tích của cậu bé Ninh Bạc "2 tuổi rưỡi đă thuộc hơn 30 bài thơ. 3 tuổi đếm được đến 100, 4 tuổi học hơn 400 kư tự tiếng Hán, 5 tuổi bắt đầu đi học. 6 tuổi Ninh Bạc đă bốc thuốc Đông y để chữa bệnh. 8 tuổi nằm ḷng chuyện Thủy Hử...".

Nhận thư tiến cử, Phó thủ tướng Phương Nghị đề nghị đưa Ninh Bạc vào danh sách "lớp học thần đồng" khóa đầu tiên của Đại học Khoa học và Công nghệ tỉnh An Huy. Lớp học này có 21 học sinh nổi trội được lựa chọn khắp Trung Quốc.

Năm 1978, trong một lần đến An Huy để tham dự Hội nghị Khoa học toàn quốc, ông Phương Nghị đă đến trường gặp Ninh Bạc. Tại đây, cậu bé 10 tuổi đă chơi 2 ván cờ vây với phó thủ tướng và thắng cả hai. Từ đây cái tên Ninh Bạc gắn liền với hai chữ "thần đồng" trở thành một hiện tượng phủ khắp các mặt báo, đài tại Trung Quốc.

Ninh Bạc chơi cờ vây với phó thủ tướng Trung Quốc Phương Nghị. Ảnh: Sina.

Ninh Bạc chơi cờ vây với phó thủ tướng Trung Quốc Phương Nghị. Ảnh: Sina.

Sau một năm học đại cương, sang năm thứ 2, Ninh Bạc nói với giáo viên chủ nhiệm rằng cậu không có hứng thú với khoa học và công nghệ. "Em muốn đến Nam Kinh để học thiên văn học", Ninh Bạc nói. Nguyên vọng này của cậu bị nhà trường từ chối với lư do: "Em là tấm gương cho thanh thiếu niên trong nước. Hăy ngoan ngoăn và là tấm gương thật tốt cho mọi người noi theo". Sau đó, Ninh Bạc tiếp tục ở lại trường để theo học vật lư. Theo báo cáo kết quả học năm đó th́ "Ninh Bạc có điểm số thất thường, nhiều môn không qua, tính khí không ổn định".


Bài liên quan

Ngộ Đạt Quốc sư thời Đường qua 10 kiếp vẫn bị báo ứng

"Nhưng anh ấy là một người rất thông minh. Giáo viên giảng bài trong lớp, Ninh Bạc chẳng thấy ghi chép ǵ, anh ấy chỉ ngồi nghe. Sau khi giáo viên kết thúc bài, Ninh Bạc có thể nói lại được tất cả những kiến thức vừa được nghe. Trí nhớ của anh ấy thực sự rất khủng khiếp. Điểm số chẳng nói được điều ǵ", Vương Ngọc, một sinh viên cùng khóa, cũng là bạn học của Ninh Bạc chia sẻ.

Người bạn này cũng cho hay, Ninh Bạc hay tâm sự về sự chú ư thái quá của giới truyền thông khiến anh cảm thấy áp lực và mệt mỏi. "Tại sao tôi không là một người b́nh thường. Tôi thật hối hận khi đến học tập tại cái lớp thần đồng này", Vương Ngọc nhắc lại những chia sẻ của người bạn. Với thế giới bên ngoài, Ninh Bạc vẫn luôn tỏ ra là một sinh viên ngoan ngoăn.

Năm 1982, Ninh Bạc tốt nghiệp đại học và được giữ lại trường giảng dạy, báo chí Trung Quốc gọi anh với cái tên "giảng viên trẻ nhất Trung Quốc" - 17 tuổi. Cùng năm, Ninh Bạc ghi danh học nghiên cứu sinh, nhưng rồi anh đă bỏ thi giữa chừng. Năm 1983, Ninh Bạc tiếp tục ghi danh nhưng lại bỏ cuộc.

Năm 1984, chàng trai này đă bước đến cửa pḥng thi nhưng rồi giám thị chẳng thấy đâu, khi đi t́m th́ thấy anh đang trốn ở phía sau cửa kư túc xá. Giám thị này túm lấy cổ áo Ninh Bạc bắt làm bài thi, anh nói nếu tiếp tục ép buộc anh sẽ nhảy xuống đất.

"Ninh Bạc muốn chứng minh với mọi người rằng, không phải làm tiến sĩ mới đạt được thành công. Đó mới là thần đồng thực sự", Vương Ngọc nói về người bạn của ḿnh. Trong khi đó, những sinh viên khác lại đánh giá rằng Ninh Bạc sợ thất bại. "Ninh Bạc có ḷng tự trọng cực độ nhưng lại cũng tự ti cực độ", một bạn học cũ của Ninh Bạc nhận xét.

Ninh Bạc đă xuất gia vào nơi cửa Phật. Ảnh: Sina.

Ninh Bạc đă xuất gia vào nơi cửa Phật. Ảnh: Sina.

Phản bác lại, Vương Ngọc cho hay, Ninh Bạc bỏ thi v́ chỉ đau đáu một tâm niệm được là người b́nh thường. "Tại sao tôi phải làm nghiên cứu sinh giống như bạn bè. Tôi muốn là người b́nh thường, tại sao tôi không được trở thành người b́nh thường", chàng thanh niên bày tỏ với bạn.

Vào những 1990, Ninh Bạc trở nên cô độc trong môi trường làm việc của ḿnh, anh suốt ngày vùi đầu trong pḥng thí nghiệm. Vương Ngọc lúc này giới thiệu bạn gái cho Ninh Bạc, một cô gái tên Lục Hoa Nhân rất dịu dàng và hiền thục. Vài năm sau, Ninh Bạc và Lục Hoa Nhân kết hôn.


Bài liên quan

Nữ diễn viên, người mẫu, ca sĩ Soe pyae thazin (Myanmar) xuất gia

Kết hôn không lâu, Ninh Bạc bắt đầu ăn chay và nảy sinh mâu thuẫn với vợ. Đặc biệt khi có con, anh phản đối việc dạy con kiểu nhồi nhét, mong thành "thần đồng" của vợ. Năm 1993, sau một trận căi vă, Ninh Bạc bỏ nhà đi nửa tháng mới trở về. Hai năm sau, anh quyết định đến Hải Nam sinh sống một ḿnh và xuất gia vào năm 2002. Sau này trong một cuộc tṛ chuyện với bạn, Ninh Bạc xác nhận đă ly hôn với Lục Hoa Nhân từ lâu.

Nhiều năm xuất gia, Ninh Bạc không liên lạc với bạn bè. Gần đây anh có gặp lại người bạn Vương Ngọc năm xưa và cả hai vẫn cùng đi hát karaoke: "Anh ấy hát vẫn rất hay", Vương Ngọc cười nói.

Hiện Ninh Bạc giảng Phật pháp tại một học viện phật giáo tại đảo Hải Nam. Trả lời trong một buổi phỏng vấn, "đệ nhất thần đồng" năm xưa cho biết: "Tôi đă nghiên cứu Phật pháp để giải quyết những ưu tư trong đời sống cá nhân ḿnh. Đó là những điều tôi phải chịu đựng suốt những năm tháng tuổi trẻ, và phải mất nhiều năm mới t́m ra câu trả lời".

florida80 10-08-2019 22:24

Lời Phật dạy về t́nh yêu thương qua 6 điều cần khắc cốt ghi tâm

Thứ bảy, 05/10/2019 | 10:08










Phật dạy rằng, tất thảy những ǵ trên đời này đều là phù du, khi mất đi chỉ có t́nh yêu thương lẫn nhau mới là thứ c̣n lại cuối cùng. Trong đạo Phật, từ bi gắn liền với trí tuệ. Không hiểu, không thể thương yêu. Không hiểu, không thể thương yêu đích thực. Hiểu chính là nền tảng của t́nh thương yêu.


>>Phật tử có thể đọc thêm loạt bài về Lời Phật dạy

Mỗi người có những nỗi niềm, những khổ đau, bức xúc riêng, nếu không hiểu, sẽ không thương mà giận hờn, trách móc. Không hiểu, t́nh thương của ḿnh sẽ làm người khác ngột ngạt, khổ đau. Không hiểu, sẽ làm người ḿnh thương đau khổ suốt đời.


Bài liên quan

Bí quyết hạnh phúc theo lời dạy của Thiền sư Thích Nhất Hạnh

Nhân danh t́nh thương, người ta làm khổ nhau. Chuyện đó vẫn thường xảy ra.

Đạo Phật nói cuộc đời là biển khổ mênh mông không có ngày thôi dứt, v́ nhân loại lúc nào cũng đấu tranh giành giựt, chiếm đoạt tài nguyên thiên nhiên để rồi giết hại lẫn nhau, lớn hiếp nhỏ, mạnh hiếp yếu. Con người đau khổ bởi sinh già bệnh chết, tâm đau khổ v́ phiền năo tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến.

Thế nhưng, người ta cứ đấu tranh với nhau làm ǵ, khi mà lúc ra đi, tay trắng hoàn tay trắng, thân thể cũng trở thành cát bụi.

Theo lời Phật dạy th́ cuộc đời vốn chỉ là phù du, hạnh phúc đến rồi đi như cơn gió thoảng qua, điều c̣n lưu lại nơi trần thế măi là t́nh yêu thương bao la, hơi ấm của t́nh người.

Theo lời Phật dạy th́ cuộc đời vốn chỉ là phù du, hạnh phúc đến rồi đi như cơn gió thoảng qua, điều c̣n lưu lại nơi trần thế măi là t́nh yêu thương bao la, hơi ấm của t́nh người.

Theo lời Phật dạy th́ cuộc đời vốn chỉ là phù du, hạnh phúc đến rồi đi như cơn gió thoảng qua, điều c̣n lưu lại nơi trần thế măi là t́nh yêu thương bao la, hơi ấm của t́nh người.

Dưới đây là 6 điều phải nhớ về t́nh yêu thương Phật dạy:

1. Nếu thật sự yêu bản thân ḿnh, bạn sẽ không bao giờ làm tổn thương người khác

Bước đầu tiên trong hành tŕnh t́m kiếm t́nh yêu thật sự là bạn cần tự yêu lấy bản thân ḿnh. Khi đó, bạn tạo ra nền tảng vững chắc cho mối quan hệ lâu dài, trải ḷng với nửa kia để họ có thể hiểu bạn một cách sâu sắc.

Khi biết yêu bản thân, bạn dễ dàng cảm nhận được t́nh yêu thương của những người xung quanh dành cho ḿnh. Bởi v́, tất cả chúng ta đều có sự gắn kết vô h́nh, về mặt tâm linh, chúng ta là một.

2. Sự b́nh yên đến từ tâm mỗi người. Bạn cần phải đi t́m đâu xa cả

Đời là bể khổ, mọi thứ trên đời chỉ là phù du, hạnh phúc đến rồi đi như một cơn gió thoảng qua. Hạnh phúc thật sự là do chính bạn cảm nhận. Bạn không cần phải t́m kiếm xa xôi, sự yên b́nh luôn ở trong tâm ta, chỉ cần ta cảm thấy hạnh phúc là đủ.

3. Hăy yêu cả thế giới như t́nh yêu của người mẹ dành cho con ḿnh

Khi đó, mỗi người sẽ mở rộng ḷng ḿnh, trao đi sự yêu thương và luôn sẵn ḷng giúp đỡ người khác, thế giới sẽ thực sự khác biệt và trở nên tươi đẹp hơn bao giờ hết.

Khi đó, mỗi người sẽ mở rộng ḷng ḿnh, trao đi sự yêu thương và luôn sẵn ḷng giúp đỡ người khác, thế giới sẽ thực sự khác biệt và trở nên tươi đẹp hơn bao giờ hết.

T́nh yêu thương không giới hạn trong số bạn bè, người thân, nó c̣n là t́nh người, t́nh nhân loại.

Đa phần trong chúng ta cho rằng gia đ́nh là điều duy nhất mà mỗi người cần dành thời gian và nỗ lực để vun vén, chăm sóc. Điều ǵ sẽ xảy ra nếu chúng ta coi cả thế giới như là gia đ́nh của ḿnh? Khi đó, mỗi người sẽ mở rộng ḷng ḿnh, trao đi sự yêu thương và luôn sẵn ḷng giúp đỡ người khác, thế giới sẽ thực sự khác biệt và trở nên tươi đẹp hơn bao giờ hết.

4. Nói lời tốt đẹp, cuộc đời sáng tươi. Lời lẽ cay độc, ác nghiệp để đời

Những lời nói tưởng như vô ư nhưng lại khiến mọi người xung quanh tổn thương, thậm chí có thể gây ra sự đổ vỡ trong các mối quan hệ. Hà cớ chi phải dùng lời cay độc để lưu ác nghiệp cho đời sau. “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa ḷng nhau”, hăy nói lời tốt đẹp để cuộc đời măi sáng tươi.

5. Thù hận không thể kết thúc nếu tiếp tục hận thù. Nó chỉ kết thúc khi t́nh yêu xuất hiện

Những lời Phật dạy về t́nh yêu thương trên đời không ở đâu xa, trong chính bản thân mỗi người, hăy suy ngẫm và làm theo để cuộc đời ngày càng tươi sáng, thế giới thêm ḥa b́nh, thịnh vượng.

Những lời Phật dạy về t́nh yêu thương trên đời không ở đâu xa, trong chính bản thân mỗi người, hăy suy ngẫm và làm theo để cuộc đời ngày càng tươi sáng, thế giới thêm ḥa b́nh, thịnh vượng.

Bạn đă từng bị người khác làm tổn thương? Bạn có phản ứng ǵ? Ghi hận trong ḷng và t́m cơ hội “trả đũa” hay lựa chọn tha thứ?

Tha thứ không chỉ giúp duy tŕ mối quan hệ mà c̣n khiến đối phương hiểu rằng luôn có một cách khả thi để giải quyết vấn đề, nó phụ thuộc vào sự lựa chọn của bạn.

6. Hạnh phúc không bao giờ đến với người không biết quư trọng những ǵ ḿnh có


Bài liên quan

Lời Phật dạy về t́nh yêu và t́nh dục

Con người có ḷng tham vô đáy, ai nấy đều sống thật nhanh, thật gấp để đi t́m và chinh phục những thứ xa vời, mông lung mà không biết quư trọng những ǵ ḿnh đang có, đang hiện hữu ở hiện tại.

Hạnh phúc đâu xa vời như vậy, nó sẽ sớm gơ cửa nhà bạn nếu bạn thực sự biết trân trọng những ǵ ḿnh có.

Những lời Phật dạy về t́nh yêu thương trên đời không ở đâu xa, trong chính bản thân mỗi người, hăy suy ngẫm và làm theo để cuộc đời ngày càng tươi sáng, thế giới thêm ḥa b́nh, thịnh vượng.


All times are GMT. The time now is 12:47.

VietBF - Vietnamese Best Forum Copyright ©2005 - 2026
User Alert System provided by Advanced User Tagging (Pro) - vBulletin Mods & Addons Copyright © 2026 DragonByte Technologies Ltd.

Page generated in 0.15096 seconds with 9 queries